TẠI SAO PHẢI LÀM VIỆC ĐỀN TỘI SAU KHI XƯNG TỘI?

Hỏi: Liên quan đến việc xưng tội, xin Cha giải thích thêm điều này: Sau khi đã thật lòng xưng tội với linh mục  thì Chúa đã tha thứ hết mọi tội rồi. Vậy tại sao còn phải làm việc “đền tội” sau đó? Như vậy, có phải Chúa không tha hết, hay tha có điều kiện  hay sao?

Trả lời:

Trước hết, tôi cần nói lại một lần nữa về tội và lòng thương xót, tha thứ của Chúa, là Cha rất nhân từ. Chúa chê ghét mội tội lỗi, nhưng lại yêu thương người có tội biết ăn năn, sám hối.

Do hậu quả của tội Nguyên tổ, bản chất con người đã trở nên yếu đuối và rất dễ sa ngã, mặc dù được tái sinh qua phép rửa, được tha thứ một lần khỏi tội nguyên tổ và mọi tội cá nhân khác. Nhưng sau đó, chính vì bản chất yếu đuối nói trên, cộng thêm sự cám dỗ mãnh liệt của ma quỉ và gương xấu của thế gian, mà  con người vẫn còn nguy cơ phạm tội cá nhân nhiều lần nữa. Nguy cơ này kéo dài suốt cả đời người cho đến giờ hấp hối trên giường bệnh. Và chỉ khi linh hồn ra khỏi xác, con người mới hết nguy cơ bị cám dỗ và phạm tội mà thôi.

Vì thế, Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ rằng: “Anh  em hãy canh thức mà cầu nguyện để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối.” (Mt 26:41).

Thánh Phêrô cũng cảnh cáo chúng ta về nguy cơ của tội đến từ ma quỉ như sau: “Anh  em hãy sống tiết độ và tỉnh thức vì ma quỉ, thù địch của anh  em, như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cấu xé.” (1 Pr 5:8)

Như thế, tội lỗi là một thực trạng của con người sống trên trần thế này. Chính vì vậy mà Chúa Giêsu, trước khi về Trời, đã lập bí tích Hoà Giải để giúp con người  giao hoà lại với Chúa sau khi đã lỡ phạm tội vì yếu đuối và vì ‘sa chước” cảm dỗ. Chúa Giêsu đã trao cho các Tông Đồ và những người kế vị, quyền tha tội cho mọi hối nhân như sau: “Anh  em tha tội cho ai thì người ấy được tha. Anh  em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ.” (Ga 20:23)

Đây là nền tảng thần học và kinh thánh  của bí tích Hoà giải (xưng tội) qua đó, Chúa Kitô tiếp tục tha tội cho chúng ta  qua sứ vụ của các thừa tác viên có chức thánh, là Giám Mục và Linh mục.

Theo giáo lý của Giáo Hội, tội được chia ra làm hai loại: tội trọng và tội nhẹ. Nhưng mọi tội đều có thể  được tha, nếu thực tâm thống hối và còn tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa. Riêng tội phạm đến Đức Chúa Thánh Thần, tức là tội chối bỏ Thiên Chúa hoàn toàn thì không thể tha được, vì kẻ đã chối Chúa, không tin  có Chúa thì chạy đến với ai mà xin tha thứ  được? (x. Mc 3:28-29).

Nhưng sau khi được tha mọi tội qua bí tích hòa giải, hối nhân vẫn còn phải làm một số việc lành để đền tội theo chỉ dẫn của cha giải tội. Lý do là : “Ơn tha tội xoá mọi  tội lỗi, nhưng không sửa chữa được những xáo trộn mà tội đã gây ra như  Thánh  Công Đồng Trentinô đã dạy (x SGLCG, số 1459).

Nói khác đi, khi ta thành tâm xưng tội, thì tội được tha và giúp ta lấy lại tình thân với Chúa. Nhưng phải làm một số việc lành tương xứng để đền bù lại. Thí dụ, lấy của ai cái gì, thì  phải trả lại người ấy cách nào đó vì phép công bằng đòi buộc như vậy. Giết  người không thể đền mạng được, nhưng phải làm việc gì có giá trị bảo vệ sự sống để đền bù lại. Nghĩa là không thể đọc năm ba kinh Lậy Cha, Kính Mừng để đền tội giết người hay làm thiệt hại danh dự và tài sản của người khác được. Đây là việc “đền tội” mà các cha giải tội đòi hối nhân phải làm để sửa chữa những hậu quả do tội gây ra, sau khi đã xưng và được tha qua ơn phép tha tội.

