Đâu là lẽ sống của người Công giáo?

Số 203: Thức Ăn Nhanh Cho Tâm Hồn (The Fast Food for The Soul) by Fr. Quảng Trần, C.Ss.R. năm 2021.

ĐÂU LÀ LẼ SỐNG CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO?

Đức Giêsu lại hỏi môn đệ:

“Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? “

Ông Phêrô trả lời:

“Thầy là Đấng Kitô” (Macco 8: 29)

Dẫn Nhập

Chúng ta thường nói hoặc nghe câu ngạn ngữ nổi tiếng trong tiếng Anh như sau, “show me your friends, I will tell you who you are” (bạn hãy CHỈ cho tôi biết bạn của bạn là ai, tôi sẽ chỉ cho bạn biết, bạn là người như thế nào). Chúng ta cũng nghe hoặc đọc nhiều câu có cùng ý tưởng tương tự như trên. Ví dụ như:

Chơi với người tốt như đi vào hàng hoa,

Khi đi ra hương còn vương vấn.

Chơi với người xấu như đi vào hàng cá,

Quen tanh rồi, chẳng biết mùi mình tanh.

Hoặc:

Đi cùng ruồi thì tìm được nhà vệ sinh.

Đi cùng ong thì tìm được hoa thơm.

Đi cùng người giàu học được cách kiếm tiền.

Đi cùng ăn mày thì học được cách xin cơm.

Vậy nên bạn là ai không quan trọng,

Quan trọng bạn đang ở cạnh ai!

Những câu trích dẫn trên đều nhằm diễn tả rằng con người chúng ta dễ bị ảnh hưởng bởi những người chúng ta tương quan, tiếp xúc với. Chúng ta dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường sống xung quanh. Về chiều kích niềm tin tôn giáo, với những niềm tin, những hình ảnh về thần linh khác nhau, sẽ dẫn đến những phản ứng, hành động khác nhau?

Niềm Tin Khác Nhau, Dẫn Đến Lẽ Sống Khác Nhau

Với kinh nghiệm thực tiễn cuộc sống dạy chúng ta biết rằng vì niềm tin, hình ảnh mà mỗi chúng ta có về vị Thiên Chúa, về Ông Trời, về Thần, về Phật, hay thậm chí cả sự từ chối sự hiện hữu của thế giới thần linh… khác nhau sẽ dẫn đến, ảnh hưởng lên lối sống của mỗi người theo những cách thức khác nhau. “Tư tưởng chi phối hành động.” Do vậy, có nhà thần học đã viết rằng: “Bạn hãy nói cho tôi biết, đối với bạn Thiên Chúa hay Ông Trời là ai, thì tôi sẽ TRẢ LỜI cho bạn biết bạn là ai.” Vì lẽ, niềm tin vào thế giới thần linh khác nhau, sẽ dẫn đến những LẼ SỐNG khác nhau.

LẼ SỐNG khác nhau dẫn đến những phản ứng, suy nghĩ, hành động khác nhau.

LẼ SỐNG khác nhau dẫn đến lối sống khác nhau.

LẼ SỐNG khác nhau dẫn đến niềm hy vọng về ơn cứu độ cũng khác nhau.

Thế nên, chúng ta cũng có thể đổi lời một chút:

Bạn là ai không quan trọng,

Quan trọng bạn đang THỜ LẠY THIÊN CHÚA NÀO.

Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ Duy Nhất của người Kitô Hữu

Đâu là LẼ SỐNG bởi vì hình ảnh, căn tính của Thiên Chúa có trong người Kitô chúng ta?

Để biết được LẼ SỐNG của người Kitô hữu, chúng ta cần phải hiểu rõ hình ảnh, căn tính của Thần Linh hay Thiên Chúa mà chúng ta TIN THỜ.

Một lần kia trên đường đến vùng kế cận thành Xedarê Philliphe, Chúa Giêsu hỏi các môn đệ: “dân chúng hỏi Người là ai?” Các ông thưa: “Kẻ thì bảo là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Elia, người khác lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ.” Rồi Chúa Giêsu quay sang hỏi ông Phêrô: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Ông Simôn Phêrô trả lời Đức Giêsu rằng: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16: 13 – 16).

