Việc an táng cho người dự tòng

VỀ VIỆC AN TÁNG CHO NGƯỜI DỰ TÒNG
VÀ TRẺ EM CHẾT TRƯỚC KHI ĐƯỢC RỬA TỘI 
Nhân việc có nơi giáo quyền địa phương đã không cho cử hành lễ an táng và không cho chôn xác người tự tử trong nghĩa trang họ Đạo, tôi xin nói lại một lần nữa vveef vấn đề này như sau:
Xin nói rõ là không có giáo lý, giáo luật nào của Giáo Hội cấm việc chôn xác người tự tử trong nghĩa trang Công giáo.
Lý do là, mặc dù Giáo Hội lên án hành vi tự tử, nhưng không đưa ra phán quyết là người tự tử đã xuống hỏa ngục nên không cần cầu nguyện cho họ nữa.Chỉ một mình Chúa biết và phán quyết phần rỗi của người tự tử mà thôi.
Như vậy, không có lý do gì để cấm việc cử hành tang lễ và mai táng người tự tử trong nghĩa trang Công Giáo. Trước Công Đồng Vaticanô II, Giáo Hội cấm việc này vì lý do lên án hành vi tự tử, chứ không vì cho rằng người tự tử đã mất linh hồn trong hỏa ngục.
Tiện đây, Cũng xin được nói thêm về trường hợp người dự tòng đang học giáo lý để được rửa tội , nhưng chẳng may đã chết trước khi được rửa tội- kể cả các em bé chết không được rủa tội- thì phải đối xử ra sao ?
I-Trước hết về những người dự tòng (catechumens) : họ là những người đang tìm hiểu đức tin và đang được học giáo lý để chuẩn bị nhận lãnh 3 bí tích quan trọng là rửa tội, thêm sức và Thánh Thể sau khi hoàn tất chương trình khai tâm nhập Đạo (RICA).
Như thế, qua tiến trình này người dự tòng đang khao khát được gia nhập Giáo Hội qua ơn tái sinh của phép rửa. Nghĩa là họ đã sẵn sàng để nhận lãnh bí tích khai tâm này để trở nên con cái của Thiên Chúa như giáo lý Giáo Hội dạy.
Nhưng chẳng may có ai trong số dự tòng này đã chết mà không kịp được rửa tội thì giáo lý của Giáo Hội dạy như sau:
“Đối với người dự tòng chết khi chưa được rửa tội, thì lòng ao ước tỏ tường được rửa tội và sự sám hối tội lỗi cùng với đức ái của họ sẽ bảo đảm ơn cứu độ cho họ, ơn cứu độ mà họ không thể nhận lãnh nhờ bí tích Rửa tội” ( x. SGLGHCG số 1259)
Giáo lý trên cũng áp dụng cho những người chết vì đức tin nhưng chưa được rửa tội thì cũng “ được coi là đã được rửa tội do sự chết của họ vì Chúa Kitô và với Chúa Kitô. Phép rửa tội bằng máu này , cũng như phép rửa tội bằng ao ước, tuy không là bí tích, nhưng cũng mang lại tất cả hoa trái của phép Rửa tội.” (Sđd số 1258)
Do đó, theo giáo luật số 1183, triệt 1 thì những người nói trên được đồng hóa với người Ki tô Hữu trong việc an táng. Có nghĩa là phải cử hành nghi thức an táng cho họ như mọi tín hữu đã được rửa tội và qua đời.
Sở dĩ phải đối xử với họ như vậy, là vì dù họ không được rửa tội đúng theo nghi thức nhưng vì họ có lòng ao ước lãnh nhận bí tích này, nhất là được chết vì đức tin thì dù chưa được rửa tội họ cũng được coi như mọi tín hữu đã được rửa tội, và do đó Giáo Hội vẫn dành nghi thức an táng cho họ như giáo luật nêu trên đã qui định.
II- Về các trể em chết mà không được rửa tội:
Giáo lý Giáo Hội cũng dạy như sau:
“ Giáo Hội chỉ còn biết phó thác các em cho lượng từ bi của Thiên Chúa như Giáo Hội làm khi cử hành lễ an táng cho các em.Thiên Chúa nhân từ vô cùng muốn tất cả mọi người được cứu độ.( 1Tm 2:4) và lòng âu yếm mà Chúa Giêsu đã dành cho các trẻ nhỏ khiến Người đã nói : “ Hãy để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng vì Nước Thiên Chúa thuộc về những ai giống như chúng.” ( Mc 10 :14). Điều này cho phép chúng ta hy vọng có một con đường ơn cứu độ cho các trẻ em chết khi chưa được rửa tội.Nhân đây, Giáo Hội cũng khẩn thiết kêu gọi đừng cản trở cho các em đến với Chúa Kitô qua hồng ân của Phép Rửa. ( x.SGLGHCG số 1261)
Dựa vào giáo lý trên đây, giáo luật số 1183, triệt 2 cũng khuyến cáo như sau:
“Bản quyền sở tại ( Giáo quyền địa phương) có thể ban phép cử hành an táng theo nghi thức Giáo hội cho các trẻ em mà cha mẹ có ý rửa tội nhưng đã chết trước khi được rửa tội.”
Nghĩa là không ngăn cấm cử hành an táng cho các trẻ em chết mà chưa được rửa tội.
Cũng vì lợi ích thiêng liêng lớn lao của Phép Rửa mà giáo lý nêu trên đã ân cần nhắc nhở cha mẹ phải mau mắn lo cho các con cái mình được lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy ( rửa tôi) càng sớm càng tốt. Đặc biệt trong trường họp nguy tử, không tìm được linh mục hay phó tế thì cha mẹ có bổn phận rửa tội cho con mình trong cơn nguy tử đó với công thức Chúa Ba Ngôi và dùng nước đổ trên đầu hay trán của trẻ em.
Tóm lại, dù người Dự tòng hay trẻ em chết trước khi được rủa tội thì Giáo Hội vẫn dạy phải dành cho họ nghi thức an táng như mọi giáo hữu khác.Nghĩa là không ai có biết hay thể phán đoán gì về số phận đời đời của họ, nên chỉ biết phó thác họ cho lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành mà thôi.
Lai nữa, riêng các thai nhi bị giết vì phá thai ( abortion), cũng không có luật nào buộc phải xin lễ cầu cho các thai nhi này. Chúng chưa được sinh ra, và bị giết vì những người không tôn trọng sự sống, nên những người trục tiếp hay gián tiệp giúp cho việc phá thai được thành tựu mới là kẻ có tội và bị Giáo Hội phạt vạ tuyệt thông tiền kết, dành riêng cho Đức Thánh Cha quyền tháo gỡ.( x.giáo luật số 1398). Nhưng Đức Thánh Cha Phan xicô đã cho phép các linh mục trong toàn Giáo Hội từ nay được phép tha tội này vì lòng thương xót của Chúa.
Các trẻ em vô tội này bị giết vì phá thai, tức là chết từ trong lòng mẹ, nên không được rửa tội như các trẻ đã sinh ra và được cha mẹ lo cho lãnh nhận phép rửa. Nhưng không cần phải xin lễ cầu cho chúng, vì Chúa nhân từ chắc chắn sẽ không bắt lỗi chúng vì đã không được rửa tội.Lỗi này hoàn toàn của người phá thai, chứ không phải của thai nhi.Vậy, không cần cầu nguyện hay xin lễ cầu cho các thai nhi này, vì chắc chắn Chúa đã đoái thương đón nhạn chúng vào Nước Trời rồi.
Có chăng là cầu nguyện cho các phụ nữ phải tôn trọng sự sống và không được đi phá thai vì bất cứ lý do nào mà thôi.
Các linh mục cần giải thích rõ việc này cho giáo dân để đừng nhận tiền xin lễ , xin cầu cho các thai nhi., như người ta đang làm ở các giáo xứ Viêt Nam.Đây là việc không cần thiết phải làm.Chắc chắn như vậy.
 
