Giờ Chầu Đêm
450 Tôi chịu đau đớn dữ dội và dường như không thể tham dự phiên chầu của mình, tôi tập trung hết nghị lực ý chí, và dù bị ngã trong phòng, tôi cũng chẳng lưu tâm đến những cơn đau, vì tôi đã có cuộc Khổ Nạn Chúa Giêsu trước mắt. Khi vào nhà nguyện, tôi nhận được một tri thức nội tâm về phần thưởng lớn lao Thiên Chúa đang dọn sẵn cho chúng ta, không những về các việc lành, mà còn về ước nguyện chân thành muốn thực hiện các việc ấy nữa. Đây thực là một hồng ân lớn lao Thiên Chúa ban!
Ôi, được lao nhọc vì Thiên Chúa và các linh hồn là điều ngọt ngào dường bao! Tôi không muốn nghỉ ngơi trong trận chiến này, nhưng sẽ chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng vì vinh quang của Đức Vua và Thiên Chúa của tôi. Tôi sẽ không buông thanh gươm cho đến khi Chúa gọi tôi đến trước ngai toà của Người; tôi không sợ những nhát chém, bởi vì Thiên Chúa là khiên thuẫn của tôi. Chính kẻ thù phải sợ chúng ta chứ không phải chúng ta sợ hắn. Satan chỉ chiến thắng những kẻ kiêu ngạo và những kẻ nhát đảm, vì những người khiêm nhượng là những người mạnh mẽ. Không gì làm cho một linh hồn khiêm nhượng phải bối rối hoặc khiếp hãi. Tôi đã chuyển hướng chuyến bay của tôi vào chính trung tâm sức nóng của mặt trời, và không gì có thể hạ thấp đường bay ấy nữa. Tình yêu không cam tâm trở thành tù nhân; nó tự do như một nữ hoàng. Tình yêu đạt được Thiên Chúa.
[1] Có lẽ là nữ tu Philomena Andrejko, người qua đời tại Warsaw vào chiều ngày 13 tháng 7 năm 1934, lúc 4 giờ 45.
[2] Cứ mỗi thứ Năm, từ 9 giờ đến 10 giờ đêm, tất cả các nữ tu khoẻ mạnh đều làm một giờ chầu đền tạ, gọi là giờ thánh. Trước ngày thứ Sáu đầu tháng, các nữ tu sẽ luân phiên chầu từng giờ một suốt đêm.
[3] Bác sĩ Helen Maciejewska sinh năm 1888 là bác sĩ của các nữ tu tại Vilnius. Vào tháng 2 năm 1935, bà chuyển về Wilejka để đảm trách chức vụ giám đốc bệnh viện địa phương. Bà là một bác sĩ tốt lành và được quý trọng, trổi vượt về sự hiểu biết, tâm hồn nhạy cảm và hy sinh cho các bệnh nhân. Bà qua đời ngày 21 tháng 9 năm 1965.
[4] Có một thánh đường dâng kính Chúa Thương Xót được xây dựng vào năm 1629 tại phố Smolensk ở Warsaw. Lễ bổn mạng thánh đường này được mừng vào ngày 14 tháng 9, tức lễ Suy Tôn Thánh Giá.
[5] Hội kiểm thảo (tiếng Ba Lan là Kapitula) – tức là một buổi hội trong đó bề trên nhà sẽ huấn dụ một bài ngắn về nhận định về việc giữ luật nhà, sau đó các nữ tu sẽ thú lỗi của mình.
[6] Bề trên nhà Vilnius bấy giờ là Mẹ Borgia-Hedwig Tichy, sinh ngày 25 tháng 1 năm 1887. Mẹ vào dòng năm 1913. Mẹ là một y tá, và cũng là bề trên nhà Vilnius và Walendow. Mẹ qua đời tại Wroclaw ngày 26 tháng 4 năm 1970. Mẹ cũng là một nhân chứng trong quá trình điều tra thông tin.
