“Bốn mùa sẽ bị thay đổi. Trái đất sẽ chỉ sinh ra những hoa mầu hư xấu. Các tinh tú sẽ mất đi sự vận hành bình thường. Mặt trăng sẽ chỉ tỏa ra ánh sáng đỏ úa.”
“Địa cầu sẽ bị bao phủ bởi nước và lửa, bị chấn động vì những trận động đất kinh hoàng nuốt đi những núi đồi, những thành thị … Những quái vật không gian … sẽ tạo ra những lạ lùng kinh hoàng trên mặt đất, nơi bầu khí quyển, và nhân loại sẽ ngày ngày càng hư hỏng đồi trụy.”
“Khốn thay những người sống trên mặt đất! Sẽ có những trận chiến đẫm máu và đói khát, bệnh dịch và truyền nhiễm … Người ta sẽ đập đầu vào tường, đòi chết, và sự chết sẽ là nguồn thống khổ của họ.”
“Sẽ có những trận bão tố làm rúng động các thành thị, những trận động đất làm sụp đổ nhiều quốc gia … mặt trời sẽ tối đi … vực thẳm mở rộng thêm …”
“Ai sẽ đứng vững nếu Thiên Chúa không rút ngắn thời gian thử thách?
… Và khi đó nước và lửa sẽ tẩy sạch địa cầu và tiêu hủy mọi công trình kiêu ngạo của loài người (sau đó) mọi thứ sẽ được đổi mới. Thiên Chúa sẽ được phụng thờ và tôn vinh.”
Tin Đức Mẹ hiện ra tại La Salette đã được mau chóng loan truyền khắp Nước Pháp, và trung tuần tháng 10, 1846, phần đầu của thông điệp đã được in để phổ biến.
Các lời Đức Mẹ loan báo trong phần đầu thông điệp đã xảy ra vào những ngày cuối tháng 12, 1846. Những xáo trộn chính trị, kinh tế, mất mùa đói khát, bệnh dịch, đã xảy ra ảnh hưởng hầu hết mọi người khắp Nước Pháp. Vào những ngày cuối năm 1846, khoai thối từ dưới đất, bắp bị hư, những thứ này chỉ có thể cho súc vật ăn, nhưng súc vật đã lăn ra chết vì ăn các thứ đó. Kế đến mùa đậu (óc chó) cũng mất. Nho là sản phẩm quan trọng của Pháp cũng mất mùa trầm trọng. Nạn đói hoành hành khắp nơi khiến hàng ngàn người chết; nhiều trường hợp chết hết cả gia đình.
Tất cả những biến cố này xảy ra đúng như Đức Mẹ đã cảnh cáo khiến người ta phải nhìn nhận lời Mẹ thông báo xảy ra chính xác đến độ kinh ngạc. Ngay từ đầu năm 1847, việc Đức Mẹ hiện ra tại La Salette bắt đầu được nhìn nhận, người ta đổ đến La Salette ngày càng đông, và giáo quyền khởi sự điều tra sự lạ lùng tại La Salette.
Một sự kiện yêu thương đặc biệt của Đức Mẹ là một dòng suối xuất hiện tại chính nơi Đức Mẹ hiện ra, và rất nhiều phép lạ được giáo quyền và hội đồng y khoa công nhận đã xảy ra nhờ nước suối này.
Lời tiên tri về Đức Piô IX và hoàng đế Napoleon III đã xảy ra đúng như lời tiên báo. Đức Piô IX đắc cử Giáo Hoàng vào đầu năm 1846. Vào thời gian này, không một ai tưởng tượng được là một hoàng đế Napoleon nữa xuất hiện trên đất Pháp.
Một người cháu của đại đế Napoleon lên kế vị lấy tên là Napoleon III. Người cháu này của đại đế Napoleon vốn ít được người ta biết tới. Những người quen biết ông trước kia đều cho rằng ông ta tầm thường, ngờ nghệch, và không ai có thể tưởng tượng ông ta sẽ leo lên được chức tước gì. Mặc dầu vậy, tháng 12, 1848, giữa lúc mất mùa đói kém, chính trị bất ổn, ông ta được bầu làm Tổng Thống
Nước Pháp, và tháng 11, 1850, ông trở thành hoàng đế Napoleon III độc tài đầy quyền lực.