Tác giả: Lm. PX. Ngô Tôn Huấn

Tại sao tội phạm đến Chúa Thánh Thần thì không được tha?

TỘI PHẠM ĐẾN CHÚA THÁNH THẦN LÀ TỘI NÀO ?

Hỏi : Xin Cha giải thích rõ tại sao tội phạm đến Chúa Thánh Thần thì không được tha thứ?

Trả lời: Trong Tin Mừng Thánh Maccô, Chúa Giêsu nói: “Thầy bảo thật anh em: mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng, và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa, thì cũng còn được tha. Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời” (Mc 3,28-29)

Chúng ta giải hiểu thế nào về lời dạy trên đây của Chúa Giêsu?

Trước hết, chúng ta cần nhớ lại những lời Chúa Giêsu đã nói với các Tồng Đồ về Chúa Thánh Thần như sau:

“Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em. Khi Người đến, Người sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính và về việc xét xử…” (Ga 16: 7-8)

Đấng Bảo Trợ (the Paraclete) mà Chúa Giêsu nói đây chính là Chúa Thánh Thần. Ngài là Thần Chân Lý (the Spirit of Truth) là Thần Khí của Thiên Chúa (the Spirit of God) là Đấng được sai đến để “dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16, 13) một sự thật mà các Tông Đồ không thể hiểu thấu nếu không có sự trợ giúp của Thần Khí Chúa.

