Có những câu nói nghe qua tưởng như vô hại, nhưng nếu suy nghĩ cho thật sâu, ta sẽ thấy trong đó có thể ẩn chứa một sai lệch rất lớn về đức tin. Một trong những câu ấy là: “Tư tưởng của người này có thể so sánh với tư tưởng của Chúa Giêsu.” Nếu chỉ hiểu theo nghĩa rất hẹp là đối chiếu để học hỏi, để phân biệt đúng sai, để thấy ánh sáng Tin Mừng vượt trên mọi tư tưởng nhân loại, thì còn có thể tạm chấp nhận như một phương pháp nghiên cứu. Nhưng nếu nói theo nghĩa đặt một người, dù là thiên tài, dù là triết gia, dù là nhà đạo đức, dù là bậc vĩ nhân, dù là người có ảnh hưởng lớn trong lịch sử, ngang hàng với Chúa Giêsu, thì tuyệt đối không thể chấp nhận được. Bởi vì Chúa Giêsu không phải chỉ là một nhà tư tưởng. Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống. Người không chỉ nói về chân lý. Người là Chân Lý. Người không chỉ dạy một con đường. Người là Con Đường. Người không chỉ suy tư về sự sống. Người là Sự Sống.

Đây là điểm nền tảng phải giữ cho thật chắc: dù một người có giỏi đến đâu, sâu sắc đến đâu, thông minh đến đâu, nổi tiếng đến đâu, đạo đức đến đâu, họ vẫn chỉ là con người. Còn Chúa Giêsu là Thiên Chúa làm người. Khoảng cách giữa một con người và Đức Kitô không phải là khoảng cách giữa hai bậc thầy, một người giỏi hơn và một người giỏi kém hơn. Đó là khoảng cách giữa thụ tạo và Đấng Tạo Hóa, giữa trí khôn hữu hạn và Ngôi Lời vĩnh cửu, giữa kẻ tìm kiếm chân lý và chính Chân Lý nhập thể.
Tin Mừng Gioan mở đầu bằng một tuyên bố thần học vô cùng mạnh mẽ: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1,1). Rồi thánh Gioan nói tiếp: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Như vậy, Đức Giêsu không phải là một người bình thường sau này trở thành vĩ đại vì tư tưởng cao siêu. Người là Ngôi Lời từ đời đời, là Con Một của Chúa Cha, đã nhập thể trong lịch sử. Khi Chúa Giêsu nói, không phải chỉ có một bộ óc nhân loại đang trình bày quan điểm. Chính Ngôi Lời Thiên Chúa đang mạc khải sự thật cứu độ cho nhân loại.
Bởi đó, gọi giáo huấn của Chúa Giêsu đơn giản là “tư tưởng” đã là một cách nói cần thận trọng. Con người có tư tưởng vì con người suy nghĩ, tìm kiếm, tranh luận, sửa sai, phát triển, thay đổi. Còn Chúa Giêsu mạc khải. Người không mò mẫm đi tìm chân lý như các triết gia. Người không xây dựng một giả thuyết như các nhà tư tưởng. Người không đưa ra một hệ thống đạo đức do suy luận mà có. Người nói điều Người đã thấy nơi Chúa Cha. Người làm chứng cho sự thật từ Thiên Chúa. Chính Người nói: “Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10,30). Người cũng nói: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9). Có ai trong nhân loại, dù tài ba đến đâu, có thể nói như thế mà không phạm thượng? Không ai cả. Chỉ có Chúa Giêsu mới có thể nói như thế, vì Người thật là Con Thiên Chúa.
Vì vậy, đem tư tưởng của một người vô thần, hay bất cứ người nào, để so sánh ngang hàng với Chúa Giêsu là một sự lẫn lộn nghiêm trọng. Người vô thần có thể giỏi về triết học, xã hội học, tâm lý học, khoa học, chính trị, văn chương, nghệ thuật. Người ấy có thể có nhiều nhận xét sắc bén về con người và cuộc đời. Nhưng người ấy vẫn đứng trong bóng tối của thân phận thụ tạo. Họ có thể nói đúng một phần, sai một phần. Có thể sáng ở điểm này, mù ở điểm khác. Có thể sâu sắc trong phân tích xã hội, nhưng nghèo nàn trong chiều kích siêu việt. Có thể thông minh trong lý luận, nhưng vẫn không biết được mầu nhiệm Thiên Chúa nếu không được mạc khải. Trong khi đó, nơi Chúa Giêsu, “mọi kho tàng khôn ngoan và hiểu biết đều tiềm ẩn” (Cl 2,3). Không phải một ít khôn ngoan, không phải một phần chân lý, nhưng là sự viên mãn của khôn ngoan Thiên Chúa.