[7] Có lẽ là nữ tu Frances thuộc dòng thánh Bernadine, đã cùng bề trên của chị đến thăm các nữ tu tại Vilnius vào ngày 15 tháng 1 năm 1936 (A.SMDM-C).
[8] “Chầu phép lành” – một lễ nghi ngắn có ban phép lành Thánh Thể.
[9] Dây xích, giống như chiếc dây thắt lưng (x. số 62), được làm bằng mắt xích kim loại giống như chiếc vòng, và được dùng làm hình cụ khổ chế.
[10] Theo bức thư của cha Sopocko gởi cho chị Faustina vào năm 1937, chúng ta biết ngài có trình bày với Đức Khâm sứ là Tổng Giám mục Cortesi về việc thành lập lễ kính Lòng Thương Xót Chúa. Cha hy vọng Đức Khâm sứ sẽ tâu vấn đề lên Đức Thánh Cha (x. các thư 160).
[11] Chị thánh viết các điều quyết định lên những tờ giấy sạch sẽ được in lại trong Nhật Ký.
[12] Thị kiến liên quan đến cha Sopocko, người đau khổ rất nhiều vì sự kiện đình chỉ việc tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa. Lời tiên báo này hầu như ứng nghiệm từng chữ. Sắc lệnh số 65/52 của Thánh bộ Thánh Vụ [tên gọi của thánh bộ Giáo Lý Đức Tin trước Công đồng Vaticanô II] ban hành ngày 28 tháng 11 năm 1958 và thông tư ngày 6 tháng 3 năm 1959 đã đình chỉ việc truyền bá tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa theo hình thức được nữ tu Faustina cổ động. Kết quả là các bức hình Chúa Thương Xót được tôn kính tại nhiều thánh đường đã được tháo gỡ. Các linh mục không còn rao giảng về Lòng Thương Xót Chúa. Chính cha Sopocko bị Toà Thánh khiển trách nghiêm khắc và chịu nhiều phiền toái liên quan đến việc truyền bá tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa.
Dòng Đức Mẹ Nhân Lành cũng bị cấm truyền bá Lòng Thương Xót Chúa; kết quả là các bức hình, chuỗi kinh, tuần cửu nhật, và tất cả những hình thức cổ động việc tôn sùng đã được truyền bá trước kia đều bị rút lại. Công cuộc Lòng Thương Xót Chúa được chị Faustina cổ động tưởng đã bị tiêu tan và không bao giờ bùng lên được nữa.
Trước khi có thông tư Toà Thánh, bức hình Chúa Thương Xót đã được tôn kính tại tu viện dòng Đức Mẹ Nhân Lành ở Cracow, nơi chị Faustina qua đời, và phủ đầy những bia tạ ơn chung quanh. Vào Chúa Nhật tuần thứ ba mỗi tháng, một thánh lễ long trọng được cử hành và các linh mục giảng về Lòng Thương Xót Chúa. Chúa Nhật liền sau lễ Phục Sinh được cử hành tôn kính Lòng Thương Xót Chúa, và Đức Hồng Y Adam Sapieha từ năm 1951 đã ban ơn toàn xá suốt bảy năm [đến năm 1958, tức là đến khi Toà Thánh cấm].
Trước lệnh cấm của Toà Thánh, các nữ tu đã bàn hỏi với đấng bản quyền địa phương Cracow là Đức Tổng Giám mục Baziak về việc tôn kính bức hình Chúa Thương Xót đang được đặt tại bàn thờ cạnh, đầy những bia tạ ơn, và phải có thái độ thế nào đối với các việc phụng tự Lòng Thương Xót Chúa. Đức Tổng Giám mục Baziak ra lệnh cứ giữ bức hình tại vị trí cũ và các tín hữu không bị cấm cản khi đến cầu nguyện trước bức hình để xin các ơn cần thiết. Ngài cũng ban lệnh giữ nguyên các nghi thức tôn sùng vốn có.