Câu trả lời của thánh Phêrô cũng chính là câu trả lời của mỗi người Kitô hữu chúng ta: Chúa Giêsu là Đấng Kitô, là Đấng Cứu Độ, là LẼ SỐNG … của ta. Xác tín Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ sẽ tác động, sẽ ảnh hưởng dẫn đến lối sống, LẼ SỐNG của ta.

Nếu ta xác tín rằng: Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, là Đấng cứu độ thì đồng nghĩa rằng ta KHÔNG TỰ MÌNH đạt được ơn cứu độ, ta cần Đức Giêsu Kitô, và hơn nữa, ngoài Người ra không ai là Đấng cứu độ của ta:

khi vừa nghe danh thánh Giêsu,

cả trên trời dưới đất

và trong nơi âm phủ,

muôn vật phải bái quỳ;

và để tôn vinh Thiên Chúa Cha,

mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng:

“Đức Giêsu Kitô là Chúa”

(Thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Philip 2:10-11).

Vì tuyên tín “Đức Giêsu Kitô là Chúa,” là Đấng cứu độ nên ta lập tức khẳng định mình là HỮU THẦN, có niềm tin vào thần linh, và đồng thời ta cũng khước từ tin vào những thần linh khác.

Một khi tuyên xưng “Đức Giêsu Kitô là Chúa” thì lối sống của người tin khác với người vô thần. LẼ SỐNG của ta không dừng lại ở những gì thuộc thế gian này, mà còn vươn cao hơn, vươn xa hơn, ta một đàng xây dựng cuộc sống trần thế nhưng vẫn dõi về cuộc sống vĩnh cửu. Đối với ta chết không phải là hết, mà bên kia nấm mồ là sự sống vĩnh cửu. Do đó, LẼ SỐNG của ta là làm thế nào để đạt được sự sống đời đời, và vì Đức Giêsu Kitô đã đến đem ơn cứu độ cho ta, nên sự sống ấy đã khởi đầu mà chưa viên mãn (already but not yet). LẼ SỐNG của ta là làm thế nào để có được sự sống đời trong Thiên Chúa. Vậy, đâu là những hành động, cung cách sống hiện nay của ta diễn tả ta đang sống như người tôn thờ một Thiên Chúa như được nói trong Kinh Thánh và giáo huấn của Hội Thánh?

Một khi tuyên xưng “Đức Giêsu Kitô là Chúa” thì ta ngay lập tức khước từ các thần linh khác. Chỉ mình Đức Giêsu Kitô là Chúa. Tôn thờ “Đức Giêsu Kitô là Chúa” dẫn đến LẼ SỐNG của ta cũng khác với những người có niềm tin tôn giáo khác. Có người nói:

Đạo nào cũng như đạo nào,

Đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành.

Đúng là đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành! Câu nói này mới dừng lại ở bản chất của luật tự nhiên (natural law): “làm lành lánh dữ” đã được cài đặt sẵn trong bản chất của con người. Nhưng, người Kitô hữu tin vào “Đức Giêsu Kitô là Chúa” không chỉ dừng lại ở luật tự nhiên, mà vượt lên trên luật tự nhiên, đó là đón nhận mặc khải: “Thiên Chúa quá yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai TIN vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16).

Vì TIN rằng dưới vòm trời này “không có ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” để kéo mọi người lên cùng Thiên Chúa Cha và để “những ai TIN vào Con Người thì được sống muôn đời” (Ga 3: 13). Vì niềm tin này lý giải tại sao đạo Công Giáo, hay nói rộng hơn Kitô giáo, không chỉ dừng lại ở việc dạy “ăn ngay ở lành”, và vượt lên trên đó là TIN vào tình thương của Thiên Chúa, Đấng đến cứu độ con người.

Vì TIN vào tình thương của Thiên Chúa, dù con người yếu đuối tội lỗi thế nào, miễn là SÁM HỐI, quay trở về với Thiên Chúa, sẽ được hưởng ơn cứu độ. Do đó, điều này đã ảnh hưởng lên cung cách ứng xử với những người khác niềm tin.