Thánh Phaolô nói rất rõ: Đức Kitô là “quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1 Cr 1,24). Đây là chứng minh Kinh Thánh rất mạnh. Chúa Giêsu không phải chỉ là người khôn ngoan. Người là sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Các nhà hiền triết có thể sở hữu một vài tia sáng khôn ngoan. Các triết gia có thể chạm tới một vài mảnh vụn chân lý. Các nhà đạo đức có thể trình bày một vài nguyên tắc sống cao đẹp. Nhưng Đức Kitô là chính sự Khôn Ngoan phát xuất từ Thiên Chúa. Vì thế, không thể đặt sự khôn ngoan của thụ tạo ngang với sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa. Làm như thế là đánh đồng chiếc đèn dầu với mặt trời, đánh đồng giọt nước với đại dương, đánh đồng tiếng vọng với chính Lời hằng sống.
Trong Tin Mừng, dân chúng đã nhận ra một sự khác biệt rất lớn nơi lời giảng của Chúa Giêsu. Sau Bài Giảng Trên Núi, thánh Mátthêu ghi: “Dân chúng sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư của họ” (Mt 7,28-29). Các kinh sư cũng có kiến thức, cũng có học vấn, cũng trích dẫn truyền thống, cũng giải thích Lề Luật. Nhưng Chúa Giêsu nói với thẩm quyền khác hẳn. Người không chỉ lặp lại điều người khác nói. Người không chỉ bình luận một truyền thống. Người phán: “Còn Thầy, Thầy bảo anh em.” Đó là thẩm quyền của Đấng ban Lề Luật, Đấng kiện toàn Lề Luật, Đấng có quyền trên ngày Sabát, có quyền tha tội, có quyền xét xử kẻ sống và kẻ chết.
Một người vô thần, dù tài giỏi, không thể tha tội cho nhân loại. Một triết gia, dù sâu sắc, không thể làm cho kẻ chết sống lại. Một nhà đạo đức, dù cao thượng, không thể ban Thánh Thần. Một nhà cách mạng, dù có ảnh hưởng, không thể mở cửa Nước Trời. Một thiên tài, dù được cả thế giới ca tụng, cũng không thể nói: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28), theo nghĩa cứu độ đời đời. Chỉ có Chúa Giêsu mới có thể nói như vậy, vì Người không chỉ an ủi tâm lý; Người ban ơn cứu độ.
Ở đây cần nhấn mạnh một điểm thần học rất quan trọng: Chúa Giêsu không chỉ là thầy dạy luân lý, mà là Đấng Cứu Độ. Nếu chỉ xem Chúa Giêsu là một bậc thầy đạo đức, người ta mới dễ đem Người so sánh với những bậc thầy khác. Nhưng Hội Thánh không tuyên xưng Đức Giêsu chỉ là người dạy điều hay lẽ phải. Hội Thánh tuyên xưng: “Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế.” Người đến không chỉ để làm giàu tư tưởng nhân loại, mà để cứu con người khỏi tội lỗi và sự chết. Người không chỉ khai sáng trí tuệ, mà tái sinh linh hồn. Người không chỉ chỉ đường, mà chết trên thập giá và sống lại để mở đường về với Chúa Cha.
Chính Chúa Giêsu nói: “Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Câu này phá vỡ mọi ý định đặt Người ngang hàng với các tư tưởng gia nhân loại. Nếu Chúa Giêsu chỉ là một nhà tư tưởng, người ta có thể nói: có nhiều con đường tư tưởng khác nhau, ai thích đường nào thì theo đường ấy. Nhưng Chúa Giêsu không nói: “Thầy chỉ là một trong nhiều con đường.” Người nói: “Thầy là Đường.” Người không nói: “Thầy có một phần sự thật.” Người nói: “Thầy là Sự Thật.” Người không nói: “Thầy có một lý thuyết về sự sống.” Người nói: “Thầy là Sự Sống.” Vì thế, ai đặt Người ngang hàng với một người vô thần, dù vô tình hay hữu ý, là đã làm giảm căn tính duy nhất của Đức Kitô.