Vì thế, sau khi sống lại từ cõi chết, Chúa Giêsu đã hiện ra với các Tông Đồ, thở hơi vào các ông và nói “anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20: 22). Chúa ban Thánh Thần cho các Môn đệ để giúp họ thấu hiểu những điều Người đã dạy bảo họ trong 3 năm sống chung trước khi Người thọ nạn thập giá và lên Trời.

Khi lãnh nhận bí tich rửa tội, qua việc sức dầu thánh, chúng ta đã lãnh nhận một phần ơn Chúa Thánh Thần. Với bí tích thêm sức, ta được ban đầy đủ ơn của Chúa Thánh Thần để kiện toàn ơn tái sinh qua phép rửa và để “cho ta sức mạnh đặc biệt hầu loan truyền và bảo vệ đức tin bằng lời nói và việc làm với tư cách là những nhân chứng đích thực của Chúa Kitô, nghĩa là để tuyên xưng danh Chúa một cách can trường và không bao giờ hổ thẹn về Thập Giá của Người” (Sách Giáo Lý Công Giáo, số 2044).

Chính nhờ Thần Khí Chúa mà người tín hữu được lớn lên vững manh trong đức tin, được hiểu rõ hơn về Chân Lý của Chúa Giêsu, ý thức đầy đủ về nguy haị của tội lỗi, được thúc dục tin tưởng vào lòng thương xót, tha thứ của Thiên Chúa và được lòng yêu mến Người. Đây là đại cương những việc Chúa Thánh Thần đã và đang làm trong tâm hồn mọi tín hữu Chúa Kitô và trong Giáo Hội của Chúa từ thời sơ khai cho đến ngày nay và còn mãi mãi về sau cho đến hết thời gian.

Như vậy, tội phạm đến Chúa Thánh Thần là tội mang nội dung sau đây:
* Hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa là Cha nhân lành giầu lòng xót thương và tha thứ
* Từ khước ơn cứu chuộc của Chúa Kitô
* Phủ nhận Chân Lý mà Thần Khí Chúa đã mặc khải cho con người
* Không còn nhìn nhận tội lổi để xin được tha thứ

Tội nào cũng có thể được tha thứ nếu người ta còn tin tưởng vào lòng xót thương của Thiên Chúa. Vậy, nếu nhờ Thần Khí Chúa mà ta nhận biết Người là Cha nhân lành để chạy đến xin tha thứ mọi lỗi phạm vì yếu đuối, vì lầm lạc, thì điều kiện để được tha thứ là phải nhìn nhận tội lỗi của mình và còn tin tưởng vào lòng thương xót, thứ tha này của Chúa. Nếu chối từ Thiên Chúa, thất vọng hoàn toàn về tình thương tha thứ của Người cũng như không còn tin và yêu mến Người nữa là xúc phạm nặng nề đến chính Chúa Thánh Thần là Đấng đã giúp ta nhận biết Thiên Chúa là Cha nhân hậu, nhận biết công trình cưú chuộc vô giá của Chúa Kitô, và giúp ta nhìn nhận tội lỗi đã phạm. Chúa Thánh Thần cũng là Đấng đã nung lửa yêu mến Thiên Chúa trong lòng tín hữu. Do dó, xúc phạm đến Chúa Thánh Thần là bác bỏ mọi công việc Người đã làm trong linh hồn ta và trong Giáo Hội của Chúa Kitô.

Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã dạy: “ai nói phạm đến Con Người (tức Chúa Giêsu) thì được tha, nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần sẽ chẳng được tha, cả đời này lẫn đời sau” (Mt 12: 32).

Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, trong Tông Thư “Dominum et Vivificantem” (Chúa là Đấng ban sự sống) cũng nói như sau về tội phạm đến Chúa Thánh Thần: “Tội phạm đến Chúa Thánh Thần không phải chỉ đơn thuần xúc phạm đến Người bằng lời nói mà hệ tại sự chối từ nhận lãnh ơn cứu chuộc mà Thiên Chúa ban cho con người qua Chúa Thánh Thần hoạt động qua quyền lực của Cây Thập Giá” (cf. ibid. no. 46.3).

Tóm lại, tội phạm đến Chúa Thánh Thần không thể tha thứ được vì kẻ xúc phạm đã hoàn toàn khước từ Thiên Chúa và tình thương tha thứ của Người. Nếu đã không còn tin Chúa để chạỵ đến xin Người tha thứ tội lỗi thì làm sao thứ tha được nữa?
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Gíao Hội Nói Gì Về Sự Có Mặt Của Ma Qủi

KINH THÁNH VÀ GIÁO LÝ CỦA GIÁO HỘI NÓI GÌ VỀ SỰ CÓ MẶT CỦA MA QUỈ, KẺ THÙ CỦA CON NGƯỜI?

