Chỉ Dẫn Viếng Nhà Thờ và Nghĩa Trang

Lễ Các Thánh

và lễ Các Linh Hồn

Từ trưa ngày lễ Các Thánh đến nửa đêm ngày lễ Các Linh Hồn, ai viếng nhà thờ, nhà nguyện (đọc một kinh Lạy Cha và một kinh Tin Kính) thì được hưởng một ơn đại xá, với những điều kiện thường lệ (xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng); nhưng phải chỉ cho các linh hồn. ơn đại xá mỗi ngày được hưởng một lần mà thôi.

Ai bị ngăn trở, có thể viếng nhà thờ (hay nhà nguyện) để lĩnh ơn đại xá, vào Chúa nhật trước hay Chúa nhật sau.

Từ ngày 01/11 đến ngày 08/11 này, các tín hữu thành kính đi viếng vườn thánh (và dù có đọc kinh thầm cầu nguyện cầu cho các linh hồn) cũng được hưởng nhờ một ơn đại xá, nhưng phải chỉ cho các linh hồn (trong 8 ngày này, mỗi ngày được hưởng ơn đại xá một lần mà thôi).

Các ngày khác trong năm, khi đi viếng vườn thánh và cầu nguyện cho các linh hồn, thì được hưởng nhờ ơn tiểu xá.

(Enchiridion Indulgentiarum, năm 1999, concessio 29).

Ơn Toàn Xá

Tháng Các Linh Hồn

Ơn Toàn Xá người Tín Hữu có thể lãnh để nhường lại cho các linh hồn trong Luyện Ngục.

1)  Từ ngày 1 đến hết ngày 8 tháng 11, bất cứ ngày nào trong các ngày ấy, Tín Hữu viếng Nghĩa Trang và cầu nguyện cho người chết, thì được hưởng Một Ơn Toàn Xá (Plenary Indulgence) chỉ để nhường cho các Linh hồn trong Luyện Ngục và chỉ được hưởng một Ơn mỗi ngày.

2)  Trong ngày Lễ Các Linh Hồn (ngày 2 tháng 11), Tín Hữu kính viếng nhà thờ, đọc một Kinh Lạy Cha và một Kinh Tin Kính, thì được hưởng một Ơn Toàn Xá (Plenary Indulgence) chỉ để nhường cho các Linh hồn trong Luyện Ngục và chỉ được hưởng một Ơn trong ngày ấy. (Lưu ý: việc đọc Kinh Lạy cha và Kinh Tin Kính là việc làm khi kính viếng Nhà Thờ, không miễn chuẩn cho việc Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng)

3)  Ngoài ra, mỗi ngày, Tín Hữu nào có ý xin hưởng ơn Toàn Xá và thi hành một trong các việc ấn định có Ơn Toàn xá, như sau, thì được Ơn Toàn Xá:

– Đọc Kinh Thánh với lòng cung kính Lời Chúa như sách thiêng liêng, ít là nửa giờ.

– Chầu Mình Thánh Chúa ít là nửa giờ.

– Viếng Đàng Thánh Giá đủ 14 nơi.

– Lập lại lời mình đã hứa khi chịu Phép Rửa Tội trong ngày kỷ niệm Phép Rửa Tội của mình, theo mẫu quen dùng.

– Đọc một chuỗi Mân Côi 50 Mùa Mừng trong Nhà Thờ, Nhà Nguyện, trong Hội đạo đức, hay trong gia đình.

Lưu ý: Ngoài điểm 1 và 2, các Ơn ở điểm 3, Tín Hữu có thể giữ cho mình hoặc nhường cho các Linh hồn người mất, không được nhường cho người còn đang sống.

Điều Kiện Hưởng Ơn Toàn Xá:

Điều kiện chung để hưởng Ơn Toàn Xá là: xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng.
Xưng tội: có thể xưng tội trước mấy ngày, sau mấy ngày làm việc có Ơn Xá.

Rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng: nên làm trong ngày làm việc có Ơn xá.

Cầu theo ý Đức Giáo Hoàng thì đọc một Kinh Lạy cha, một Kinh Kính Mừng là đủ, nhưng có thể đọc thêm bất cứ Kinh gì khác tùy lòng đạo đức.
và phải có ý xin hưởng Ơn Toàn Xá (Giáo Luật Điều số 996)

Lưu Ý: 

Xưng tội một lần thì đủ điều kiện để hưởng Ơn Toàn Xá nhiều lần,

Nhưng mỗi lần Rước lễ và Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng thì chỉ được hưởng một Ơn Toàn Xá.

(Theo CẨM NANG ÂN XÁ – MANUAL OF INDULGENCES –
Của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, Ấn Bản 2006
Chiếu theo Sổ Bộ Ân Xá – ENCHIRIDION INDULGENTIARUM –
của Bộ Xá Giải Tòa Thánh, Ấn Bản Thứ Bốn 1999)

Nên thánh qua việc sống Kinh Mân Côi

Như chúng ta biết ba mệnh lệnh Fatima là: Cải thiện đời sống; Tôn sùng Mẫu Tâm và Lần hạt Mân Côi.Nhiều người trong chúng ta lần chuỗi Mân Côi và có lòng tôn sùng Mẫu Tâm như tham dự các thánh lễ về Mẹ Ma-ri-a; đi hành hương các nơi Đức Mẹ hiện ra hay các nơi kính Đức Mẹ cách đặc biệt. Thế nhưng có mấy ai lo “Cải thiện đời sống”, để nên thánh, nên thiện. Có thể nói Có nhiều người lần hạt Mân Côi, nhưng có mấy ai sống kinh Mân Côi.