Năm 1848, Đức Pio IX phải rời khỏi giáo đô Lamã vì những xáo trộn chính trị và loạn lạc. Năm 1850, Đức Piô IX trở về Lamã nhờ sự can thiệp của Napoleon III. Cuối năm 1846 những tin tức về La Salette đã tới giáo đô Lamã, nhưng mãi tới năm 1851, Đức Piô IX mới nhận được phúc trình đầy đủ về những sự việc và thông điệp Đức Mẹ ban tại La Salette. Cũng thời gian này (cuối năm 1851), Napoleon III cho thấy ý định muốn tiếm vị (chiếm ngôi vị) giáo hoàng, y hệt người bác của ông là Napoleon I trước kia.
Những lời cảnh cáo nghiêm trọng nhất về các biến cố, về cuộc sống và số phận nhân loại được các nhà nghiên cứu bình luận ghi nhận là nói về cuộc chiến Pháp-Phổ, Thế Chiến I và II, sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Tất cả đều là những “roi đòn khủng khiếp nhất” gây ra tổn thất sinh mạng và thống khổ cho hàng tỉ người.
Những điều Đức Mẹ cảnh cáo không phải chỉ xảy ra cho Nước Pháp và trong thế kỷ 19, mà cho khắp thế giới tới ngày nay. Ngày ngày các điều Đức Mẹ nói xuất hiện càng rõ ràng, nhìn vào lịch sử thế giới từ hậu bán thế kỷ 19 tới nay, chúng ta thấy biết bao lần những biến cố kinh hoàng đã xảy ra, và ngày nay các điều này càng rõ ràng hơn. Cuộc chiến Pháp-Phổ, Thế Chiến I và II đã chấm dứt, các cuộc chiến cục bộ ngày càng bớt, nhưng nguy cơ của cuộc chiến khốc liệt hơn vẫn còn treo lơ lửng trên đầu nhân loại.
Mặc dầu y khoa và khoa học tiến vượt bực, nhưng từ 1960 tới nay, ô nhiễm không khí và nhiều bệnh nan y chết người lan tràn khắp thế giới, như Aids, Ebola, các tội ác gia tăng, luân lý suy đồi, thiên tai, hạn hán, lụt lội, động đất, cháyrừng, v.v. xảy ra tới mức độ khủng khiếp khắp nơi. Mà nhân loại cứ đổ thêm dầu vào lửa, người ta chỉ biết tôn thờ chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa khoái lạc, và cướp quyền Đấng Tạo Hóa, nhất là đại ác họa giết các hài nhi còn trong dạ mẹ. Chúng ta không thể tưởng tượng được những kinh hoàng gì sẽ xảy ra theo phần cuối thông điệp của Mẹ Maria tại La Salette. Chúng ta không thể biết khi nào những việc đó xảy ra, phải chăng đã và đang lần lần xảy ra.
Vấn đề là chúng ta phải nghe theo lời Đức Mẹ mà nhờ Mẹ dẫn dắt trở về với Thiên Chúa là Cha Nhân Từ nếu chúng ta muốn những đại họa tiên báo không xảy ra hoặc được giảm thiểu.
Đức Mẹ hiện ra tại La Salette được Giáo Hội nhìn nhận với tước hiệu: “ĐỨC MẸ SẦU BI và SỰ ĂN NĂN SÁM HỐI”

Ngày 11 tháng 02 năm 1858, một ngày mùa đông lạnh cóng, ba cô gái xanh xao gầy guộc, áo quần tả tơi, đi kiếm củi. Ba cô là Bernadette Soubirous, cô thứ hai là Toinette, em của Bernadette, cô thứ ba là Jeanne Abadie. Bernadette Maria Soubirous sinh ngày 7 tháng 1 năm 1844, là con đầu lòng trong 8 người con của ông bà Francois và Louise Soubirous. Ông Francois làm việc tại xưởng cưa Boly và gia đình ngụ tại đây. Khi Bernadette tám tuổi, mắt trái của ông Francois bị hư, và hai năm sau ông bị mất việc, gia đình phải rời khỏi trại cưa. Gia đình ông Francois được một người bà con làm nghề đục đá cho tá túc ở tầng trệt của xưởng đục đá, nơi này ẩm thấp ướt át, và gia đình sống trong cảnh nghèo nàn cùng cực. Bernadette 14 tuổi vẫn chưa biết chữ.