Thần học Công giáo gọi Đức Kitô là mạc khải viên mãn của Thiên Chúa. Thư Do Thái viết: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Hr 1,1-2). Các ngôn sứ là những người được Thiên Chúa sai. Các thánh là những người phản chiếu ánh sáng Thiên Chúa. Các nhà hiền triết có thể có chút ánh sáng tự nhiên. Nhưng nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa không chỉ sai một sứ giả; Thiên Chúa ban chính Con Một. Vì vậy, giáo huấn của Chúa Giêsu không phải là một tiếng nói tôn giáo trong số nhiều tiếng nói. Đó là Lời sau cùng, Lời viên mãn, Lời cứu độ của Chúa Cha dành cho nhân loại.
Một người vô thần có thể nói nhiều điều hấp dẫn về tự do. Nhưng tự do của Chúa Giêsu không phải là tự do theo ý muốn chủ quan. Người dạy: “Sự thật sẽ giải phóng anh em” (Ga 8,32). Một người vô thần có thể nói nhiều điều mạnh mẽ về tình yêu nhân loại. Nhưng tình yêu của Chúa Giêsu không chỉ là tình nhân bản. Người nói: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Một người vô thần có thể nói về tha thứ như một phương pháp chữa lành tâm lý. Nhưng Chúa Giêsu tha thứ từ thập giá: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Một người vô thần có thể nói về phẩm giá con người. Nhưng Chúa Giêsu đổ máu mình để cứu chuộc con người. Một người vô thần có thể nói về hy vọng. Nhưng Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết và trở thành nền tảng tuyệt đối của niềm hy vọng Kitô giáo.
Điều này cho thấy: có thể có những điểm bên ngoài nghe giống nhau, nhưng bản chất hoàn toàn khác nhau. Cùng nói về tình thương, nhưng tình thương theo Đức Kitô bắt nguồn từ Thiên Chúa là Tình Yêu. Cùng nói về người nghèo, nhưng Chúa Giêsu không chỉ bênh vực người nghèo như một tầng lớp xã hội; Người đồng hóa mình với người bé mọn. Cùng nói về công bình, nhưng công bình trong Tin Mừng luôn đi với lòng thương xót, hoán cải và ơn cứu độ. Cùng nói về sự thật, nhưng sự thật nơi Chúa Giêsu không phải chỉ là một kết luận lý luận; sự thật ấy là chính bản thân Người.
Vì vậy, nếu nói “người này cũng có tư tưởng giống Chúa Giêsu” thì phải hết sức cẩn thận. Nói như vậy có thể làm người nghe hiểu lầm rằng Chúa Giêsu chỉ là một người đạo đức giỏi hơn người khác một chút. Không. Chúa Giêsu không thuộc cùng một bình diện với bất cứ nhà tư tưởng nào. Người không nằm trong bảng xếp hạng các vĩ nhân. Người không phải là một nhân vật để ta đặt cạnh Socrates, Khổng Tử, Đức Phật, Gandhi, Marx, Nietzsche, Sartre, Camus hay bất cứ ai khác như thể tất cả cùng ngồi chung một bàn tư tưởng. Với cái nhìn đức tin Kitô giáo, Đức Giêsu Kitô là “trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo” và “mọi sự được tạo dựng nhờ Người và cho Người” (Cl 1,15-16). Nếu mọi sự được tạo dựng nhờ Người và cho Người, thì không một thụ tạo nào có thể được đặt ngang hàng với Người.
Thánh Phaolô còn nói: “Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu, để khi nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ” (Pl 2,9-10). Đây không phải là lời ca tụng dành cho một nhà tư tưởng. Đây là lời tuyên xưng phụng vụ và thần học về địa vị độc nhất của Đức Kitô. Trước danh Giêsu, muôn vật phải bái quỳ. Không ai bái quỳ trước một hệ tư tưởng nhân loại. Không ai được phụng thờ một triết gia. Không ai được đặt niềm cứu độ đời đời vào một nhà văn, một nhà khoa học, một nhà chính trị, một người vô thần. Chỉ một mình Thiên Chúa đáng được thờ phượng. Và Hội Thánh thờ phượng Chúa Giêsu vì Người là Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật.