 

Suy nghĩ và để ý một chút ta sẽ thấy. Không phải ngẫu nhiên mà trong ba mệnh lệnh, việc “Cải thiện thiện đời sống” được đặt ở vị trí đầu tiên và việc “Lần hạt Mân Môi” lại được đặt ở hàng thứ ba. Điều đó cho thấy việc quan trọng thứ nhất là “Cải thiện đời sống”; sau đó mới tới việc tôn sùng Mẫu Tâm và thứ ba mới tới việc lần hạt Mân Côi. Thế nhưng hầu như là tuyệt đại đa số, người ta thường chú ý tới việc đọc hay lần hạt kinh Mân Côi.

 

Vì sao ? Vì có bỏ tiền ta đi hành hương; bỏ thì giờ đi dự lễ hay đọc kinh Mân Côi chẳng có khó khăn gì mấy, rất dễ làm, nhưng sống kinh Mân Côi mới là khó. Việc cải thiện đời sống mới là khó. Thế nhưng đây là việc cốt yếu cần làm. Nếu như ta đã siêng năng tham dự Thánh Lễ; đã đi hành hương nhiều nơi; có đọc ro ro 50 kinh mỗi ngày mà chưa cải thiện đời sống coi chừng uổng công.

 

Có ai đơn sơ đến ngây ngô nghĩ rằng, tôi cứ đi hành hương Đức Mẹ, ở đâu tôi cũng đi: nào là Đức Mẹ Ta-pao; Đức Mẹ Trà Kiệu, Đức Mẹ La vang; Đức Mẹ Bình Triệu; Đức Mẹ Fatima; Đức Mẹ Lộ đức,….và hằng ngày đọc một hay ba bốn chuỗi kinh Mân Côi là an tâm và chắc chắn lên thiên đàng thẳng cẳng không? Lên thiên đàng dễ dàng vậy sao? Vì trong 15 lời Đức Mẹ hứa ban cho những ai lần chuỗi Mân Côi, lời hứa thứ 15 là: Ai “Tôn sùng phép lần chuỗi Mân Côi của Mẹ là dấu chỉ chắc chắn sẽ được về thiên đàng”.

 

Ở đây ta thấy chữ “Tôn sùng”, chứ không phải chữ “lần hạt” hay chữ “đọc” kinh Mân Côi. Việc “Tôn sùng” ở đây nghĩa là làm gì? Ta đọc thấy trong lời hứa thứ sáu: “Những ai lần chuỗi Mân Côi sốt sắng và áp dụng các mầu nhiệm Mân Côi vào đời sống mình sẽ không bao giờ bị rủi ro. Chúa sẽ không trừng phạt họ trong cơn thịnh nộ của Ngài; họ sẽ không phải chết bất tử. Nếu sống công chính, họ sẽ được vững mãi trong ơn nghĩa Chúa và trở nên xứng đáng được hưởng sự sống đời đời”.

 

Rõ ràng là có hai việc ta phải làm để Tôn sùng phép lần chuỗi Mân Côi, đó là lần chuỗi và áp dụng. Nếu ta chỉ lần chuỗi mà chưa áp dụng thì ta mới chỉ làm có một nửa, chưa trọn vẹn. Mà cái phần chưa làm lại là phần quan trọng nhất, vì điều đó sẽ quyết định cho ta có nên thánh nên thiện và vào thiên đàng không. Vậy ta phải áp dụng Mầu Nhiệm chuỗi Mân Côi thế nào đây? Cũng dễ thôi chứ không khó.

 

Như Năm sự Vui ta có 5 việc phải áp dụng, đó là:

 

  1. Sống khiêm nhường như Đức Mẹ (Ngắm thứ nhất).
  2. Có lòng yêu người (Ngắm thứ hai).
  3. Yêu mến sự khó nghèo (Ngắm thứ ba).
  4. Có tinh thần vâng lời (Ngắm thứ tư).
  5. Giữ nghĩa cùng Chúa luôn, tức là không phạm tội trọng

(Ngắm thứ năm).

 

 Năm sự Thương có 5 việc phải áp dụng là:

 

  1. Ăn năn tội và chừa tội, không làm điều xấu nữa (Ngắm thứ nhất).
  2. Chịu khó làm việc, học hỏi, luyện tập các nhân đức (Ngắm thứ hai).
  3. Bắng lòng chịu những sỉ nhục, sỉ vả; nói hành, nói xấu của người khác (Ngắm thứ ba).
  4. Vác Thập giá mình mà theo chân Chúa (Ngắm thứ tư).
  5. Chết đi cho tội và sống cho Thiên Chúa (Ngắm thứ năm).

 

Năm sự Mừng có 5 việc phải áp dụng là:

 

  1. Lo cho phần hồn cho được cứu rỗi (Ngắm thứ nhất).
  2. Ái mộ những sự trên trời, chứ đừng ham hố tiền của, danh vọng đời này (Ngắm thứ hai).
  3. Sử dụng 7 ơn Chúa Thánh Thần đã lãnh nhận ngày chịu phép Thêm Sức (Ngắm thứ ba).
  4. Ở hiền, ở lành để gặp lành gặp hiền và được chết lành trong trong tay Đức Mẹ (Ngắm thứ tư).
  5. Thực hiện ba mệnh lệnh Fatima, để vào thiên đàng với Mẹ

(ngắm thứ năm).

 

Năm sự Sáng có 5 việc phải áp dụng là:

 

  1. Sống xứng đáng là con Chúa qua phép rửa tội (Ngắm thứ nhất).
  2. Tin vào Chúa và tin vào quyền năng của Chúa (Ngắm thứ hai).
  3. Hoán cải và đón nhậnTin Mừng (Ngắm thứ ba).
  4. Lắng nghe và thực hành Lời Chúa (Ngắm thứ tư).
  5. Năng tham dự Thánh Lễ và hiệp lễ (Ngắm thứ năm).