Ví dụ minh hoạ: Có người đặt câu hỏi: tại sao người Công Giáo ngại cho những người con của họ lấy người không cùng Đạo Công Giáo, và nếu muốn lấy thì phải tòng Đạo Công Giáo, còn cực chẳng đặng mới đồng ý cho đạo ai người nấy giữ? Với cung cách suy nghĩ như trên, vô tình đã tạo áp lực cho người không có Đạo khi sống chung với người có Đạo Công Giáo hoặc một cách nào đấy coi Đạo Công Giáo là “cao hơn, tốt hơn” nên mới bắt hoặc muốn người khác tòng đạo?

Về phương diện thực tế mục vụ: Khi tiến tới đời sống hôn nhân, vợ chồng cái gì cũng là của chung. “Ta với nàng tuy hai là một ta với nàng tuy một mà hai.” Tiền chung, nhà chung, ăn chung, ở chung, ngủ chung giường… nhưng chỉ có mỗi niềm tin là không chung nghĩa là làm sao?

Nếu niềm tin không chung, dẫn đến LẼ SỐNG khác nhau. LẼ SỐNG khác nhau dẫn đến cung cách giáo dục con cái khác nhau… Nhưng có người đặt ngược lại: tại sao người Công Giáo không tòng đạo sang các tôn giáo khác?

Về phương diện tín lý: Đúng là người Công Giáo rất muốn người khác đạo tòng Đạo Công Giáo khi kết hôn. Tuy nhiên, thánh Công Đồng Vaticano II, trong tuyên ngôn về Tự Do Tôn Giáo (Dignitatis humanae), đã khẳng định: “con người có quyền tự do tôn giáo, tự do chọn lựa niềm tin của mình” (số 2). Nghĩa là con người có quyền để tòng hay không tòng đạo khi kết hôn. Họ có quyền sống theo tiếng nói lương tâm của mình để bảo vệ nhân phẩm, niềm tin của mình. Dù chân nhận sự tự do lương tâm chọn lựa sống niềm tin của người khác, nhưng PHÍA người Công Giáo luôn luôn xác tín rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa, là Đấng cứu độ duy nhất. Vì lẽ này, người Công Giáo mong muốn người thân yêu của mình tòng giáo. Tại sao vậy? Vì người Công giáo xác tin nhờ ơn thánh của Các Bí Tích: Thánh Tẩy, Thêm Sức, Giải Tội, Thánh Thể…, như các phương thế hữu hiệu trợ lực để con người dễ đón nhận ơn cứu độ hơn.

Ví dụ cụ thể minh hoạ: Người Việt nam chúng ta muốn đi định cư, sinh sống ở Huê Kỳ có nhiều HÌNH THỨC đến Huê Kỳ khác nhau (Huê Kỳ được minh hoạ là đích đến – thiên đàng hạ giới mà!). Cũng thế, nói theo ngôn ngữ của Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI: mỗi người có một cách thức riêng biệt để đạt được ơn cứu độ của họ, nhưng cách thức nào cũng phải được cứu độ từ Đức Giêsu Kitô (đạt được ơn cứu độ trong Đức Kitô là đích đến của mọ người). Chẳng hạn: Người vượt biên đi bằng đường biển, rồi xin tị nạn… nhanh cũng phải cả mấy tháng đến mấy năm, và nguy cơ chết chìm trên biển cả, chết trong rừng sâu chiếm tỉ lệ rất cao, quá nhiều rủi ro. Trái lại, tỉ lệ đến được Huê Kỳ rất ít. Hơn nữa, có nhiều người đến được Huê Kỳ thì đã phải mang nhiều thương tích như bị hải tặc hãm hiếp, bị mang những thương tật về thể xác lẫn tâm hồn… Cũng vậy, PHÍA người Công Giáo tin rằng những người NGOÀI (theo nghĩa chặt, nghĩa cơ cấu phẩm trật) Hội Thánh Công Giáo, mặc dầu Chúa Giêsu là Đấng cứu độ cho hết mọi người, nhưng các niềm tin tôn giáo khác gặp nhiều khó khăn, dễ bị lạc lối trên con đường đón nhận ơn cứu độ.