Từ đó, ta thấy nguy hiểm mục vụ rất lớn khi so sánh thiếu phân định. Người bình dân nghe một câu như “tư tưởng của ông này giống tư tưởng của Chúa Giêsu” có thể nghĩ rằng Chúa Giêsu cũng chỉ là một người có tư tưởng hay. Người trẻ nghe nhiều lần như vậy có thể dần dần coi Tin Mừng chỉ là một triết lý sống đẹp. Người trí thức nửa vời có thể dùng các nhà tư tưởng vô thần để “giải thích lại” Chúa Giêsu theo ý mình, rồi vô tình biến Tin Mừng thành một thứ nhân bản không cần Thiên Chúa. Khi đó, thập giá bị biến thành biểu tượng đạo đức, phục sinh bị biến thành ẩn dụ tinh thần, ơn cứu độ bị biến thành sự tự hoàn thiện bản thân, Hội Thánh bị biến thành tổ chức xã hội, và Chúa Giêsu bị hạ xuống thành một bậc hiền nhân.
Đó là điều không thể chấp nhận. Đức tin Kitô giáo đứng hay ngã ở chính căn tính của Chúa Giêsu. Nếu Người chỉ là một người giỏi, ta có thể ngưỡng mộ. Nếu Người chỉ là một nhà đạo đức, ta có thể học hỏi. Nếu Người chỉ là một nhà tư tưởng, ta có thể phê bình, chọn lọc, đồng ý phần này, bỏ phần kia. Nhưng nếu Người là Con Thiên Chúa, thì ta phải tin, phải thờ lạy, phải bước theo, phải hoán cải, phải để Người làm Chúa của đời mình. Kitô giáo không bắt đầu bằng câu: “Tôi thấy tư tưởng của Chúa Giêsu hợp lý.” Kitô giáo bắt đầu bằng lời tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16).
Chính lời tuyên xưng của Phêrô là nền đá cho Hội Thánh. Chúa Giêsu không khen Phêrô vì ông đưa ra một nhận xét thông minh về tư tưởng của Thầy. Chúa khen ông vì ông được Chúa Cha mạc khải căn tính thật của Đức Kitô. “Không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16,17). Điều này rất quan trọng. Chúa Giêsu không thể được hiểu trọn vẹn chỉ bằng phương pháp so sánh tư tưởng. Người phải được nhận biết trong đức tin, nhờ mạc khải của Chúa Cha và ánh sáng của Chúa Thánh Thần.
Các sách Tin Mừng cho thấy nhiều người đã hiểu sai Chúa Giêsu vì họ chỉ nhìn Người theo tiêu chuẩn nhân loại. Có người bảo Người là Gioan Tẩy Giả, có người bảo là Êlia, có người bảo là Giêrêmia hay một ngôn sứ nào đó. Nghĩa là họ xếp Chúa Giêsu vào hàng những nhân vật tôn giáo lớn. Nhưng Phêrô đi xa hơn: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Ngày nay cũng vậy, nhiều người sẵn sàng gọi Chúa Giêsu là bậc thầy luân lý, người khôn ngoan, nhà cách mạng tình thương, biểu tượng hòa bình, mẫu gương nhân ái. Những cách nói ấy có thể đúng một phần, nhưng chưa đủ và có thể nguy hiểm nếu dừng lại ở đó. Đức tin Công giáo phải tuyên xưng trọn vẹn: Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật, là Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại.
Một chứng minh Kinh Thánh khác rất mạnh là biến cố Hiển Dung. Khi Chúa Giêsu hiển dung trên núi, có Môsê và Êlia hiện ra đàm đạo với Người. Phêrô muốn dựng ba lều: một cho Chúa Giêsu, một cho Môsê, một cho Êlia. Nhưng tiếng Chúa Cha từ đám mây phán: “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người” (Mc 9,7). Môsê đại diện cho Lề Luật, Êlia đại diện cho các ngôn sứ. Cả hai đều vĩ đại trong lịch sử cứu độ. Nhưng Chúa Cha không nói: “Hãy nghe các vị ấy như nhau.” Chúa Cha chỉ về Đức Giêsu và nói: “Hãy vâng nghe lời Người.” Ngay cả Môsê và Êlia còn không được đặt ngang hàng với Chúa Giêsu, thì làm sao một người vô thần, dù tài ba đến đâu, có thể được đem ra so sánh ngang hàng với Người?