Mặt khác, cũng theo giáo lý của Giáo Hội, thì tội mang lại hai hậu sau đây, tùy mức phạm là nặng hay nhẹ:

Tội trọng làm mất tức khắc  sự hiệp thông với Chúa là tình yêu; và nếu chết không kịp sám hối và được tha qua bí tích hoà giải, thì sẽ phải chịu án phạt đời đời trong nơi gọi là hoả ngục (x. SGLCG,số 1033-35).

Tội nhẹ không cắt đứt sự hiệp thông với Chúa, nhưng cũng gây thương tổn phần nào cho sự hiệp thông này, nên cũng cần được tha thứ và thanh tẩy.

Cả hai loại tội trọng và tội nhẹ, sau khi được tha qua bí tích hoà giải, đều để lại hậu quả xáo trộn nhiều ít trong tâm hồn hối nhân, như Thánh Công Đồng Trentinô đã dạy trên đây.

Vì thế, hối nhân cần được thanh tẩy mọi hậu quả của tội  qua việc “đền tội” để xoá đi cái gọi là “hình phạt hữu hạn sau khi tội được tha nhờ bí tích hoà giải. Việc đền tội này,  nếu không làm đầy đủ khi còn sống thì phải được thanh luyện sau khi chết  trong nơi gọi là “Luyện tội”. Và đây là lý do vì sao Giáo Hội daỵ các tín hữu còn sống, phải  làm việc lành và cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện tội để giúp họ mau thoát khỏi hình phạt hữu hạn nói trên, để gia nhập hàng ngũ các Thánh trên Thiên Đàng, hưởng Nhan Thánh Chúa đời đời.

Hình phạt hữu hạn không phải là sự “trả thù” của Chúa. Cũng không phải vì Chúa không tha thứ hoàn hoàn cho con người, mà vì hậu quả của tội gây ra cho hối nhân cần được sửa chữa mà thôi (x. SGLGH CG,số 1472).

Nói cách cụ thể, ta có thể tạm dùng hình ảnh này để minh họa cho điều vừa giải thích trên đây:  tội lỗi được ví như những cái đinh đóng vào tường. Khi đinh được gỡ đi thì để lại những lỗ hổng to hay nhỏ trên tường, tùy đinh to hay nhỏ. Ví thế, phải lấp các lỗ này sau khi đinh được tháo gỡ để mặt tường được nhẵn nhụi, phẳng phiu trở lại. Việc đền tội cũng được ví tương tự như vậy. Sau khi được tha, tội ví như đinh được rút ra khỏi tường nhưng lổ hổng còn để lại. Vậy phải lấp các lỗ hổng này bằng việc đền tội để tẩy xoá đi những hậu quả do tội để lại trong tâm hồn hối nhân.

Đó là lý do vì sao hối nhân phải làm việc “đền tội” sau khi đã xưng các tội nặng nhẹ với thừa tác viên có chức thánh, là Giám mục hay lịnh mục, tức những người được quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô (in personna Christi) như Giáo Hội dạy.

Cũng cần nói thêm một lần nữa, là xưng tội và đềN tội rồi, thì phải quyết tâm chừa bỏ tội lỗi để luôn sống trong tình yêu của Chúa, nghĩa là không được lợi dụng lòng thương xót tha thứ của Chúa để cứ phạm tội, rồi lại đi xưng tội. Làm như vậy là lạm  dụng lòng khoan dung của Chúa và làm hư phép giải tội. Cha giải tội có thể từ chối ban phép tha tội nếu biết hối nhân cứ xưng đi xưng lại một tội nhiều lần, nghĩa là không cố gắng chừa tội.

Ước mong giải thích này thoả mãn câu hỏi được đặt ra.

 

Linh mục Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

LÀM SAO BIẾT LINH HỒN NÀO ĐƯỢC LÊN THIÊN ĐÀNG?

