December 4, 2022

21        Cuối thời gian thỉnh viện [ngày 29 tháng 4 năm 1926] – các bề trên [có lẽ là Mẹ Leonard và Mẹ Jane [9]] gởi tôi đến tập viện tại Cracow. Một niềm vui mênh mang dạt dào linh hồn tôi. Khi chúng tôi đến tập viện, chị ấy [Henry [10]] đang hấp hối. Một vài hôm sau, chị hiện về [linh hồn, sau khi qua đời] và bảo tôi đến gặp Mẹ Giám Tập [Margaret [11]] để nhờ Mẹ thỉnh cầu vị giải tội của chị là cha Rospond [12] dâng một thánh lễ và ba lời nguyện tắt để cầu cho chị. Ban đầu tôi đồng ý, nhưng hôm sau, tôi quyết định không đến gặp Mẹ Giám Tập nữa bởi vì không dám chắc điều ấy là thực tế (8) hoặc chỉ là giấc mơ. Và vì thế, tôi không đi.

            Đêm hôm sau, điều ấy lại xảy ra rõ ràng hơn; tôi không còn nghi ngờ gì nữa. Tuy nhiên, đến sáng, tôi lại quyết định không kể cho Mẹ Giám Tập, trừ phi tôi được thấy chị [Henry] trong ngày. Một lần nữa, tôi lại gặp chị tại hành lang. Chị trách tôi đã không đi lập tức, và một sự day dứt đay nghiến linh hồn tôi. Thế là tôi liền đi gặp và kể cho Mẹ Giám Tập tất cả những gì đã xảy ra. Mẹ cho biết sẽ lưu tâm đến chuyện ấy. Tức khắc, niềm bình an dào dạt linh hồn tôi, và đến ngày thứ ba, chị ấy lại đến gặp tôi và nói: “Xin Chúa trả công cho chị”.

22        Ngày tôi được mặc áo [dòng] [13], Thiên Chúa đã cho tôi biết sẽ phải chịu nhiều đau khổ. Tôi thấy rõ tôi đang hiến thân cho điều gì. Tôi đã trải nghiệm một giây phút của nỗi đau đớn ấy. Nhưng lúc đó, Thiên Chúa lại trào đổ cho linh hồn tôi những niềm ủi an vô bờ.

23        Gần hết năm đầu trong thời gian tập viện, bóng tối đã bắt đầu bao phủ linh hồn tôi. Tôi không còn cảm thấy ủi an trong lúc cầu nguyện; và phải hết sức cố gắng để nguyện gẫm; nỗi sợ hãi bắt đầu xâm chiếm tôi. Càng đi sâu vào bản thân, tôi chỉ thấy toàn những khốn nạn thê thảm. Nhưng tôi cũng thấy rõ ràng sự thánh thiện cao vời của Thiên Chúa. Tôi không dám ngước mắt chiêm ngắm Người, nhưng sấp mình tận cát bụi dưới chân Người và khẩn nài Lòng Thương Xót. Linh hồn tôi sống trong tình trạng ấy gần sáu tháng trời. Mẹ Giám Tập quý yêu của chúng tôi [Mary Joseph [14]] đã đem đến cho tôi sự can đảm trong những thời gian não nề ấy. Nhưng nỗi đau càng ngày càng tê tái.

            Năm thứ hai trong thời gian tập viện của tôi gần đến. Mỗi khi nghĩ đến việc tuyên giữ các lời khấn, linh hồn tôi run giùng. Tôi không hiểu mình đang đọc gì; tôi không thể nguyện gẫm; dường như những kinh nguyện của tôi không làm cho Chúa thoả lòng. Việc lãnh thụ các nhiệm tích của tôi hình như chỉ xúc phạm nhiều hơn đến Thiên Chúa mà thôi. Nhưng dù vậy, cha giải tội [Theodore [15]] vẫn không cho tôi bỏ rước lễ một lần nào. Thiên Chúa đang hoạt động một cách hết sức lạ kỳ trong linh hồn tôi. Tôi không hiểu gì về những điều cha giải tội chỉ dạy. Những chân lý đức tin giản đơn cũng trở nên không sao hiểu nổi đối với tôi. Linh hồn tôi trong cảnh phiền muộn, không tìm đâu được niềm an ủi.