Hỏi: Xin cha giải thích về sự có mặt của ma quỉ cám dỗ con người trên trần thế này.

Trả lời: Nói về ma quỉ (devils, ghosts) chúng ta có thể phân biệt hai loại sau đây:

1- Trước hết là có những hiện tượng kinh dị mà nhiều người đã gặp thấy và tin đó là có hồn ma hiện ra để nhát đảm người còn sống. Cụ thể ở Saigon trước năm 1975, người ta đồn rằng có một căn nhà ở đường Trương minh Giảng, thường có ma hiện về phá phách ban đêm. Nhà này là của một cặp vợ chồng kia bất hòa sao đó, khiến người chồng bắn vợ chết, sau đó cũng tự sát. Từ đó, ai dọn đến ở đều gặp hồn ma hiện về phá phách khiến không ai dám ở trong căn nhà đó nữa. Đây là điển hình cho những chuyện người ta đồn nhau ở khắp nơi về điều được gọi là có ma quỉ hiện ra quấy phá người sống.

Ở Mỹ cũng có hiện tượng tương tự. vì có những nhà được gọi là “Haunted houses” (có ma ám ảnh) không ai dám ở vì tin là có ma hiện ra nhát người sống. Bản thân tôi, khi còn làm phó xứ ở một giáo xứ kia, có một giáo dân người Mễ-Tây Cơ một hôm đã đến xin tôi làm phép nhà cho bà ta vì bà nói đêm đêm có tiếng la hét trong phòng tắm kế bên phòng ngủ, mặc dù trong nhà chỉ có hai vợ chồng già và không ai sử dụng phòng tắm về đêm! Tôi đã đến làm phép nhà cho bà và sau đó không thấy bà nói gì về việc sợ hãi kia nữa.

Như vậy, chắc chắn có những “hiện tượng bất thường” xảy ra mà người ta gán cho là có ma quỷ xuất hiện dưới nhiều hình thức để nhát đảm hay quấy phá người sống. Giáo Hội không đưa ra một giải thích rõ nào về những hiện tượng này, mặc dù tin có chuyện ma quỷ ám hại con người nên cho đến nay, Giáo Hội vẫn sử dụng phép “trừ quỷ, trừ tà” (Exorcism) được Giáo Quyền địa phương trao cho một linh mục nào thi hành khi cần đến.

Xưa kia, khi còn đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, Chúa Giêsu cũng đã nhiều lần “trừ quỉ” nhập vào làm khổ nhiều người. Điển hình là trường hợp có người kia đã bị một lũ quỷ nhập và hành hạ rất khốn đốn. Chúa đã trừ chúng ra khỏi nạn nhân và cho chúng nhập vào đàn heo và lao xuống vực thẳm chết.hết. (Lc 8: 26-31). Lại nữa, “các thần ô uế, hễ thấy Đức Giêsu thì sấp mình dưới chân Người và kêu lên: Ông là Con Thiên Chúa. Nhưng Người đã cấm ngặt chúng không được không được tiết lộ Người là ai.” (Mc 3: 11-12).

Quỷ la lên khi bị Chúa trừ ra khỏi các nạn nhân của chúng và không cho phép chúng nói Người là ai (Lc 4: 40-41).Tin Mừng Thánh Matthêu cũng thuật lại trường hợp một người bị quỷ ám khiến cho mù lòa và câm. Chúa đã trừ quỷ ra khỏi anh ta khiến anh lại được trông thấy và nói được. (Mt 12: 22-23). Đặc biệt, Chúa đã trừ 7 quỷ ám hại một phụ nữ tên là Maria Ma-đa-la. (Lc 8 : 2) . Bà này sau đó đã đi theo Chúa cho đến khi Người chết trên thánh giá. Bà cũng là phụ nữ đầu tiên đã đến viếng Mộ Chúa sáng ngày thứ nhất trong tuần và đã được gặp Chúa hiện ra và bảo đi loan báo tin mừng Chúa Phục Sinh cho các môn đệ Người. (Mt 28: 1-10; Ga 20: 11-18)

Thánh Phaolô cũng nhân danh Chúa Kitô để trừ quỷ nhập vào một phụ nữ chuyên nghề bói toán, đồng bóng:

“Nhân danh Đức Giêsu-Kitô, ta truyền cho ngươi phải xuất khỏi người này. Ngay lúc ấy quỷ thần liền xuất.ra” (Cv 16: 18)

Nhưng phải nói ngay là, những trường hợp quỷ nhập và ám hại người sống nói trên, kể cả những chuyện ma quỷ hiện hình để quấy phá người sống, tất cả chỉ có tác dụng làm cho người ta sợ hãi, khốn khổ về thể xác mà thôi, chứ không có gì phải lo sợ về phần hồn.