Đây là lập luận rất thuyết phục. Nếu trong lịch sử cứu độ, những nhân vật thánh thiện nhất, được Thiên Chúa chọn cách đặc biệt nhất, như Môsê và Êlia, còn phải lui lại để Đức Kitô đứng ở trung tâm, thì mọi vĩ nhân ngoài lịch sử cứu độ càng không thể được đặt ngang với Chúa. Các thánh trong Hội Thánh cũng vậy. Thánh Augustinô, thánh Tôma Aquinô, thánh Phanxicô Assisi, thánh Têrêsa Avila, thánh Gioan Phaolô II, dù thánh thiện và thông thái đến đâu, cũng chỉ là môn đệ. Các ngài phản chiếu Đức Kitô, chứ không thay thế Đức Kitô. Các ngài dẫn ta đến Chúa, chứ không đứng ngang hàng với Chúa. Nếu các thánh còn không được so sánh ngang hàng với Chúa Giêsu, thì một người vô thần càng không thể.
Thần học Kitô giáo luôn phân biệt giữa Đấng Cứu Độ và người được cứu độ. Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ. Mọi người khác đều là những kẻ cần được cứu độ. Một người vô thần có thể thông minh, nhưng vẫn cần ơn cứu độ. Một triết gia có thể viết hàng ngàn trang sách, nhưng vẫn cần được tha thứ tội lỗi. Một nhà đạo đức có thể khuyên người khác sống tốt, nhưng chính họ vẫn không thể tự mình chiến thắng sự chết. Chỉ Đức Kitô, nhờ thập giá và phục sinh, mới cứu con người tận căn. Sách Công vụ Tông đồ tuyên bố: “Dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12). Không có danh nào khác. Không có tên triết gia nào. Không có tên nhà tư tưởng nào. Không có tên lãnh tụ nào. Chỉ có danh Giêsu.
Điều này không có nghĩa là người Công giáo được quyền khinh thường người vô thần. Không. Người vô thần cũng là con người được Thiên Chúa dựng nên, được Đức Kitô yêu thương, được mời gọi đến ơn cứu độ. Ta có thể tôn trọng họ, đối thoại với họ, học nơi họ những nhận xét đúng về xã hội và con người, cộng tác với họ trong những việc thiện ích chung. Nhưng tôn trọng con người không đồng nghĩa với việc đặt tư tưởng của họ ngang hàng với Chúa Giêsu. Đối thoại không có nghĩa là đánh mất đức tin. Khiêm tốn lắng nghe không có nghĩa là làm lu mờ Chúa. Công bằng với người khác không có nghĩa là phản bội chân lý mạc khải.
Người Kitô hữu có thể nói: “Ở điểm này, người ấy đã thấy một phần sự thật.” Nhưng không được nói: “Người ấy ngang với Chúa Giêsu.” Có thể nói: “Tư tưởng ấy có một yếu tố nhân bản đáng suy nghĩ.” Nhưng không được nói: “Tư tưởng ấy có cùng giá trị với Tin Mừng.” Có thể nói: “Người ấy đã chạm tới một khát vọng mà Tin Mừng hoàn tất.” Nhưng không được nói: “Người ấy cũng như Chúa.” Sự khác biệt này không nhỏ. Đó là ranh giới giữa đối thoại và tương đối hóa, giữa phân định và lẫn lộn, giữa tôn trọng con người và xúc phạm đến địa vị độc nhất của Đức Kitô.
Trong đời sống đức tin, có một cám dỗ rất tinh vi: vì muốn tỏ ra cởi mở, hiện đại, trí thức, người ta bắt đầu nói về Chúa Giêsu bằng những phạm trù quá thấp. Người ta gọi Người là “nhà tư tưởng nhân bản”, “nhà cách mạng xã hội”, “bậc thầy tâm linh”, “người truyền cảm hứng”. Những cách nói ấy có thể có phần đúng, nhưng nếu không đi kèm lời tuyên xưng Người là Con Thiên Chúa, chúng sẽ làm nghèo đi mầu nhiệm Đức Kitô. Chúa Giêsu không cần ta nâng Người lên bằng những danh hiệu của thế gian. Người không vĩ đại vì giống các vĩ nhân. Các vĩ nhân chỉ có ý nghĩa thật sự khi được soi sáng bởi Người.