            (9) Và rồi đến tình trạng tôi yên trí mình đã bị Thiên Chúa ruồng bỏ. Tư tưởng khủng khiếp này xuyên thấu linh hồn tôi; giữa cơn thống khổ ấy, linh hồn tôi bắt đầu cảm nghiệm nỗi tang tóc sự chết. Tôi đã muốn chết cho xong mà không sao chết được. Một tư tưởng lởn vởn đến với tôi: cố gắng tập tành các nhân đức để làm gì; tại sao lại phải khổ chế bản thân trong khi mọi sự đều gớm ghiếc trước mặt Chúa? Khi trình bày điều này với Mẹ Giám Tập, tôi đã được trả lời thế này, “Chị yêu quý, chị hãy biết Thiên Chúa đã tuyển chọn chị để sống mật thiết với Người trên thiên đàng. Chị hãy hết lòng tín thác vào Chúa Giêsu”.

            Nghĩ đến việc bị Thiên Chúa ruồng bỏ là một cực hình thực sự kinh hoàng đối với những người bị đoạ phạt. Tôi chạy đến với các thương tích Chúa Giêsu và lặp đi lặp lại những lời tín thác, nhưng những lời này đối với tôi lại trở thành một cực hình phũ phàng hơn nữa. Tôi đến với Thánh Thể và ngỏ lời với Chúa Giêsu: “Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã phán rằng, người mẹ không quên được đứa con nhỏ của bà, Chúa cũng không bao giờ quên thụ tạo của Chúa và ‘cho dù người mẹ có quên con bà đi nữa, thì Ta, Thiên Chúa, cũng không bao giờ quên được thụ tạo của Ta’. Lạy Chúa Giêsu, Chúa có nghe lời rên xiết của linh hồn con không? Xin đoái nghe những lời than van đớn đau của đứa con nhỏ của Chúa. Lạy Chúa, con tín thác nơi Chúa bởi vì trời đất có thể qua đi, nhưng lời Chúa phán sẽ vững bền mãi mãi”. Tuy vậy, tôi vẫn không tìm được một giây phút khuây khoả.

24        Một ngày kia, ngay khi vừa tỉnh giấc và đang đặt mình trước sự hiện diện của Chúa, tôi bỗng bị đè bẹp dưới nỗi ê chề. Bóng tối tràn ngập linh hồn tôi. Tôi đã ráng sức chiến đấu cho đến trưa. Đến chiều, những nỗi hãi hùng kinh hoàng bắt đầu xâm chiếm tôi; sức lực thân xác tôi cũng bắt đầu lìa bỏ tôi. Tôi đi nhanh về phòng, quỳ gối trước tượng Chuộc Tội và cất tiếng kêu xin Chúa thương xót. Nhưng Chúa Giêsu không đoái hoài đến những lời than khóc của tôi. Tôi cảm thấy sức lực đã cạn kiệt hoàn toàn. Tôi sấp mình xuống đất, nỗi thất vọng tràn ngập tất cả linh hồn tôi. Tôi đã chịu những cơn cực hình khủng khiếp không khác gì những cực hình hoả ngục. Tôi phải ở trong thảm trạng ấy suốt ba khắc đồng hồ. Tôi muốn đi gặp Mẹ Giám Tập, nhưng quá rã rời. Tôi muốn hét lên nhưng không sao thành tiếng. May mắn thay, một chị [tập sinh khác, chị Placida Putyra] đi vào phòng của tôi. Thấy tôi trong tình trạng kỳ lạ ấy, chị lập tức cho Mẹ Giám Tập biết. Và Mẹ đến lập tức. Vừa bước vào phòng tôi, Mẹ đã lên tiếng: “Nhân danh đức vâng lời, [16] chị hãy chỗi dậy khỏi mặt đất”. Lập tức có một năng lực nâng tôi dậy và tôi đứng sát bên Mẹ Giám Tập. (10) Với những lời dịu dàng, Mẹ bắt đầu giải thích cho tôi đây là một thử thách Chúa gởi đến, Mẹ nói: “Chị hãy hết lòng tín thác; Thiên Chúa lúc nào cũng là Cha chúng ta, kể cả khi Người gởi thử thách đến cho chúng ta”.