Điều đáng lo sợ về phần hồn, hay phần rỗi của mọi người chúng ta là có loại ma quỷ không hiện hình để phá phách, hay ám hại ai về thể xác, nhưng vô hình cám dỗ con người với nhiều chiến lược tinh xảo khiến cho rất nhiều người đã và đang ngã theo chúng để làm những sự dữ, sự tội như chúng ta thấy rõ bộ mặt của chúng trong cách sống của biết bao người ở khắp nơi xưa và nay.

2- Đó là Quỷ Satan và bè lũ:

Loại “ma quỷ” này không hiện ra để làm cho ai phải khiếp sợ, nhưng lai vô hình ám hại con người cách đáng sợ hơn,với những mưu chước cám dỗ rất tinh vi và thâm độc để mong lôi kéo con người ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, làm nô lệ cho chúng để mất hy vọng được cứu rỗi.

Đây là thứ quỷ mà Kinh Thánh và Giáo lý của Giáo Hội nói về “một Thiên Thần đã sa ngã để trở thành quỷ Satan” và kéo theo các Thiên Thần khác nổi lên chống lại Thiên Chúa. Chúng không hề ăn năn xin tha thứ để vĩnh viễn là những kẻ phản loạn, muốn lôi kéo con người đi theo chúng để chống lại Thiên Chúa là tình yêu, công minh và thánh thiện. (x. SGLGHCG số 391-394)

Thánh Gioan, trong Sách Khải Huyền, đã gọi loại ma quỷ hay Sa-tan này là Con Mãng xà, tức Con Rắn xưa:

“Bấy giờ tôi thấy một Thiên Thần từ trời xuống, tay cầm chìa khoá vực thẳm và một dây xích lớn. Người bắt lấy Con Mảng Xà, tức là Con Rấn xưa, cũng là ma quỷ hay Sa-tan, và xích nó lại một ngàn năm.” (Kh 20: 1-20)

Nói rõ hơn, loại ma quỷ này được xem như “những Thiên Thần đã sa ngã” vì đã kiêu căng chống lại Thiên Chúa và đã bị đạo quân thiên quốc của Tổng lãnh Thiên thần Mi-ca-e đánh bại.

Đây mới là loại “ ma quỉ” mà chúng ta phải khiếp sợ và đề phòng để không sa vào cạm bẫy của chúng như Thánh Phêrô đã ân cần nhắc nhở chúng ta sau đây:

“Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé.” (1 Pr 5: 8)

Như sư tử đói rảo quanh tìm mồi ăn sống nuốt tươi thế nào, thì ma quỷ cũng ngày đêm rình rập để cướp lấy linh hồn chúng ta bằng mọi mưu chước cảm dỗ như vậy.

Như thế, loại ma quỷ này mới chính là kẻ thù nguy hiểm nhất mà chúng ta phải tỉnh thức đề phòng, và nương nhờ ơn Chúa để chống lại hầu được sống trong tình thương của Chúa và có hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.

Quỷ Satan và bè lũ “rảo quanh cõi đất và lang thang khắp đó đây” như chính Satan đã trả lời Thiên Chúa khi nó muốn thách đố Thiên Chúa về lòng tin và yêu mến của ông Gióp trong cơn thử thách nặng nề. Chúa cho phép nó được đụng chạm đến của cải, tài sản của ông Gióp nhưng không được đụng đến mạng sống của ông. (Gióp 1: 9: 12)

Chính vì mục đích của chúng là lôi kéo con người ra khỏi tình thân với Chúa nên Quỷ Satan và bè lũ đã và đang xô đẩy quá nhiều người xuống vực thẳm hư mất đời đời, vì đã dại dột nghe theo chúng để phạm những tội ghê gớm như giết người hàng loạt, phá thai không gớm tay, hận thù, trộm cướp, ham mê khoái lạc (Hedonism) và dâm ô thác loan, chối bỏ Thiên Chúa để tôn thờ tiền bạc và của cải vật chất, buôn bán phụ ữ và trẻ nữ để bán cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn, và tội lỗi, trong khi dửng dưng trước sự đau khổ, nghèo đói của biết bao người không may mắn ở khắp nơi trên thế giới. Đặc biết ở các quốc gia độc đảng, độc tài, tham quyền cố vị để vơ vết của cải, làm giầu cho bản thân và phe nhóm, trong khi nhắm mắt bịt tai trước những bất công xã hội và suy thoái nặng nề về luân thường đạo lý. Tắt một lời: thế giới đang sống với văn hóa của sự chết vì Satan đang thống trị quá nhiều người ở khắp nơi trên thế gian tục hóa, vô luân vô đạo ngày nay.