 

Như thế qua 4 Mầu Nhiệm Mân Côi ta có 20 việc phải áp dụng vào cuộc sống của mình. Ta nên tập và áp dụng từng Mầu Nhiệm, từng việc một; sao cho mỗi lần lần chuỗi Mân Côi ta lại tập và áp dụng một trong 20 việc phải làm. Ta sẽ phải tập áp dụng 20 việc này cho đến khi ta nhắm mắt xuôi tay. Người nào áp dụng 20 việc này vào cuộc sống mình thì chắc chắn dần dần sẽ nên thánh, nên thiện. Mà nên thánh nên thiện thì mới được vào Thiên Đàng. Đó là điều chắc chắn 100%. Đúng như lời hứa mà Đức Mẹ đã hứa.

 

Vậy trong khi đọc kinh Mân Côi ta hãy chú ý và xin Mẹ giúp ta sống và áp dụng các Mầu Nhiệm Mân Côi trong cuộc sống của ta. Như thế ta sẽ nên con của Mẹ và đích thực là Con cái Chúa.

 

Hãy đọc kinh Mân Côi và áp dụng các Mầu Nhiệm của kinh Mân Côi các bạn nhé !!!!!!

 

Nước Trời đang chờ chúng ta đấy !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

Đức Mẹ đang chờ chúng ta đấy!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

Chúa đang chờ chúng ta đấy!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

Các thánh Nam Nữ đang chờ chúng ta đấy!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

 

Lm. Bosco Dương Trung Tín.

Đấng Đáng Kính ĐHY PX Nguyễn Văn Thuận

OTHER969433_Articolo

Làm Gương Sáng

NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI

TUỔI TRẺ ĐẸP NHƯ HY VỌNG 

10 ĐIỀU RĂN 

Đường Hy Vọng – Linh đạo của Đức Hồng y F.X. Nguyễn Văn Thuận

“ĐẸP NHƯ HY VỌNG”

Đường Hi Vọng

Duc Hong Y Francis Xavier Nguyen Van Thuan

Đời Tù Đầy: “Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá”

Công Lý & Hòa Bình: 13 năm tù Cộng Sản

Di Sản Tinh Thần của  ĐHY.PX. Nguyễn văn Thuận

Đức Hồng Y Phanxico Nguyễn văn Thuận Với Giới Trẻ Việt Nam năm 2000

Mười Điều Răn – Chúa Dạy Ta Điều Gì? Bài Giảng Của ĐHY PX Nguyễn Văn Thuận

Bài giảng “10 KHUYẾT ĐIỂM CỦA CHÚA GIÊSU” | Đức Cố Hồng Y P.X Nguyễn Văn Thuận

Đức Hồng Y Thuận

Bài Giảng Tĩnh Tâm Cho Giáo Triều Roma 2000 tập 1/6

Bài Giảng Tỉnh Tâm Cho Giáo Triều Roma 2000 tap 2/6

Bài Giảng Tỉnh Tâm Cho Giáo Triều Roma 2000 tập 3/6

Bài Giảng Tỉnh Tâm Cho Giáo Triều Roma 2000 tập 4/6

Bài Giảng Tỉnh Tâm Cho Giáo Triều Roma 2000 tập 5/6

Bài Giảng Tỉnh Tâm Cho Giáo Triều Roma 2000 tập 6/6

Vai Trò Chứng Nhân Của Người Công Giáo Việt Nam Tại Hải Ngoại

10 Bài Học Thành Công và Thất Bại Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận dành cho Giới Trẻ Công Giáo Việt Nam

Thánh lễ an táng Đức Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn Văn Thuận

 

Đức Hồng Y
Phanxicô Xavier NGUYỄN VĂN THUẬN

Viết trong những năm bị giam cầm
trong ngục tù CSVN

Lời nói đầu
Hãy hiểu Đức Ki-tô là Chúa nơi lòng anh em,
luôn luôn sẵn sàng đáp lời với mọi người hỏi lẽ anh em
về mối hy vọng có trong anh em,
nhưng với một lòng hiền từ, kính nể
(1 Pr 3,15-16).

Lời nhắn nhủ
  
Các con thân mến,
Cha lại đi thêm một quãng đường
Chông gai mịt mù và vô định
Trên đường Cha gặp lắm lữ khách
Cha đã xem tất cả là bạn
Xem mọi biến cố là kinh nghiệm quí báu
Vì tất cả là hồng ân.
Trong u tối thinh lặng và cô đơn
Cha đã nhớ đến mọi người
Đã hiến dâng mỗi người trong các con
Chúa đã cho Cha những giây phút đẹp nhất
Không bao giờ có lời cầu nguyện thắm thiết hơn
Không bao giờ có thánh lễ sốt mến hơn
Không bao giờ có cơ hội thuận tiện hơn
Để hiệp nhất trong tình yêu Chúa
Để thi thố tình yêu giữa hận thù
Để gieo rắc hy vọng giữa tuyệt vọng
Vật chất có thể mất tất cả
Chúa là tình yêu
Tình yêu Chúa liên lỉ thúc bách Cha
Hãy yêu như Chúa đã yêu.
Cha không còn gì cả
Nhưng mỗi ngày
Cha tặng tình yêu Chúa cho mọi người
Trong Thánh Tâm Chúa và Mẹ Ma-ri-a
Cha vẫn gần gũi các con
Âu yếm và thân tình
Các con chiếm một chỗ đặc biệt
Trong quả tim Cha.
Cha đã để lại vài kinh nghiệm khiêm tốn
Trong cuốn Đường Hy Vọng
Hãy đọc những tâm tình của Cha
Dưới ánh sáng Lời Chúa và Công Đồng
Hãy suy nghĩ, cầu nguyện, hành động
Để quả tim các con
Ngập tràn Tin Yêu, Hy Vọng
Xin các con bù đắp những thiếu sót
Vì điều kiện và khả năng rất giới hạn.
Đây là lời trăn trối của Cha:
Theo gương Đức Phao-lô VI
«Chương trình của tôi
Là thực hiện Công Đồng Vatican II»
Các con hãy nỗ lực đem niềm hy vọng
Lan tỏa trong môi trường các con đang sống.
Như Đức Gio-an XXIII
Cha dâng phần còn lại của cuộc đời Cha
Cầu nguyện, hy sinh, phục vụ
Xin Chúa, xin Mẹ Ma-ri-a và thánh Giu-se
Giúp các con vững bước trên Đường Hy Vọng.
Nhắn con ngàn lẻ một lời,
Ngày đêm suy niệm trọn đời hiến dâng.