Như thế, việc tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa vẫn được duy trì giữa thử thách tại trụ sở nhỏ bé của dòng Đức Mẹ Nhân Lành tại số 3/9 phố Wronia, nơi thi hài Đầy Tớ Chúa được mai táng. Hiện nay, lòng tôn sùng đã mãnh liệt trở lại, rộ nở và cuốn hút sự hứng thú của các thần học gia.
Vì phần đầu lời tiên báo của chị Faustina đã ứng nghiệm gần như sát từng chữ, nên có thể nghĩ rằng phần còn lại cũng sẽ nên trọn. Những sự kiện sau đây làm chứng cho tính cách xác thực của lời tiên báo:
Ngày 30 tháng 6 năm 1978, thánh bộ Giáo Lý Đức Tin (A.A.S. trang 350) đã ban hành một thông tư do Đức Hồng Y Bộ trưởng Franjo Seper và Đức Tổng Giám mục thư ký thánh bộ Jerome Hamer, O.P. ký ngày 15 tháng 5 năm 1978. Nội dung thông tư như sau:
Từ nhiều nơi khác nhau, nhất là từ Ba Lan, thậm chí từ thẩm quyền hợp pháp, đã hỏi rằng những lệnh cấm trong “Thông tư” của Thánh bộ Thánh Vụ, được in trong Công Báo Toà Thánh năm 1959, trang 271, về việc tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa theo những hình thức do nữ tu Faustina cổ xướng còn được coi là có hiệu lực hay không.
Thánh bộ này, hiện nay đã có nhiều tài liệu nguyên gốc, vẫn chưa biết đến vào năm 1959; đã cứu xét những hoàn cảnh thay đổi sâu xa, và đã cân nhắc quan điểm của nhiều vị bản quyền Ba Lan, tuyên bố rằng những điều cấm trong “Thông Tư” trên kia không còn hiệu lực nữa.
Ngày 12 tháng 7 năm 1979, để trả lời cho cha Tổng Quyền dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm – nhân danh cha bề trên tỉnh dòng thánh Stanislaus Kostka, thuộc dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm Hoa Kỳ – đã xin lời giải thích chính thức đối với phạm vi bản thông tư năm 1978 về vụ rút lại những lệnh cấm truyền bá việc tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa do nữ tu Faustina Kowalska cổ xướng, Đức Hồng Y bộ trưởng thánh bộ Giáo Lý Đức Tin đã xác quyết như sau:
Về vấn đề (được nêu trong thư của cha Tổng Quyền) ấy, tôi hân hạnh thông tri với cha rằng “Thông Tư” mới ấy (A.A.S., ngày 30 tháng 6 năm 1978, trang 350) đã đến với ánh sáng của tài liệu nguyên bản được Đức Tổng Giám mục Cracow, khi ấy là Đức Hồng Y Karol Woltyla, cẩn thận giám định thông tin, ý muốn của Toà Thánh là rút lại điều cấm trong “Thông tư” năm 1959 trước kia (A.A.S., 1959, trang 271), như vậy, được hiểu là không còn, về phía thánh bộ này, bất kỳ một ngăn trở nào trong việc truyền bá lòng tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa theo những hình thức chân xác mà nữ tu được nói trên đã cổ động [Đầy Tớ Chúa, nữ tu Faustina Kowalska].
[13] Cuộc tĩnh tâm ở Vilnius được tổ chức ngày 4 đến ngày 12 tháng 2 năm 1935 do cha Macewicz, dòng Tên, giảng phòng. Vào cuối tuần tĩnh tâm có một thánh lễ theo lễ điển Đông Phương và các nữ tu được hiệp lễ hai hình.