Hỏi: xin cha giải đáp giúp 2 thắc mắc sau đây:
1- Khi cử hành thánh lễ an táng, một số linh mục đã giảng rằng: linh hồn ông này, (bà này) chắc chắn đã lên thiên đàng rồi, không cần cầu nguyện nữa! Xin cho biết có giáo lý nào cho phép biết và tin điều này hay không?
2- Khi đăng cáo phó với lời lẽ như: “đau đón báo tin buồn Ông, (Bà) đã được Chúa gọi về ngày giờ…” như thế có phù hợp với tín lý Công Giáo về sự chết và hy vọng phục sinh của con người hay không?
Trả lời: 
1- Khi có người qua đời, Giáo Hội chỉ dạy cử hành Nghi thức an táng (Ordo Exsequiarum = Rite of Funerals) gồm có các nghi thức cầu nguyện ở tư gia hay nhà quàn, nghi thức thánh lễ an táng cử hành ở nhà thờ, và nghi thức tiễn đưa ngoài nghĩa trang. Các nghi thức này đã được Đức Thánh Cha Phaolô VI chấp thuận và Thánh Bộ Phụng Tự đã công bố cho thi hành trong toàn Giáo Hội kể từ ngày 1 tháng 6 năm 1970.
Qua tất cả các nghi thức trên, Giáo Hội cầu nguyện cho linh hồn người quá cố được mau đón nhận vào Nước Thiên Chúa để vui hưởng Nhan Thánh Ngài là nguồn hạnh phúc vĩnh cữu cho những ai được cứu rỗi.
Giáo Hội cầu nguyện cho người quá cố vì tin vào sự phục sinh của kẻ chết nhờ lòng xót thương tha thứ vô biên của Chúa như ta tuyên xưng trong Kinh Tín Kính: Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, tôi tin hằng sống vậy. Amen.
Giáo lý của Giáo Hội chỉ nói đến sự phán xét riêng dành cho một linh hồn sau khi lìa khỏi xác như sau:
“Mỗi người lãnh nhận trong linh hồn bất tử của mình phần trả công muôn đời cho mình ngay sau khi chết trong một cuộc phán xét riêng, chiếu theo cuộc sống của mình hướng về Chúa Kitô, để hoặc sẽ trải qua một sự thanh luyện, hoặc lập tức bước vào hưởng hạnh phúc trên trời, hoặc lập tức bị án phạt muôn đời.” (x. SGLGHCG, số 1022).
Nghĩa là sau khi thể xác chết, linh hồn sẽ chịu phán xét riêng để:
· hoặc phải được thánh luyện thêm ở nơi gọi là luyện tội (Purgatory) một thời gian trước khi được vào hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng. 
· hoặc được thâu nhận ngay vào Thiên Đàng vì đã thánh thiện đủ. 
· hoặc bị phạt đời đời trong nơi gọi là hỏa ngục (hell) 
Kết quả trên tùy thuộc vào cuộc sống mà một người đã tự do lựa chọn cho mình khi còn sống trên đời này. Đó là giáo lý của Giáo Hội mà chúng ta phải theo. Nhưng sự thực xẩy ra thế nào cho một linh hồn ngay sau khi lìa khỏi xác thì chỉ có Chúa biết và định đoạt mà thôi. Giáo Hội không cách nào biết được nên chỉ dạy tín hữu cầu nguyện cho kẻ chết được tha thứ mọi tội lỗi đã phạm khi còn sống để mau được đón nhận vào Nước hằng sống. Nói khác đi, Giáo Hội chưa bao giờ phán đoán tức khắc ai đã lên Thiên Đàng, ai phải thanh luyện trong luyện tội và ai đã sa hỏa ngục, cho dù người chết đã sống lành thánh hay tội lỗi công khai đến mức nào. Giáo Hội có phong thánh (canonize) cho ai thi cũng phải qua một thủ tục khắt khe và một thời gian điều tra vô tư theo giáo luật qui định chứ chưa bao giờ tuyên bố tức khắc ai là thánh và đang ở trên Thiên đàng để khỏi phải cầu nguyện cho người đó nữa.
Như vậy, linh mục nào, khi cử hành lễ an táng cho ai, mà tuyên bố linh hồn người ấy đã lên thiên đàng rồi, thì đây hoàn toàn là điều “tưởng tượng quá chủ quan” của linh mục đó để nhằm vinh danh người chết, và làm vui lòng cho tang gia mà thôi. Tuyệt đối không có giáo lý, tín lý nào của Giáo Hội cho phép ai tuyên bố như vậy đối với một người vừa qua đời, dù người đó là Giáo Hoàng, Hồng y, Giám mục, linh mục hay tu sĩ. Chắc chắn như vậy! Giáo Hội chỉ dạy cầu nguyện và phó thác linh hồn các tin hữu đã ly trần cho lòng từ ái của Thiên Chúa mà thôi, chứ không hề phán đoán gì về số phận đời đời của ai cả. (x. SGLGHCG số 958, 1032)