  
1. RA ĐI
Dù là xích vàng
Còn bị ràng buộc
Con không lên đường được
1. Chúa đặt con trên đường, «để con ra đi và thu được nhiều hoa trái» (Ga 15,16). Đường
ấy là «đường hy vọng», vì chan chứa hy vọng, vì đẹp như hy vọng. Sao không hy vọng
khi con đi với Chúa Giêsu, khi con về cùng Chúa Cha?
2. Bí quyết của đường hy vọng
1. Ra đi : «bỏ mình»
2. Bổn phận : «vác thánh giá mình mỗi ngày»
3. Bền chí : «theo Thầy» (Mt 16,24).
3. Bỏ tất cả mà chưa bỏ mình thì con chưa bỏ gì cả, vì chính mình con sẽ dần dần quơ góp lại những gì con đã bỏ trước.
4. Abraham đã ra đi, vì hy vọng đến đất hứa. Maisen đã ra đi, vì hy vọng cứu dân Chúa
khỏi nô lệ. Chúa Giêsu đã ra đi từ trời xuống đất, vì hy vọng cứu nhân loại.
5. Dù có ra khỏi nhà, đi phương xa vạn dặm mà cứ mang theo tất cả tật xấu, cả con người
cũ, thì có khác gì ở nhà đâu?
6. Các thánh là những người điên vì Chúa. Khôn ngoan thế gian quá không làm thánh
được.
7. Đã ra đi, phải bất chấp lưỡi thiên hạ đàm tiếu. Ba đạo sĩ ra đi, hy vọng gặp Chúa Cứu
Thế, họ đã gặp; Phanxicô Xaviê ra đi, hy vọng cứu các linh hồn, ông đã gặp; Gôrétti ra
đi, thoát chước cám dỗ, hy vọng gặp được Chúa, chị đã gặp.
8. Mất để được, chết để sống, từ để gặp. Ba đạo sĩ liều hiểm nguy, chế nhạo; Phanxicô liều
xa cha mẹ, mất của cải, chức tước, thú vui; Gôrétti liều mạng sống.
9. Tiến lên trên đường hy vọng, bất chấp những van nài, tan nát lòng của tình thân thuộc
cố tri, như Phaolô: «Xiềng xích với gian nan đang chờ tôi» (Cv 20,23), như Chúa Giêsu:
«Này Thầy lên Giêrusalem để chịu nạn» (Mt 20,18).
10. Giàu hay nghèo,
Khen hay chê,
Sang hay hèn,
Không sao cả, chấp nhận tiến lên trên đường hy vọng hồng phúc và đợi ngày trở lại của
Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu chuộc chúng ta.
11. «Ta là sự thật» (Ga 14,6). Không phải báo chí là sự thật, không phải đài phát thanh là sự thật, không phải ti-vi là sự thật. Con theo loại sự thật nào?
12. Đi, đi mãi, đi quyết liệt, đi không nhượng bộ; không ai tin người nhượng bộ cũng như
không ai đi với người đi lùi.
13. Không nhượng bộ cho xác thịt,
Không nhượng bộ cho lười biếng,
Không nhượng bộ cho ích kỷ…
Con không thể gọi đen là trắng, xấu là tốt, gian là ngay được.
14. Ba phải?
Đi đường nào được?
Chẳng lẽ có: Ba Chúa?
Ba Hội Thánh?
Ba luân lý?
Ba lương tâm?
15. Không nhượng bộ, không phải là kiêu căng, tự ái hay ngoan cố. Không nhượng bộ là
yêu thương quyết liệt lý tưởng của mình.
16. Thà mất tiền của, chức tước, thà mất mạng sống để giữ lý tưởng, danh dự, đức tin, con
chấp nhận. Nhưng không bao giờ con chấp nhận đổi ngược lại: lỗ lã quá!


  
2. BỔN PHẬN
Bổn phận là giấy vào Nước Trời
17. Bổn phận là ý Chúa trong giây phút hiện tại.
18. Có người không vác thánh giá của mình hay của người khác mà tưởng tượng thánh giá
mình quá nặng. Có người vác thánh giá cả làng mà không vác thánh giá của mình. Có
người vác thánh giá cả làng và gán thánh giá của mình bắt kẻ khác vác.
19. Thánh hoá bổn phận của con. Thánh hoá người khác nhờ bổn phận con. Thánh hoá
chính mình con trong bổn phận.
20. Nếu ai cũng thánh hoá trong bổn phận thì tâm hồn mới, gia đình mới, thế giới mới.

§

⇓  Tải xuống toàn bộ sách Đường hy vọng

Đức Thánh Cha tôn phong 35 tân hiển thánh

VATICAN. Từ chúa nhật 15-10-2017, Giáo Hội đã có thêm 35 vị hiển thánh: 33 thánh tử đạo và 2 thánh hiển tu.