Ba cô tới chỏm Massabielle, nơi có chỗ lõm vào như hang động, trước cửa hang Massabielle lúc đó có vài bụi cây và một cụm hồng dại khô gần chết. Bernadette Soubirous, lớn tuổi nhất trong ba cô, tới đó kiếm củi. Khi hai cô kia tới cửa hang Massabielle để tìm cô, hai cô thấy Bernadette đang quì trước cửa hang, mắt nhìn lên. Hai cô chạy tới bên Bernadette và thấy cô bất động, mắt mở lớn ngó trân trân. Hai cô lay Bernadette nhưng không thể nào làm cô nhúc nhích, cả đến lay chuyển cánh tay cô cũng không được.
Hai cô la lên vì sợ. Khi tỉnh lại, Bernadette nói cho hai cô kia biết sự việc xảy ra.Thoạt tiên Bernadette thấy một bóng sáng mà cô đã thấy hai lần trước kia. Lần này một Vị Phụ Nữ đẹp mặc y phục trắng hiện ra trong bóng sáng. Vị Phụ Nữ gật đầu chào Bernadette, đồng thời đưa hai cánh tay ra, trên cánh tay phải có chuỗi Mân Côi.
Vị phụ Nữ mỉm cười dịu dàng, và như thể ra dấu gọi Bernadette tới gần hơn, nhưng cô bé sợ, không đáp lời và muốn bỏ chạy. Sau đó Bernadette bình tĩnh lại và lấy xâu chuỗi ra cầu nguyện kinh Mân Côi. Trong khi Bernadette cầu nguyện kinh Mân Côi, Vị Phụ Nữ cũng lần từng hạt theo, môi không mấp máy, nhưng cúi đầu khi Bernadette đọc kinh Sáng Danh.
- Trong khi lần chuỗi, Bernadette nhìn rõ Đấng Hiện Ra hơn. Vị Phụ Nữ mặc áo dài trắng xuống tới chân, chỉ để lộ những ngón chân.
- Áo dài có cổ cao và cột bằng một dây băng mầu trắng.
Tấm khăn choàng mầu trắng phủ trên đầu qua vai, qua hai cánh tay, xuống gần tới gấu áo dài. Trên mỗi bàn chân của Vị Phụ Nữ có một bông hồng mầu vàng. Khăn thắt lưng mầu xanh dương, thả xuống tới đầu gối. Xâu chuỗi, dây vàng, hạt trắng lớn và kết cách khoảng rộng hơn chuỗi thường. Vị Phụ Nữ rất trẻ và đứng trong vầng hào quang.
- Khi Bernadette cầu nguyện xong năm chục kinh Mân Côi, Vị Phụ Nữ mỉm cười chào cô, rồi biến đi.
- Trên đường về, Bernadette gặp một cô em khác và kể lại cho cô này nghe việc cô đã thấy Vị Phụ Nữ đẹp tuyệt vời đứng trong bầu ánh sáng. Cô em này nói cho bà mẹ biết. Cô Jeanne Abadie chạy khắp xóm kháo rằng Bernadette được thị kiến và phát khùng. Cha mẹ của Bernadette bực mình vì những chuyện đó và cấm Bernadette không được tới hang Massabielle nữa. Khi xưng tội chiều hôm sau, Bernadette nói chuyện này với cha giải tội và xin ngài tường trình với cha sở là cha Peyramale, nhưng ngài bỏ qua.
- Chúa Nhật 14 tháng 2, 1858, Bernadette xin được cha của cô cho phép tới Massabielle với hai cô cùng đi hôm trước và một số người khác. Có tất cả hai mươi người, trong đó có bảy người lớn, đi theo. Lần này Bernadette đem theo nước thánh. Bernadette quì cầu nguyện tại nơi cô đã quì lần trước, có hai người quì hai bên. Khi Bernadette và mọi người cầu nguyện xong chục kinh Mân Côi thứ nhất, Vị Phụ Nữ tuyệt đẹp hiện ra. Bernadette rảy nước thánh lên Vị Phụ Nữ, và nói:
- “Nếu Người từ Thiên Chúa mà đến, thì xin ở lại!”
- Vị Phụ Nữ mỉm cười. Lúc này Jeanne Abadie leo lên phía trên hang đá, vô tình làm lăn một cục đá lớn xuống ngay sát bên Bernadette. Nhưng Bernadette không hay biết gì vì cô đã bất động trong tình trạng xuất thần.
Discover more from
Subscribe to get the latest posts sent to your email.