            Trở về với những nhiệm vụ của mình, tôi như vừa ra khỏi phần mộ, các giác quan tràn ngập những điều linh hồn tôi đã trải nghiệm. Trong giờ kinh Chiều, linh hồn tôi bắt đầu quằn quại giữa tối tăm kinh khủng. Tôi thấy mình ở dưới quyền lực của Thiên Chúa Công Thẳng, còn tôi là đối tượng cơn nghĩa nộ của Người. Trong những giờ phút kinh hoàng ấy, tôi đã thưa lên cùng Thiên Chúa: “Lạy Chúa Giêsu, trong Phúc Âm Chúa đã tự ví như một người mẹ rất dịu hiền, [17] con tín thác vào Lời Chúa, vì Chúa là Chân Lý và là Sự Sống. Lạy Chúa Giêsu, dù thế nào đi nữa, con vẫn tín thác nơi Chúa, bất chấp mọi cảm giác nội tâm chống lại niềm cậy trông. Xin hãy thực hiện những gì Chúa muốn về con; con sẽ không bao giờ bỏ Chúa, vì Chúa là nguồn mạch sức sống của con”. Chỉ những ai đã từng trải qua những giờ phút tương tự mới có thể hiểu được nỗi khốn cực ấy của linh hồn khủng khiếp như thế nào.

25        Đêm hôm đó, Mẹ Thiên Chúa đến thăm tôi, Mẹ bồng Chúa Giêsu Hài Nhi trên tay. Linh hồn tôi tràn ngập niềm vui, và tôi thưa: “Lạy Mẹ Maria, Hiền Mẫu của con, Mẹ có biết con phải đau khổ kinh khủng thế nào không?”. Và Mẹ Thiên Chúa trả lời: Mẹ biết con đau khổ nhiều, nhưng con đừng sợ hãi. Mẹ chia sẻ nỗi khổ đau của con, và Mẹ sẽ luôn làm như thế. Mẹ mỉm cười thân ái rồi biến đi. Lập tức, một nguồn sức mạnh và can đảm lớn lao lại bùng dậy trong linh hồn tôi; nhưng việc đó cũng kéo dài được một ngày. Dường như hoả ngục đã dấy mưu chống lại tôi. Một sự thù ghét kinh khủng bắt đầu bộc phát trong linh hồn tôi, căm ghét tất cả những gì là thánh thiện và thuộc về Chúa. Dường như những cực hình tinh thần này sẽ là kiếp phận suốt quãng đời còn lại của tôi. Tôi hướng về Thánh Thể và thưa cùng Chúa: “Lạy Chúa Giêsu, Tình Quân của con, Chúa không thấy linh hồn con đang hao mòn vì khao khát Chúa hay sao? Sao Chúa nỡ ẩn mặt với một con tim thành tâm mến Chúa như vậy? Lạy Chúa Giêsu, xin tha thứ cho con; nguyện thánh ý Chúa được thực hiện nơi con. Con sẽ chịu đau khổ lặng thinh như một chú chim câu, không lời thở than. Con sẽ không để cho lòng mình thốt ra dù một lời than van não nề”.

26        Cuối năm tập. Đau khổ không dịu bớt. Tình trạng suy nhược thể lý miễn chước cho tôi tất cả những việc thiêng liêng [chung với cộng đoàn]; tức là chúng sẽ được bù lại bằng những lời than thở vắn tắt. Thứ Sáu tuần Thánh [ngày 16 tháng 4 năm 1928] – Chúa Giêsu làm trái tim tôi bừng cháy trong ngọn lửa tình yêu của Người. Điều này xảy ra trong giờ chầu tối. Bỗng nhiên, sự Hiện Diện Thần Linh xâm chiếm tôi và làm tôi quên hết mọi sự. Chúa Giêsu cho tôi hiểu biết Người đã chịu đau khổ cho tôi như thế nào. (11) Việc này xảy ra rất nhanh. Một niềm khao khát mãnh liệt – một niềm thao thức yêu mến Chúa.

27        Hạn thệ lần đầu [tuyên lời khấn tạm lần đầu tiên, ngày 30 tháng 4 năm 1928]. Một ước vọng muốn huỷ mình vì Chúa với một tình yêu tích cực, nhưng là một tình yêu không ai nhận thấy, ngay cả những chị em gần gũi nhất với tôi.

            Tuy nhiên, sau khi tuyên khấn, cảnh tối tăm vẫn tiếp tục ngự trị trong linh hồn tôi gần một nửa năm nữa. Một lần nọ, khi tôi đang cầu nguyện, Chúa Giêsu đoạt chiếm toàn thể linh hồn tôi, bóng tối tan biến, và tôi nghe được trong mình những lời sau đây: Con là niềm vui của Cha; con là hoan lạc của Cha. Từ lúc đó, tôi cảm nhận được Thiên Chúa Ba Ngôi trong tâm hồn; tức là ở trong tôi. Tôi cảm thấy được ngập lút trong ánh sáng Thần Linh. Cũng từ đó, linh hồn tôi được ở trong sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, như một con trẻ với người cha yêu quý của mình.