Đó là 3 thiếu niên tử đạo đầu tiên tại Mêhicô vào năm 1526, tiếp đến là 2 LM: Cha Anrê de Soveral, Cha Ambrosio Francesco Ferro và 28 giáo dân tử đạo tại Brazil năm 1645. Rồi đến hai chân phước hiển tu: Cha Angelo D’Acri dòng Capuchino người Italia và Cha Cha Manuel Míguez González dòng Scolopi người Tây Ban Nha.

ĐTC Phanxicô đã chủ sự thánh lễ phong thánh từ lúc 10 giờ 15 tại Quảng trường Thánh Phêrô trước sự hiện diện của 30 chục ngàn tín hữu, trong đó có hơn 600 người đến từ bang Tlaxcala quê hương của 3 thiếu niên tử đạo người Mêhicô. Ngoài ra có các phái đoàn chính phủ 4 nước: Brazil, Mêhicô, Tây Ban Nha và Italia.

4 bức tranh lớn của 4 nhóm các vị được treo ở mặt tiền đền thờ Thánh Phêrô.

Đồng tế với ĐTC có hơn 60 HY, GM, đặc biệt từ các giáo phận và dòng tu liên hệ với các vị tử đạo. Ngoài ra có hơn 600 linh mục.

Đầu thánh lễ, ĐHY Angelo Amato, Tổng trưởng Bộ Phong Thánh, cùng với 4 vị thỉnh nguyện viên của 4 án phong thánh, tiến lên trước ĐTC để xin ngài phong thánh cho 35 vị chân phước. Rồi ngài tóm lược tiểu sử của các vị.

30 thánh tử đạo Brazil

Công cuộc truyền giáo tại Bang Rio Grande do Norte ở miền duyên hải đông bắc Brazil được khởi sự hồi năm 1597 do các thừa sai dòng Tên và các linh mục giáo phận, đến từ Bồ đào nha. Các vị bắt đầu bằng việc giảng dạy giáo lý cho các thổ dân bản xứ và thành lập các cộng đoàn Công Giáo đầu tiên.

Những năm sau đó, có những người Pháp và Hòa Lan đổ bộ lên vùng này với chủ ý chiếm đoạt những nơi mà người Bồ đào nha đến lập cư trước đó. Người Hòa Lan thành công trong ý định này vào năm 1630. Họ là những người theo Tin Lành Cải cách của Calvin và có các mục sư đi kèm. Họ giới hạn tự do tôn giáo tại một vùng trong đó cho đến bấy giờ, các tín hữu Công Giáo được tự do hành đạo. Vì thế, trong thực tế với sự chiếm đóng của người Hòa Lan, các tín hữu Công giáo tại bang Rio Grande do Norte bắt đầu bị bách hại.

Hồi đó tại bang này chỉ có hai giáo xứ: tại Cunháu, có Giáo xứ Đức Mẹ Thanh Tẩy do cha André Soveral coi sóc, nguyên thuộc dòng Tên; tiếp đến tại Natal có giáo xứ Đức Mẹ Dâng Mình do cha Ambrosio Francisco Ferro làm cha sở.

Cả hai xứ đạo đều là nạn nhân của cuộc bách hại cam go do người Tin Lành Calvin gây ra: các tín hữu tại xứ Cunhau bị giết hại ngày chúa nhật 16-7 năm 1645 cùng với cha sở André Soreval, 73 tuổi. Trong nhà thờ hôm đó có gần 70 giáo dân dự lễ. Phần lớn họ là nông dân, làm việc trong đồn điền trống mía. Vừa sau khi cha truyền phép, một toán lính Hòa Lan cùng với các thổ dân thuộc bộ lạc Tapuias võ trang tràn vào nhà thờ và tấn công dã man các tín hữu đang dự lễ. Cha Soreval buộc phải ngưng thánh lễ và cùng với các tín hữu hiện diện đọc kinh của những người hấp hối. Tất cả các thổ dân đều bị giết, ngoại trừ 5 tín hữu người Bồ đào nha bị bắt làm con tin. Trong số 60 người bị giết, người ta chỉ biết tên cha sở Soreval và một giáo dân Domingos Carvallo.

Tại giáo xứ Natal, cha sở Ambrosio và các giáo dân hay tin thảm sát, đã tìm cách chạy trốn, nhưng bị người tin lành bắt và đưa tới Uraxu, bị cắt chặt thân thể và để cho chết dần chết mòn. Lúc đó là tháng 10 cùng năm 1645. Thi thể họ bị bỏ mặc cho mưa gió và thú dữ. Số người bị giết ít nhất là 28 người.

 3 thiếu niên tử đạo tại Mêhicô

Ba thánhthiếu niên Mêhicô tử đạo năm 1527 và 1529 ở Tlaxcala là Cristoforo, Antonio và Gioan. Hoa quả đầu mùa của công cuộc truyền giáo ở Mỹ châu. Hai vị đầu tiên thuộc dòng dõi quí tộc, thân phụ là hai tù trưởng, còn Gioan là đầy tớ của Antonio.

Các thừa sai dòng Phanxicô và Đa Minh đến truyền giáo tại miền Tlaxcala. Các thổ dân ở đó thờ các thần minh và thường có những vụ sát tế người cho cac thần. Các thừa sai dùng cả các phương pháp quyết liệt như phá hủy các đền thờ và thần tượng ngoại giáo. Việc làm này đưa tới phản ứng của phần lớn thổ dân địa phương, và họ trút bỏ sự thịnh nộ trên 3 thiếu niên Cristoforo, Antonio và Gioan.

Cristoforo sinh năm 1514, và con trai cưng và cũng là người sẽ nối nghiệp tù trưởng Axcotecatl. Chẳng bao lâu, Cristoforo cũng theo gương của ba người anh em khác, đến học trường của các thừa sai Phanxicô từ năm 1524. Cristoforo theo học giáo lý và tự nguyện xin chịu phép rửa tội, và nhận tên thánh là Cristoforo. Và trong thời gian ngắn sau đó cậu trở thành tông đồ truyền bá Tin Mừng cho những người thân trong gia đình và những người quen biết.