Còn trong trường hợp những người đi diện HO (Humanization Organization – tổ chức nhân đạo) được đi phi cơ đến Huê Kỳ vừa nhanh, chỉ trong vòng mấy chục tiếng, và nguy cơ bị gặp trục trặc KHÔNG đến được Huê Kỳ tỉ lệ rất thấp, nếu không muốn nói là 100% đến được Huê Kỳ. Cũng thế, với niềm tin nhờ ơn Chúa giúp, ngang qua các Bí Tích và sự hiệp thông trong dân thánh, người Công Giáo tin mình dễ dàng đạt tới ơn cứu độ hơn: hạnh phúc ở đời này và đời sống vĩnh cửu mai sau. Đó là lý do họ muốn những người khác niềm tin Công Giáo, những người liên đới tới họ chung chia cùng niềm tin này.

Có người lại hỏi: Cứ giả thiết là nhờ ơn thánh của các Bí Tích và sự hiệp thông giữa các thành phần trong Hội Thánh Công Giáo là hữu ích, là phương tiện hữu hiệu giúp người ta dễ dàng hơn trong việc đạt đến ơn cứu độ. Nhưng thực tế lại không vậy, trong đời sống thường ngày người Công Giáo có sống tốt hơn người không công giáo đâu? Và trong đời sống hôn nhân, những người Công Giáo vẫn ly dị đó thôi?

Có thể đối với cá nhân những người hỏi thì đúng là họ có thể họ gặp những người Công Giáo không tốt hơn họ. Nhưng nếu nhìn trên bình diện sâu, rộng… và cùng những thông số giống nhau, thì chắc chắn tỉ lệ người Công Giáo sống tốt hơn chiếm tỉ lệ cao hơn nhiều so với những người khác.

Bằng chứng: trong lịch sử 2000 hiện diện của mình, nơi nào có cộng đồng người Công Giáo nơi đó đời sống dân sự bình an hơn, trộm cắp ít hơn, tệ nạn xã hội ít hơn. Lịch sử đã minh chứng thế. Hơn nữa, khi tai ương hoạn nạn, dịch bệnh xảy ra (cả trong quá khứ, trong hiện tại và chắc chắn cả tương lai nữa) khả năng dấn thân phục vụ các nạn nhân, những người nghèo, những người thiếu may mắn của giới Công Giáo nhiều hơn, hiệu quả hơn, tốt hơn. Đại dịch Covid-19 đang hoành hành là một bằng chứng hùng hồn về vai trò dấn thân phục vụ vô vị lợi của giới Công Giáo hơn hẳn các giới ngoài Công Giáo nếu đem so sánh về tỉ lệ.

Sở dĩ người Công Giáo vượt trội hơn trong khả năng dấn thân phục vụ người khác, vì họ được hướng dẫn bởi “anh em hãy yêu thương người thân cận như chính mình.” Thậm chí ngay cả trong những nghịch cảnh bị cấm đoán, bị bắt bớ, bị bách hại vì niềm tin thì họ vẫn phục vụ những người khác…, vì lẽ họ đã sống lời dạy “anh em hãy cầu nguyện cho những người bắt bớ anh em, và làm ơn làm phước cho họ.”

Sở dĩ, ngày nay có nhiều người Công Giáo ly dị, vì rất nhiều trong số những người li dị, có đạo mà không thực hành đạo, nếu chưa muốn nói là sống như không có đạo. Theo để ý, và nghiên cứu những cặp gia đình được gọi là Công Giáo mà ly dị, họ dường như không thực hành đời sống đức tin Công Giáo. Không đi lễ Ngày Chúa Nhật, không đọc kinh chung… và không giữ Mười Điều Răn. Không sống lý tưởng hay lẽ sống mà họ biết. Có lẽ, vì lẽ này, như nhiều người vẫn nói “tin Đạo chứ không tin vào người có đạo.” Do vậy, vì biết được giới hạn, yếu đuối của các tín đồ, và về phương diện thần học, vì vết tích của tội Nguyên Tổ, vì bản chất cố hữu của loài thọ tạo, nên học thuyết của Hội Thánh Công Giáo đã điều chỉnh, không “bắt” những người kết hôn với người Công Giáo phải tòng đạo.