Từ thuở đầu tiên, chính quỷ Satan, trong hình thù con Rắn, đã cám dỗ bà Eva ăn trái cấm trong Vườn Địa Đàng, khiến con người đã mất tình thân với Thiên Chúa và mang sự chết vào trần gian như ta đọc thấy trong Sách Sáng Thế., và Thư Rôma của Thánh Phaolô. ( x. St 3: 1-6; Rm 5: 12 )

Sau này, cũng chinh quỷ Satan đã dám đến cám dỗ Chúa Giêsu ba lần trong rừng vắng, nơi Chúa ăn chay cầu nguyện. Chúa đã đánh bại và quát mắng nó: “ Satan kia xéo đi.” (Mt 4 : 10)

Chúa đã đánh bại Satan với Thần khí của Thiên Chúa như lời Người đã nói với dân chúng chứng kiến việc Người trừ quỷ ra khỏi một nạn nhân bị nó làm cho câm và mù mắt:

“…còn nếu Tôi dựa vào Thần Khí Thiên Chúa mà trừ quỷ thì quả là triều đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông.” (Mt 13: 28)

Sau này, cũng Satan đã “nhập vào Giuđa” sau khi môn đệ này ăn miếng bánh Chúa trao cho trong đêm Tiệc Ly cuối cùng. Và y đã ra đi trong đêm tối để thi hành việc trao nộp Chúa cho bọn Thượng tế và kỳ mục Do Thái. (Ga 13 : 27)

Trước đó, Chúa cũng đã nói với Phêrô về hiểm họa cám dỗ của Satan như sau:

“Si-mon, Si-mon ơi, kìa Satan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo.” (Lc 22: 31)

Sàng như sàng gạo, nghĩa là cám dỗ mãnh liệt cho ta sa ngã. Vì thế, Chúa đã nhắc thêm cho Phêrô và các môn đệ Người phải luôn tỉnh thức mà cầu nguyện:

“Anh em hãy canh thức mà cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối.” (Lc 14: 38 )

Chúa phải nhắc các môn đệ Người và tất vả chúng ta như vậy vì Người biết rằng Satan và bè lũ luôn rình rập từng giây từng phút để cám dỗ con người phạm tội nghịch cùng Thiên Chúa như chúng luôn thù nghich Thiên Chúa và không muốn cho ai thuộc về Thiên Chúa nữa.

Tóm lại, ma quỷ là một thực thể không thể chối cãi được. Chúng có mặt cách vô hình trên trần gian, sau khi đã phản nghịch cùng Thiên Chúa và bị trục xuất ra khỏi Thiên Đàng như Kinh Thánh và giáo lý của Giáo Hội dạy. Chúng quả thực là kẻ thù đáng sợ cho mọi người tín hữu chúng ta, vì âm mưu thâm độc của chúng muốn lôi kéo chúng ta ra khỏi tình thương và tình thân với Chúa, khiến ta mất hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.

Do đó, muốn được cứu rỗi, muốn thuộc vể Chúa để hưởng Thánh Nhan Người trên cõi vĩnh hằng, chúng ta không thể coi thường sự có mặt của ma quỉ hằng tỉnh thức và rình rập bên ta ngày đêm để cám dỗ ta làm những gì trái nghích với tình thương, công bình và thánh thiện của Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành; Đấng giầu yêu thương nhưng gớm ghét mọi tội lỗi, vì tội lỗi là do ma quỷ gây ra như Thánh Gioan Tông Đồ đã dạy dưới đây:

“Ai phạm tội thì là người của ma quỷ
Vì ma quỷ phạm tội từ lúc khởi đầu
Sở dĩ Con Thiên Chúa xuất hiện
Là để phá hủy công việc của ma quỷ.”
(1 Ga 3: 8)

Vậy chúng ta phải luôn tỉnh thức, luôn cầu nguyện và đề phòng để không sa chước cám dỗ của ma quỷ, là kẻ triệt để khai thác sự yếu đuối của bản tính con người và gương xấu của thế gian, của môi trường xã hội để mong xô chúng ta xuống vực thẳm hư mất đời đời. cùng với chúng.. Cho nên, muốn được cứu rỗi để vào Nước Thiên Chúa mai sau, tất cả chúng ta , những người may mắn có được đức tin, phải cương quyết chống lại Satan và bè lũ để không phạm tội và mất hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.

Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Cha yêu mến các con, bởi vì chúng con yêu mến Thầy và tin rằng Thầy bởi Thiên Chúa mà ra

Thứ Bảy, Sau Chúa Nhật 6 Phục Sinh – 12/05/18

Bài Ðọc I: Cv 18, 23-28

“Apollô trưng Thánh Kinh để minh chứng Ðức Giêsu là Ðấng Kitô”.