Cristoforo đề nghị với thân phụ và xin ông theo đạo, từ bỏ những tật xấu, nhất là tật say rượu. Nhưng ông không quan tâm gì đến những lời khuyên của con, và thế là Cristoforo đập vỡ các thần tượng trong nhà. Cậu bị cha cảnh cáo và tha thứ nhiều lần. Nhưng khi thấy con tái diễn nhiều lần những hành động như thế, người cha quyết định giết con.

Ông lập kế gọi các con từ trường của các cha Phanxicô về nhà. Trong khi các anh em của Cristoforo vào nhà thì ông nắm lấy tóc của cậu bé và vật cậu xuống đất, rồi lấy chân đá và dùng gậy để đánh con, làm cho chân tay của cậu bị gẫy. Khi thấy Cristoforo, tuy đau đớn, nhưng vẫn tiếp tục cầu nguyện, ông quăng con vào đống lửa đang cháy. Vài ngày sau, cả mẹ của Cristoforo cũng bị giết vì đã toan tính bảo vệ cậu con.

Người cha âm thầm chôn xác Cristoforo trong một gian phòng trong nhà. Một nhân chứng cho biết sau đó ông ta bị kết án tử hình vì tội ác đó, có lẽ là do những người Tây Ban Nha trừng phạt. Vụ này xảy ra hồi năm 1527 và bấy giờ Cristoforo mới được 13 tuổi.

Hai vị tử đạo Antonio và Gioan; sinh khoảng năm 1516. Antonio là cháu và là người thừa kế của tù trưởng địa phương, còn Gioan là đầy tớ của Antonio. Cả hai đều theo học tại trường của các cha dòng Phanxicô. Theo lời thỉnh cầu của một thừa sai dòng Đa Minh, Antonio và Gioan xung phong đi làm thông ngôn giúp các thừa sai thu thập các thần tượng.

Một hôm, Antonio vào nhà và Gioan đứng ngoài cửa, một số thổ dân giận dữ, võ trang gậy gộc, tiến đến gần. Họ đánh Gioan mạnh đến độ cậu chết ngay tại chỗ. Antonio chạy lại bênh đỡ và nói với những kẻ hành hung: ”Tại sao các ông lại đánh bạn của tôi, cậu ta đâu có tội gì? Chính tôi mới là người thu thập các tượng, vì đó là ma quỉ chứ chẳng phải là thần minh”. Các thổ dân cũng dùng gậy đánh Antonio cho đến chết.

Thi hài của Antonio và Gioan bị họ vứt xuống một rãnh gần Dacalco. Cha Bernardino dòng Đa Minh thu lượm hai thi hài và đưa về Tepeaca để an táng trong một nhà nguyện.

 Thánh linh mục Angelo D’Acri

Thánh Angelo sinh năm 1669 trong một gia đình nghèo ở Acri, gia nhập dòng Capuchino và thụ phong Linh mục năm 1700 khi được 31 tuổi. Cha hăng say thi hành công tác giảng thuyết, đảm nhận các tuần đại phúc, ở miền Calabria và các nơi khác ở miền nam Italia.

Bất cứ nơi nào có cha giảng thuyết, người dân tuốn đến đông đảo lắng nghe rồi xếp hàng chờ được xưng tội với cha. Cha sẵn sàng ngồi tòa giải tội, kiên nhẫn nghe lời thú tội của từng tội nhân thuộc mọi lứa tuổi và mọi đẳng cấp xã hội để giải hòa họ với Thiên Chúa.

Mặc dù tính tình rất khiêm tốn, không hề muốn những chức vụ cao trọng, cha Angelo cũng từng phải đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng trong dòng như bề trên tỉnh dòng, cha giám tập, tổng kinh lược của dòng trong nhiều năm.

Sau gần 40 năm nhiệt thành hoạt động tông đồ, cha Angelo D’Acri kiệt lực qua đời ngày 30.10.1739 tại Acri, hưởng thọ 70 tuổi.

Ngay sau khi qua đời, từ nhiều nơi ở vùng Calabria và miền Nam Italia, người dân đã bắt đầu tôn kính cha như một vị thánh.

Thánh Manuel Míguel González

Cha Manuel Míguez González sinh cách đây 186 năm, tại tỉnh Orense bên Tây Ban Nha, năm 1831.

Khi được 19 tuổi, Manuel Míguez gia nhập dòng các cha Scolopi và nhận tên dòng là Faustino Nhập Thể và thụ phong linh mục năm 1857.

Cha Faustino được cử đi dạy học tại các trường của dòng, trước tiên tại Tây Ban Nha, rồi sang Cuba. Cha cũng nghiên cứu về dược thảo và chữa bệnh cho dân chúng và nổi tiếng trong lãnh vực này.

Năm 1872, cha được yêu cầu phân tích nước uống ở thành phố Sanlúcar và cha nhận lời. Cha nghĩ đó là phương thức để thoa dịu đau khổ của dân chúng, và cha cảm thấy mình là người của dân chúng và cho dân chúng.

Trong gần 50 năm trời dạy học, cha Faustino vẫn luôn tìm cách sống và hoạt động âm thầm, không tìm kiếm sự chú ý của người khác, và tận tụy giáo dục giúp đỡ các học sinh và người trẻ với một sự nhạy cảm đặc biệt, tôn trọng và quí mến. Cha biết rõ mỗi học sinh và cảm thấy được kêu gọi trở thành người đồng hành và người bạn, người thầy và là người hướng đạo của các em trên con đường giúp các em thành đạt.