Thập giá là nơi phơi bày rõ nhất sự khác biệt giữa Chúa Giêsu và mọi tư tưởng nhân loại. Các hệ tư tưởng thường muốn thay đổi thế giới bằng lý thuyết, quyền lực, cách mạng, đấu tranh, cải cách, giáo dục, kỷ luật hoặc tổ chức. Chúa Giêsu cứu thế giới bằng tình yêu tự hiến. Người không chỉ nói về yêu thương; Người chịu đóng đinh vì yêu thương. Người không chỉ dạy tha thứ; Người tha thứ cho những kẻ giết mình. Người không chỉ đứng về phía người đau khổ; Người trở thành Người Tôi Tớ đau khổ. Người không chỉ giải thích sự dữ; Người mang lấy tội lỗi trần gian. Thánh Gioan Tẩy Giả đã chỉ vào Người và nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29). Không một người vô thần nào, không một triết gia nào, không một nhà tư tưởng nào có thể là Chiên Thiên Chúa xóa bỏ tội trần gian.
Sự phục sinh cũng là chứng minh tối hậu. Nếu Chúa Giêsu chỉ để lại tư tưởng, Người sẽ giống các bậc thầy đã chết. Nhưng Người đã sống lại. Kitô giáo không đặt nền trên một di sản tư tưởng, mà trên một biến cố cứu độ: Đức Kitô chịu chết và phục sinh. Thánh Phaolô nói: “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1 Cr 15,14). Không ai nói như thế về một triết gia. Nếu một triết gia chết, tư tưởng của ông vẫn có thể tồn tại. Nhưng nếu Đức Kitô không sống lại, đức tin Kitô giáo sụp đổ. Điều này cho thấy Kitô giáo không phải là tôn giáo của một tư tưởng hay, mà là đức tin vào một Đấng sống động, đã chiến thắng tội lỗi và sự chết.
Vì vậy, câu trả lời dứt khoát là: không được so sánh tư tưởng của một người vô thần với Chúa Giêsu theo nghĩa đặt hai bên ngang hàng, ngang giá trị, ngang thẩm quyền, ngang tầm vóc. Không được, vì Chúa Giêsu là Thiên Chúa. Không được, vì lời Người là lời ban sự sống đời đời. Không được, vì Người là Đấng Cứu Độ duy nhất. Không được, vì mọi tư tưởng nhân loại đều hữu hạn, còn Đức Kitô là Ngôi Lời vĩnh cửu. Không được, vì làm như thế dễ khiến người ta hiểu sai Tin Mừng, coi Chúa chỉ như một bậc thầy đạo đức. Không được, vì đức tin Kitô giáo không thờ một ý tưởng, mà thờ chính Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.
Có thể nghiên cứu tư tưởng nhân loại dưới ánh sáng Tin Mừng. Có thể phê bình các hệ tư tưởng bằng tiêu chuẩn của Tin Mừng. Có thể nhận ra những tia sáng chân lý nơi người ngoài Kitô giáo. Nhưng tất cả những điều đó phải được đặt trong trật tự đúng: Đức Kitô là trung tâm; Tin Mừng là tiêu chuẩn; Hội Thánh là người gìn giữ kho tàng đức tin; mọi tư tưởng nhân loại phải được phân định dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần. Không phải Chúa Giêsu cần được đo bằng thước đo của các tư tưởng gia. Chính mọi tư tưởng gia cần được đo bằng ánh sáng của Đức Kitô.
Một cách nói đúng hơn sẽ là: “Dưới ánh sáng của Tin Mừng, ta có thể nhận định tư tưởng của người ấy đúng hay sai ở điểm nào.” Hoặc: “Một vài nhận xét của người ấy có thể chạm tới khát vọng nhân bản mà Tin Mừng soi sáng cách trọn vẹn.” Hoặc: “So với Đức Kitô, tư tưởng ấy cho thấy giới hạn của lý trí con người khi không có mạc khải.” Nhưng không nên nói: “Tư tưởng của người ấy có thể so sánh với tư tưởng của Chúa Giêsu” nếu câu ấy khiến người nghe hiểu là hai bên cùng một bình diện.
Nói cho thật rõ: một người giỏi đến đâu cũng không cứu được ta. Một người sâu sắc đến đâu cũng không tha tội cho ta. Một người nổi tiếng đến đâu cũng không mở cửa thiên đàng cho ta. Một người thông minh đến đâu cũng không ban Thánh Thần cho ta. Một người có tư tưởng nhân bản đến đâu cũng không biến bánh rượu thành Mình và Máu Thánh Chúa. Một người đạo đức đến đâu cũng không sống lại từ cõi chết bằng quyền năng của chính mình. Chỉ Chúa Giêsu làm được điều ấy. Chỉ Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ. Chỉ Chúa Giêsu là Chúa.