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Sau khi ở lại Antiôkia ít lâu, Phaolô ra đi, lần lượt ngài đi qua các vùng Galata và Phrygia, làm cho tất cả môn đồ thêm vững mạnh.

Bấy giờ có một người Do-thái tên là Apollô, quê ở Alexan-dria, rất lợi khẩu và thông biết Thánh Kinh, ông đến Êphêxô. Ông đã học thông đạo Chúa; ông nhiệt tâm rao giảng và siêng năng dạy những điều về Ðức Kitô, mặc dầu ông chỉ biết phép rửa của Gioan. Vì thế ông bắt đầu hành động mạnh dạn trong hội đường. Khi Priscilla và Aquila nghe ông, liền đón ông (về nhà) và trình bày cặn kẻ hơn cho ông biết đạo Chúa. Ông muốn sang Akaia, thì các anh em khuyến khích ông và viết thơ cho các môn đồ xin họ tiếp đón ông. Ðến nơi, ông đã giúp các tín hữu rất nhiều, vì ông đã công khai phi bác những người Do-thái cách hùng hồn; ông trưng Thánh Kinh để minh chứng Ðức Giêsu là Ðấng Kitô.Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 46, 2-3. 8-9. 10

Ðáp: Thiên Chúa là Vua khắp cõi trần gian. (c. 8a).

Xướng: 1) Hết thảy chư dân, hãy vỗ tay, hãy reo mừng Thiên Chúa tiếng reo vui! Vì Chúa là Ðấng Tối cao, khả uý, Người là Ðại Ðế trên khắp trần gian. – Ðáp.

2) Vì Thiên Chúa là Vua khắp cõi trần gian, hãy xướng ca vịnh mừng Người, Thiên Chúa thống trị trên các nước, Thiên Chúa ngự trên ngai thánh của Người. – Ðáp.

3) Vua chúa của chư dân, đã nhập đoàn với dân riêng Thiên Chúa của Abraham. Vì các vua chúa địa cầu thuộc quyền Thiên Chúa: Người là Ðấng muôn phần cao cả! – Ðáp.

Alleluia: Ga 28, 19 và 20

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân: Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. – Alleluia.

Phúc Âm: Ga 16, 23b-28

“Cha yêu mến các con, bởi vì các con yêu mến và tin Thầy”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

416_nKhi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Thật, Thầy bảo thật các con: điều gì các con sẽ nhân danh Thầy mà xin Cha, thì Người sẽ ban cho các con. Cho đến bây giờ, các con chưa nhân danh Thầy mà xin điều gì. Hãy xin thì sẽ được, để các con được niềm vui trọn vẹn. Tất cả những điều đó, Thầy đã dùng dụ ngôn mà nói với các con. Ðã đến giờ Thầy sẽ không còn dùng dụ ngôn mà nói nữa, Thầy sẽ loan truyền rõ ràng cho các con về Cha. Ngày đó các con sẽ nhân danh Thầy mà xin, và Thầy không bảo là chính Thầy sẽ xin Cha cho các con đâu. Chính Cha yêu mến các con, bởi vì chúng con yêu mến Thầy và tin rằng Thầy bởi Thiên Chúa mà ra. Thầy bởi Cha mà ra, và đã đến trong thế gian, rồi bây giờ Thầy bỏ thế gian mà về cùng Cha”.

SUY NIỆM

VÌ THẦY TỪ THIÊN CHÚA MÀ ĐẾN

Anh Ali Agca là người đã ám sát Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II ngày 13 tháng 5 năm 1981. Anh bị bắt giam tại nhà tù Rchibba ở Roma. Đức Giáo hoàng, sau khi bình phục, đã đến thăm, tha thứ và chúc lành cho anh. Hành động tha thứ của ngài đã minh chứng cho tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa.

Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II ý thức rằng mình được Thiên Chúa yêu mến. Cho nên, ngài cũng phải có bổn phận yêu mến tha nhân, thậm chí là kẻ thù, như Thầy Giêsu đã yêu mến. Là môn đệ của Đức Giêsu, các môn đệ yêu mến Thầy không chỉ vì đời sống thánh thiện và gương lành của Thầy, mà còn vì Thầy từ Thiên Chúa mà đến. Do đó, các ông ra sức để làm chứng cho Thầy.

Mỗi người chúng ta cũng được mời gọi làm môn đệ của Đức Giêsu để loan báo Tin Mừng cứu độ cho nhân loại. Nhưng chúng ta có thực sự yêu mến và tin rằng Người từ Thiên Chúa mà đến hay không?

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con vững tin rằng Ngài từ Thiên Chúa mà đến, và Ngài chính là Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. Amen.