Trong thời gian ấy, cha Faustino Míguez nhận thấy tình trạng dốt nát và bị gạt ra ngoài lề của các phụ nữ ở Sanlúcar. Họ không được theo học ở các trường tiểu học. Từ đó cha thấy rằng cần phải hướng dẫn họ từ tuổi thơ ấu để có thể thực sự thăng tiến nhân bản cho họ. Cha bắt đầu săn sóc một số trẻ nữ, dạy giáo lý cho các em với sự cộng tác của một vài phụ nữ. Nhóm này về sau trở thành dòng các nữ tu Chúa Mục Tử, với mục đích giáo dục các trẻ nữ nghèo, theo tinh thần và phương pháp của thánh Giuse Calasanzio.

Dòng được bản quyền giáo phận phê chuẩn và sau cùng được ĐGH Piô 11 phê chuẩn hiến pháp chung kết vào năm 1922. Năm sau đó các nữ tu đầu tiên được gửi đi truyền giáo ở Phi châu và Mỹ châu.

Ngoài các hoạt động giáo dục và y tế, cha Faustino còn viết nhiều sách, với ngôn từ đơn sơ, góp phần phổ biến khoa học. Cha không quên nghĩa vụ linh mục, dành nhiều thời giờ cho việc giải tội và linh hướng cho nhiều người. Cha qua đời tại Getafe ngày 8-3 năm 1925, thọ 94 tuổi.

Tôn phong hiển thánh

Tiếp lời ĐHY Tổng Trưởng Bộ Phong Thánh, ĐTC mời gọi mọi người cầu xin ơn phù trợ của Mẹ Maria và các Thánh.

Sau đó ĐTC đã đọc công thức lấy quyền Tông Đồ truyền ghi tên 35 vị chân phước vào sổ bộ các thánh của Giáo Hội truyền tôn kính các vị như những vị thánh.

Cộng đoàn hát mừng chúc tụng Chúa, cùng với kinh Vinh Danh, trong khi thánh tích của các vị tử đạo được rước lên bàn thờ.

Bài giảng của Đức Thánh Cha

Trong bài giảng Thánh Lễ, ĐTC đã quảng diễn bài Tin Mừng về dụ ngôn Nước Thiên Chúa như Tiệc Cưới (xc Mt 22,1-14). Ngài nhận xét rằng: ”Nhân vật chính là hoàng tử, là vị hôn phu, qua đó ta dễ nhận thấy đó là Chúa Giêsu. Nhưng trong dụ ngôn không hề nói đến hôn thê, mà nói đến nhiều khách mời, được mong muốn và chờ đợi. Chính họ là người mặc áo cưới. Những khách mời ấy là tất cả chúng ta, vì Chúa muốn ”cử hành hôn lễ” với mỗi người chúng ta. Các hôn lễ khai mào cuộc hiệp thông trọn cuộc sống: đó là điều chính Thiên Chúa muốn với mỗi ngừơi chúng ta. Vì thế, tương quan của chúng ta với Chúa, không thể chỉ là tương quan của những thần dân sùng kính nhà vua, những người đầy tớ trung tín với chủ, hoặc tương quan của các học sinh chuyên cần đối với Thầy, nhưng trước hết là tương quan của hôn thê được yêu mến với hôn phu của mình. Nói khác đi, Chúa muốn chúng ta, tìm kiếm và mời chúng ta, và Ngài không chỉ hài lòng nếu chúng ta chu toàn các bổn phận tốt và tuân giữ các giới luật của Ngài, nhưng Chúa muốn có một cuộc hiệp thông cuộc sống thực sự với Ngài, một tương quan đối thoại, tín thác và tha thứ”.

Sau khi khai triển một số khía cạnh của tương quan phu phụ của tín hữu với Thiên Chúa, đặc biệt là sự kiện nhiều người từ khước lời mời của Thiên Chúa và chỉ quan tâm tới những lợi ích riêng tư của họ, ĐTC nhấn mạnh rằng:

”Có một khía cạnh chót mà Tin Mừng nhấn mạnh, đó là áo của các khách mời, là điều không thể thiếu được. Thực vậy, không phải chỉ thưa nhận lời mời là đủ, nhưng còn cần phải mặc áo, cần có ”tập quán” sống tình yêu mỗi ngày. Vì không thể nói ”Lạy Chúa, Lạy Chúa” mà không sống và thực thi ý Chúa (Xc Mt 7,21). Chúng ta cần mặc lấy tình thương của Chúa mỗi ngày, canh tân mỗi ngày sự chọn lựa theo Chúa. Các Thánh được tôn phong hôm nay, nhất là bao nhiêu vị Tử Đạo, chỉ cho thấy con đường ấy. Các vị không phải chỉ thưa bằng lời nói ”xin vâng” với tính yêu, và trong một thời gian ngắn, nhưng bằng cuộc sống và cho đến cùng. Áo hằng ngày của các ngài là tình yêu của Chúa Giêsu, tình yêu điên rồ khiến Chúa yêu thương chúng ta đến cùng, để lại tha thứ và áo của Ngài cho kẻ đã đóng đinh Ngài. Cả chúng ta cũng đã nhận lãnh áo trắng khi rửa tội, áo cưới với Thiên Chúa. Chúng ta hãy cầu xin Chúa, nhờ lời chuyển cầu của các thánh anh chị chúng ta, ơn chọn lựa và mặc áo ấy hằng ngày và giữ cho áo này thanh sạch. Bằng cách nào? Trước tiên bằng cách đi lãnh nhận ơn tha thứ của Chúa mà không sợ hãi: đó là bước quyết liệt để đi vào phòng hôn lễ, để cử hành lễ tình yêu với Chúa”.

G. Trần Đức Anh OP

Mặt Trời Múa

13 Tháng Mười

Related image

Mặt Trời Múa

Hôm nay 13 tháng 10, là kỷ niệm Ðức Mẹ hiện ra lần thứ sáu cho ba em Lucia, Phanxicô và Giacinta tại làng Fatima bên Bồ Ðào Nha.