[14] Việc tuyên lại lời khấn. Hiến pháp dòng Đức Mẹ Nhân Lành có quy định mỗi năm hai lần, sau kỳ tĩnh tâm tám ngày và kỳ tĩnh tâm ba ngày, mỗi nữ tu, cùng với toàn thể cộng đoàn, phải tuyên lại các lời khấn thanh tịnh, khó nghèo, và tuân phục bằng cách đọc lớn tiếng một công thức được rút gọn, có kèm theo lời nguyện sau đây: “Lạy Thiên Chúa của con, xin ban cho con ơn thánh để giữ những lời khấn này được trung thành hơn trước”.
[15] Gia đình chị Faustina sống tại làng Glogowiec, quận Turek, tỉnh Lodz.
[16] Nữ tu Maria Salomea Olszakowska qua đời vào tháng 6 năm 1962.
[17] Bức hình Chúa Thương Xót có hai luồng sáng, một luồng màu lam nhạt, một màu đỏ, được hoạ sĩ Eugene Kazimierowski vẽ tại Vilnius. Bức hình được bày kính công khai tại Cổng Rạng Đông vào dịp bế mạc năm thánh Cứu Độ, từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 5 năm 1935 (x. Nhật Ký số 419 và chú thích 1).
[18] Chị Faustina nghĩ rằng chị sẽ phải bỏ dòng Đức Mẹ Nhân Lành và thành lập một dòng tu mới có mục đích truyền bá việc tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa và cầu xin Lòng Thương Xót cho thế giới.
[19] Chị Faustina đã viết rằng Chúa Giêsu đòi chị thành lập một dòng tu mới với mục đích cầu xin Lòng Thương Xót Chúa cho thế giới và truyền bá việc tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa. Vì không muốn như thế nên chị đã trình bày những soi động này với linh mục giải tội là cha Sopocko, Tổng Quyền là Mẹ Michael Moraczewska, và sau khi đến Cracow, chị còn thưa với cha J. Andrasz, dòng Tên nữa.
Các cha giải tội không dứt khoát, còn Mẹ Michel chỉ ban phép sau một thời gian đắn đo lâu dài, nhưng nhấn mạnh rằng Mẹ không chịu trách nhiệm. Chị Faustina trình bày những soi động ấy lên Đức Tổng Giám mục Romuald Jalbrzykowski. Ngài không từ chối, nhưng nói cần phải chờ thêm dấu chỉ rõ ràng từ trời cao.
Dù nỗ lực bền bỉ, nhưng chị Faustina đã không sống để thấy cộng đoàn ấy được thành lập. Nhờ những cố gắng của cha Sopocko mà vấn đề đã được trình bày tại cuộc họp “Giờ Thánh Kinh” vào năm 1941; và vào ngày 15 tháng 10 năm 1941, chí nguyện sinh đầu tiên đã khấn giữ đức khiết tịnh cùng tuyên hứa đức khó nghèo và đức vâng phục trước mặt cha Sopocko. Vào năm sau, những chí nguyện sinh khác đã tham gia và tuyên những lời khấn hứa tương tự. Năm 1946, những chí nguyện sinh đầu tiên là Osinska và Naborowska rời Vilniusvà đến định cư tại Mysliborz thuộc giáo phận Gorzow. Ngay sau đó có nhiều người tham gia và dần dần hội dòng bắt đầu phát triển.
Vào ngày 2 tháng 8 năm 1955, Đức Cha Zygmunt Szelazek, bản quyền giáo phận Gorzow, với quyền đặc biệt đã thiết lập hội dòng Chúa Giêsu Kitô Chí Thánh – Đấng Cứu Độ Xót Thương, với mục đích truyền bá Lòng Thương Xót Chúa và trợ giúp hàng giáo phẩm. Như vậy, ước nguyện của Đầy Tớ Chúa đã được thực hiện mà không có sự tham gia của cá nhân chị (x.O. Izydor Borkiewicz, O.F.M. Con., thủ bản “Kowalska Helen”, trang 18).
[20] Nữ tu Faustina nghĩ đến công việc thành lập hội dòng mới và xin thánh Inhaxiô trợ giúp.
Discover more from
Subscribe to get the latest posts sent to your email.