Bởi vậy, lòng tôn kính Đức Kitô đòi ta phải dùng ngôn ngữ cho đúng. Trong thời đại truyền thông hôm nay, nhiều câu nói ngắn, câu so sánh mạnh, câu gây chú ý có thể lan rất nhanh. Nhưng người có đức tin phải cẩn trọng. Không phải câu nào nghe hay cũng đúng thần học. Không phải cách diễn đạt nào có vẻ trí thức cũng giúp ích cho đức tin. Có những câu làm Chúa nhỏ lại trong lòng người nghe. Có những câu làm Tin Mừng bị hiểu như một triết lý sống. Có những câu làm người ta quên rằng trước Đức Giêsu, ta không chỉ đứng để phân tích, mà phải quỳ xuống thờ lạy.
Khi Tôma gặp Đấng Phục Sinh, ông không nói: “Thầy là một tư tưởng lớn.” Ông thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20,28). Đó mới là thái độ đúng của người Kitô hữu trước Đức Giêsu. Trước Chúa, ta không chỉ bình luận. Ta thờ lạy. Trước Chúa, ta không chỉ so sánh. Ta tuyên xưng. Trước Chúa, ta không chỉ học một giáo thuyết. Ta trao phó đời mình. Trước Chúa, ta không chỉ gặp một bậc thầy. Ta gặp Đấng Cứu Độ.
Và chính vì thế, dù nhân loại có sản sinh bao nhiêu thiên tài, dù lịch sử có bao nhiêu triết gia, dù thế giới có bao nhiêu nhà tư tưởng, dù có những người vô thần rất sắc bén, rất nhân bản, rất có ảnh hưởng, tất cả vẫn chỉ là những tiếng nói hữu hạn trong dòng lịch sử. Còn Chúa Giêsu là Ngôi Lời vĩnh cửu đi vào lịch sử để cứu độ lịch sử. Tất cả những người khác có thể nói về sự thật. Chỉ Chúa Giêsu là Sự Thật. Tất cả những người khác có thể chỉ một con đường. Chỉ Chúa Giêsu là Con Đường. Tất cả những người khác có thể suy tư về sự sống. Chỉ Chúa Giêsu là Sự Sống.
Do đó, câu trả lời của đức tin phải rõ ràng, mạnh mẽ và khiêm tốn: không ai, tuyệt đối không ai, dù giỏi cỡ nào, được đặt ngang hàng với Chúa Giêsu. Không tư tưởng nào của con người, nhất là tư tưởng đặt ngoài niềm tin vào Thiên Chúa, có thể được so sánh ngang tầm với giáo huấn và mạc khải của Đức Kitô. Nếu có đối chiếu, thì chỉ để thấy Chúa Giêsu vượt trên mọi tư tưởng. Nếu có phân tích, thì chỉ để làm sáng hơn vinh quang của Tin Mừng. Nếu có nhắc đến người đời, thì chỉ như một điểm phụ, một đối tượng được soi chiếu, chứ không bao giờ là chuẩn mực ngang với Đức Kitô.
Người môn đệ Chúa phải luôn nhớ: chúng ta không loan báo một tư tưởng, mà loan báo một Đấng. Chúng ta không rao giảng một hệ thống triết học, mà rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Chúng ta không mời người ta đến với một quan điểm sống, mà đến với Đấng ban sự sống đời đời. Chúng ta không đặt niềm tin vào trí tuệ nhân loại, mà đặt niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương ta và hiến mạng vì ta.
Và khi đã hiểu như thế, lòng ta sẽ được giữ khỏi mọi lẫn lộn. Ta có thể đọc sách đời, nhưng không để sách đời thay Tin Mừng. Ta có thể học nơi người khác, nhưng không để ai chiếm chỗ của Chúa. Ta có thể đối thoại với mọi người, nhưng không đem Đức Kitô xuống ngang hàng với bất cứ ai. Ta có thể tôn trọng trí tuệ nhân loại, nhưng chỉ thờ lạy một mình Thiên Chúa. Vì cuối cùng, mọi đầu gối phải quỳ xuống trước danh Giêsu, và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa, để tôn vinh Thiên Chúa Cha.
Lm. Anmai, CSsR
Discover more from
Subscribe to get the latest posts sent to your email.