(Chấm nối chấm – Học Viện Đaminh)

Đức Thánh Cha viếng thăm Cộng đoàn Nomadelfia

GROSSETTO. Sáng 10-5-2018, ĐTC đã dành 5 tiếng đồng hồ để viếng thăm hai cộng đoàn đặc biệt thuộc giáo phận Grossetto và Fiesole ở miền trung Italia: đó là Nomadelfia và Loppiano.

Nomadelfia, có nghĩa là ”Luật huynh đệ” được Cha Zeno Saltini thành lập cách đây 70 năm, qui tụ những người sống theo kiểu mẫu các cộng đoàn Kitô tiên khởi như được mô tả trong sách Tông Đồ công vụ (4,32): ”Đông đảo những người trở thành tín hữu đều một lòng một ý với nhau, và không ai coi tài sản của mình là của riêng, nhưng tất cả được để làm của chung”.

Tại Nomadelfia hiện nay, một khu vực rộng 4 cây số vuông, các gia đình sống trong những căn nhà nhỏ, nhưng sinh hoạt trong căn nhà chung, cùng với 3, 4 gia đình, trong tinh thần huynh đệ, đùm bọc lẫn nhau. Người già trở thành ông bà nội của tất cả các trẻ em trong nhóm. Con cái cũng được các bà mẹ săn sóc chung khi một bà mẹ phải vắng mặt.

ĐTC đã đáp trực thăng đến Nomadelphia lúc quá 8 giờ sáng. Sau khi viếng mộ vị sáng lập là cha Zeno Saltini, ngài tiến về khu vực trung tâm nơi có khoảng 4 ngàn người đã tụ tập và dành cho ngài một cuộc tiếp đón thật nồng nhiệt.

Tại Hội trường bên trong có hơn 300 thành viên của Cộng đoàn và nhiều quan khách chờ sẵn ngài. ĐTC chào thăm trước tiên những người già yếu và khuyết tật. Trong số những người hiện diện, có nhiều phụ nữ gọi là ”các bà mẹ theo ơn gọi”, họ từ khước lập gia đình, để đón nhận săn sóc các em trẻ khác như con cái mình.

Sau lời chào mừng của ông Francesco Matterazzo, Chủ tịch Cộng đoàn, ĐTC và mọi người đã xem các trẻ em và người trẻ trình bày những hoạt cảnh về những nét nổi bật trong cuộc đời và lịch sử của cộng đoàn Nomadelfia.

Bài huấn dụ

Trong bài huấn dụ, ĐTC mô tả Nomadelphia, Cộng đoàn luật huynh đệ, là một ”thực tại có tính chất ngôn sứ, nhắm thực hiện một nền văn minh mới, thực thi Tin Mừng như một hình thức cuộc sống tốt đẹp”. Ngài nói:

”Cha Zeno đã hiểu rằng ngôn ngữ duy nhất mà những người đang sống trong tình cảnh khó khăn cơ cực hiểu được, đó là ngôn ngữ tình thương. Vì thế cha đã biết tìm ra một hình thức xã hội đặc biệt, trong đó không có chỗ cho sự cô lập hoặc cô đơn, nhưng theo nguyên tắc cộng tác giữa các gia đình khác nhau, tại đây các thành viên nhìn nhận nhau là anh chị em trong đức tin”.

Trong số những nét đặc thù của Nomadelphia, ĐTC nói: ”Tôi cũng muốn nhấn mạnh một dấu chỉ ngôn sứ khác, có tình nhân đạo rất lớn của cộng đoàn này, đó là sự quan tâm thương mến đối với những người già, cả khi họ không còn sức khỏe tốt, họ tiếp tục ở lại trong gia đình và được anh chị em trong toàn cộng đoàn nâng đỡ. Anh chị em hãy tiếp tục con đường này, thể hiện kiểu mẫu tình huynh đệ, kể cả qua những công việc và dấu chỉ cụ thể, trong nhiều bối cảnh mà đức bác ái Tin Mừng kêu gọi anh chị em, nhưng luôn luôn giữ tinh thần của Cha Zeno, muốn một cộng đoàn Nomadelphia ”nhẹ nhàng” và chỉ có những cơ cấu nòng cốt. Đứng trước một thế giới nhiều khi thù nghịch đối với các lý tưởng được Chúa Kitô rao giảng, anh chị em đừng do du đáp lại bằng chứng tá vui tươi và thanh thản trong cuộc sống chúng ta theo Tin Mừng”.

Và ĐTC nhắn nhủ rằng: ”Anh chị em hãy tiếp tục lối sống này, tín thác nơi sức mạnh của Tin Mừng và Chúa Thánh Linh, qua chứng tá Kitô trong sáng của anh chị em”. (Rei 10-5-2018)

G. Trần Đức Anh OP