Thay vào đó, tôn trọng tự do lương tâm của những người này, nhưng đồng thời khuyến mời các Kitô hữu hãy sống chứng nhân cho những người này. Nếu những người vợ hay những người chồng Công Giáo và những người thân của những người Công Giáo sống chứng tá Tin Mừng thì với thời gian chắc chắn những người khác niềm tin sẽ cảm nhận được, và xin trở nên Con Cái Chúa qua bí tích rửa tội, thay vì bị gượng ép lúc kết hôn. “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình! Các người rảo khắp biển cả đất liền để rủ cho được một người tòng đạo; nhưng khi họ theo rồi, các người lại làm cho họ đáng xuống hoả ngục gấp đôi các người” (Mt 23: 15). Lý tưởng là những người Kitô hữu phải sống làm chứng, thì khi những người kết hôn với người Công Giáo, nếu có tòng đạo, họ sẽ sống đạo rất tốt và đầy lòng xác tín. Chứ không phải gượng ép “Lạy Chúa, cho con lấy được vợ con thôi nhà thờ.” Lý thuyết là thế, nhưng buồn thay nhiều người Công Giáo chỉ CÓ ĐẠO, mà CHƯA SỐNG đạo. Thay vì sống làm chứng lại sống phản chứng. Thay vì giúp người ta tòng giáo thì mình lại bỏ giáo mà đi theo những sự quyến rũ của thế gian ma quỷ. Buồn!

Không Tranh Cãi Nhưng Xác Tín Để Sống Đạo

Một bằng chứng để cùng suy nghĩ và để xác tín về niềm tin của mỗi người chúng ta. Các Đấng Sáng Lập Các Tôn Giáo, trước khi họ rời bỏ thế gian này:

Đức Mohamet đã nói: “Tôi không biết mục đích của cuộc đời là gì.”

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói: “Hãy tìm kiếm chân lý.”

Đức Khổng Tử đã nói: “Ta không phải là đường đi.”

Còn riêng cụ Hồ Chí Minh cả đời cổ võ không niềm tin tôn giáo (vô thần, chết là hết..), nhưng nực cười ở chỗ trước khi chết lại nói: “tôi đi gặp Karl Marx, Friedrich Engels, và Lenin…” (Cả đời cổ võ một đàng, trước lúc chết lại nói một nẻo. Gặp ở đâu nhỉ? Ơ hay! Bảo chết là hết cơ mà? Con người chỉ là con vật! Từ khỉ mà ra! Chủ nghĩa duy vật mà!!!).

… TUY NHIÊN,

Duy Đức Chúa Giêsu đã phán: “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14: 6).

Và trong cõi nhân gian này, chỉ mình Đức Chúa Giêsu Kitô là Người duy nhất đã sống lại từ cõi chết, là người duy nhất thân xác không bị thối rữa và tan biến vào trong lòng đất. (Dĩ nhiên Đức Mẹ… hay bất cứ ai nếu thân xác không bị chôn vùi trong lòng đất đều được hưởng nhờ hệ quả từ sự phục sinh của Chúa Giêsu.) Hiện Người đang sống, còn những người kia thân xác vẫn nằm trong lòng đất.

Cùng Suy Nghĩ và Hành Động: Mặc dầu đã tuyên tín: Đức Giêsu Kitô là Đấng cứu độ duy nhất, nhưng tôi có còn mê tín chạy theo bói toán, tin vào những thứ thần tài khác không? Lòng tin và hành động của tôi có song hành với nhau không? Tôi đã cố gắng sống làm chứng để loan báo Tình Thương và Lòng Thương Xót của Thiên Chúa cho con dâu, con rể, cho bố mẹ vợ, bố mẹ chồng… của tôi khi họ không cùng niềm tin với tôi không? Tôi đã bao giờ mở miệng giảng giải về đức tin Công Giáo của mình cho người khác niềm tin không?