Ðây là lần hiện ra có đông đảo dân chúng chứng kiến nhất. Mặc dù thời tiết xấu, ngay từ ngày 12, có trên mười ngàn người Bồ Ðào Nha từ khắp nơi trong nước đổ xô về Fatima để chờ đợi phép lạ như Ðức Mẹ đã hứa trong các lần hiện ra trước. Người lo lắng nhất trong suốt mấy ngày hôm đó chính là bà mẹ của Lucia. Bà khuyên cô con gái hãy đi xưng tội để nhỡ nếu không có phép lạ xảy ra, thì khi bị giết chết, họ cũng an tâm vì đã xưng tội. Cô Lucia trả lời: con sẽ đi xưng tội, nhưng không phải vì sợ phép lạ không xảy ra… Ðức Mẹ sẽ giữ lời hứa.

Buổi sáng sớm ngày 13/10, người ta đã thấy đám đông đứng phủ đầy ngọn đồi Cova da Iria, nơi Ðức Mẹ hứa sẽ hiện đến. Dưới cơn mưa lất phất của những ngày đầu mùa thu, ai cũng cảm thấy lạnh cóng, nhưng đều hiệp ý với nhau trong lời kinh Mân Côi kính Mẹ. Mọi người đều chăm chú hướng nhìn về ba em bé mục đồng, trong y phục rách rưới và bê bết những bùn.

Lucia bắt đầu đọc kinh Mân Côi, bỗng cô hô lớn: “Xin mọi người hãy xếp dù lại”. Với hai em Phanxicô và Giacinta, cô ra lệnh: “Hai em hãy quỳ xuống, vì Ðức Mẹ đang hiện đến”.

Cùng với ba em, nhiều người đã nhìn thấy vệt sáng trên nền trời. Trong một cái nhìn vừa cảm thông và u buồn, Ðức Mẹ nói với ba em bé: “Ta là Ðức Mẹ Mân Côi… Ta muốn người ta xây một nhà nguyện tại đây để kính nhớ Ta. Các con hãy tiếp tục lần hạt mỗi ngày”. Và Ðức Mẹ đã hứa sẽ nhận lời cầu xin của một số người mà Lucia đại diện trình lên Mẹ. Nhưng Mẹ cảnh cáo: “Ðừng xúc phạm đến Chúa nữa, người ta đã xúc phạm quá đỗi rồi”. Nói xong những điều đó, Ðức Mẹ chỉ tay về hướng mặt trời… Trong cơn ngây ngất, Lucia đã thốt lên: “Xin mọi người hãy nhìn về mặt trời”.

Lạ lùng thay, ai cũng có thể nhìn về mặt trời mà không bị lóa mắt. Như một bánh xe cuồn cuộn lửa đỏ, ánh thái dương bỗng quay lượn, nhảy múa và toát ra những tia sáng muôn màu sắc. Rồi thình lình, từ trời cao, mặt trời bỗng đổ xuống như một trái bóng da khổng lồ. Trong cơn hốt hoảng, mọi người cảm thấy như mặt trời sắp rơi xuống, ai ai cũng nằm rạp xuống trên bãi cỏ và đấm ngực ăn năn như để chờ đợi giây phút cuối cùng của vũ trụ… Hiện tượng mặt trời nhảy múa và sa xuống mặt đất kéo dài trong vòng hai phút. Khi mặt trời đã trở lại trạng thái bình thường, mọi người đều nhận thấy rằng, bãi cỏ ướt đẫm trong cơn mưa bỗng trở nên khô ráo.

Việc Ðức Mẹ hiện ra và hiện tượng mặt trời nhảy múa đi kèm như được mô tả trên đây, mang nhiều ý nghĩa.

Chính phủ cách mạng tại Bồ Ðào Nha vào năm 1917 muốn đánh đổ những thứ mà họ gọi là huyền thoại tôn giáo, cũng như dẹp bỏ mọi thứ cuồng tín. Buổi sáng ngày 13/10 hôm đó, cả một lực lượng vũ trang hùng hậu đã được gửi đến đồi Cova da Iria để ngăn cản mọi cuộc tập họp của dân chúng. Báo chí thì tung ra lời tuyên đoán rằng phép lạ sẽ không bao giờ xảy ra và huyền thoại tôn giáo sẽ cáo chung từ hôm đó.

Thế nhưng tất cả những sức ép trên đây đã không đánh đổ được lòng tin của người tín hữu.

Phép lạ mặt trời múa vừa là một thể hiện của quyền năng của Thiên Chúa vừa là một lời mời gọi sám hối. Ðệ nhất chiến tranh đã phát sinh nhiều làn sóng vô thần chủ trương tiêu diệt tôn giáo bằng bạo lực. Bên cạnh những chế độ độc tài chối bỏ quyền sống của con người, nhiều người cũng buông thả trong đời sống luân lý.

Thế giới chỉ có thể cứu vãn được nếu con người biết hoán cải: đó là sứ điệp mà Ðức Maria đã không ngừng lặp đi lặp lại tai Fatima. Và phương tiện để giúp con người hoán cải trước tiên đó là cầu nguyện. Cầu nguyện không những là quay trở lại với Chúa, nhưng còn là một cải đổi tương quan đối với người anh em.

Lịch sử đang lập lại không ngừng. Quyền sống của con người đang bị chối bỏ nhiều nơi trên thế giới. Con người cũng chối bỏ và chà đạp chính Thiên Chúa trong những sa đọa về luân lý. Ðức Maria đang tha thiết kêu mời chúng ta hãy sám hối, siêng năng cầu nguyện với kinh Mân Côi…

Ðó là phương thế duy nhất để cứu vãn thế giới của chúng ta.