28        Một lần nọ, Chúa Giêsu truyền cho tôi, Con hãy đến với Mẹ Bề Trên [có lẽ là Mẹ Raphael [18]] và xin Mẹ cho con mặc áo nhặm bảy ngày, mỗi đêm một lần con hãy chỗi dậy và lên nhà nguyện. Tôi thưa vâng, nhưng lúc phải đi gặp Mẹ Bề Trên, tôi nhận thấy khó khăn thực sự. Tối hôm đó, Chúa Giêsu hỏi, Con sẽ trì hoãn bao lâu đây? Tôi quyết tâm sẽ thưa Mẹ Bề Trên ngay lần gặp Mẹ liền sau đó.

            Ngày hôm sau, gần đến giờ ngọ, tôi thấy Mẹ Bề Trên đi về phía nhà ăn, và bởi vì nhà bếp, nhà ăn, và gian phòng nhỏ bé của chị Aloysia ở gần nhau, nên tôi mời Mẹ vào phòng của chị Aloysia và thưa với Mẹ về ý muốn của Chúa Giêsu. Lúc ấy, Mẹ trả lời: “Tôi không cho chị mặc áo nhặm nào cả. Tuyệt đối không! Nếu Chúa Giêsu ban cho chị sức khoẻ như một người lực lưỡng, thì khi đó tôi mới cho phép chị thực hành những việc khổ chế ấy”.

            Tôi xin lỗi vì đã làm mất thời giờ của Mẹ rồi rời gian phòng. Vào lúc đó, tôi nhìn thấy Chúa Giêsu đang đứng tại cửa phòng ăn nên thưa với Người: “Chúa truyền con xin phép thực hiện những việc khổ chế này, nhưng Mẹ Bề Trên lại không ban phép”. Chúa Giêsu đáp: Cha ở đây trong lúc con thưa chuyện với Bề Trên và đã biết tất cả. Cha không đòi con phải thực hành khổ chế, nhưng là phải vâng lời. Bằng sự vâng lời, con dâng lên một vinh quang lớn lao cho Cha và lập công phúc cho chính con.

29        Khi nghe biết về mối tương giao thân mật giữa tôi với Chúa Giêsu, một vị bề trên [có lẽ Mẹ Jane] đã xác quyết là tôi đang lừa dối mình. Mẹ cho tôi biết Chúa Giêsu chỉ tương giao thân mật như thế với các vị thánh, chứ không phải với hạng tội lỗi “giống như chị đâu, chị à!” (12) Sau đó, tôi dường như không còn tín nhiệm vào Chúa Giêsu. Trong một lần chuyện vãn với Chúa vào buổi sáng, tôi thưa với Người: “Lạy Chúa Giêsu, Chúa có phải là ảo tưởng hay không?”. Chúa Giêsu đã trả lời: Tình yêu của Cha không lừa dối ai.

30        + Vào một dịp kia, khi đang suy ngắm về Chúa Ba Ngôi, về yếu tính của Thiên Chúa, tôi thực lòng muốn biết và thấu hiểu Thiên Chúa là Đấng nào… Bỗng nhiên, linh hồn tôi được cất lên như thể sang thế giới bên kia. Tôi nhìn thấy một vầng sáng không sao đến gần được, và trong ánh sáng đó, xuất hiện như ba nguồn sáng mà tôi không thể hiểu. Và từ ánh sáng ấy phát ra những lời dưới dạng sấm chớp bao phủ cả trời đất. Tôi cảm thấy rất buồn vì không hiểu gì cả. Bỗng nhiên, Chúa Cứu Thế vô cùng khả ái của chúng ta từ trong biển ánh sáng không thể đến gần ấy bước ra, tuyệt vời khôn tả với những thương tích ngời sáng của Người. Và từ ánh sáng ấy phát ra lời: Thiên Chúa là Đấng Tự Hữu Tự Yếu Tính, không ai dò thấu được Người, dù là tâm trí thiên thần hay nhân loại. Chúa Giêsu phán với tôi: Con hãy nhận biết Thiên Chúa bằng cách chiêm ngắm các ưu phẩm của Người. Một lúc sau, Chúa giơ tay ban phép lành rồi biến đi.