Vả lại, nếu đã biết linh hồn nào lên thiên đàng rồi thì dâng lễ cầu nguyện làm gì nữa, vì các thánh trên Thiên đàng không cần ai cầu nguyện cho, mà ngược lại, còn nguyện giúp cầu thay cách đắc lực cho các tín hữn còn sống hay đang đau khổ trong nơi luyện tội. (tín điều các thánh thông công = communion of saints)
Vậy chúng ta cứ cầu nguyện cho mọi người đã qua đời vì không biết những người đó hiện đang ở đâu, Thiên đàng, luyên tội hay hỏa ngục. Nghĩa là đừng vội tin lời tuyên bố chủ quan của ai để không cầu nguyện cho người quá cố nữa.
2- Khi có người qua đời thì thông thường người ta dùng những ngôn từ như câu hỏi được đặt ra trên đây để báo tin buồn cho thân thuộc xa gần.
Về một phương diện, hay nói đúng hơn về mặt con người, thì sự chết quả thật là điều đau buồn nhất cho thân nhân còn sống. Như thế, đau buồn, báo tin và chia buồn là điều chính đáng và phù hợp với bản chất và tâm lý nhân loại.
Chúa Giêsu xưa kia đã sống trọn vẹn với bản tính nhân loại này khi Chúa nghe tin người bạn của mình là Lazarô chết (x. Ga 11). Nhưng khi thấy người Do Thái đến chia buồn với chị em Maria và Martha, Chúa Giêsu đã không nói với họ: sao lại chia buồn? phải chúc mừng chứ vì chết là được giải thoát khỏi cuộc sống đau khổ ở đời này mà … Ngược lại, chính Chúa đã khóc thương Lazarô khi đứng trước mộ của anh khiến những người Do thái có mặt phải nói với nhau rằng: “Ông ta thương Lazarô biết mấy!” (Ga 11:36). Và để an ủi cho chị em Mariavà Martha, nhất là để cho thấy Người là Thiên Chúa, là sự sống và là sự sống lại, Chúa Giêsu đã truyền cho Lazarô ra khỏi mồ, sống lại sau 4 ngày nằm ở đây. Đặc biệt, Chúa đã nói với Martha khi đó và mọi người chúng ta ngày nay tín điều rất quan trọng này: “Ta là sự sống và là sự sống lại. Ai tin vào Ta thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.” (Ga 11: 25).
Như vậy, tuy đau buồn theo bản tính con người trước sự chết, chúng ta cũng đừng quên tuyên xưng niềm tin vào Chúa Kitô là sự sống và là sự sống lại mỗi khi phải đối diện với sự chết, một điều không ai tránh được khi mang thân phận con người trong trần thế này.
Đau buồn và biểu lộ buồn đau này là điều phù hợp với nhân tính và không nghịch với đức tin. Tuy nhiên, để nói lên niềm tin vào Chúa Kitô phục sinh, tức là bày tỏ niềm hy vọng vào sự sống lại của người đã chết, chúng ta không nên quá bi thảm sự chết để không vô tình kêu trách Chúa là nguyên nhân gây ra sự đau buồn to lớn này. Linh mục giảng trong lễ tang, cũng không nên quá đào sâu nỗi đau khổ của sự chết mà quên nhấn mạnh chiều kích hy vọng và niềm vui phục sinh của người đã ly trần.
Sau hết, trong lời báo tin buồn cho thân nhận, chúng ta nên dùng ngôn từ thể hiện được niềm tin phục sinh nhiều hơn là thuần tính nhân loại như một số cáo phó đã được nghe gần đây.
Thí du, nên viết: Trong niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh, xin báo tin để thân bằng quyến thuộc được biết: người thân của chúng tôi là… đã được Chúa gọi về (hay đã ra đi bình an trong Chúa) ngày tháng năm… Nghĩa là không nên nói: rất đau đớn báo tin buồn người thân đã được Chúa gọi về… 
Trong lời phân ưu, cũng không nên nói: “rất đau buồn khi được tin ông, bà… đã được Chúa gọi về”. vì nói như vậy hóa ra trách Chúa đã gây ra sự đau buồn hay sao?
Thật ra, chết là hậu quả của tội lỗi chứ không phải là điều Thiên Chúa mong muốn cho ai từ ban đầu: “Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi đã gây nên sự chết. Như thế sự chết đã lan tràn tới mọi người vì một người đã phạm tội. (x Rm 5:12).
Chính Chúa Kitô cũng đã phải chết vì tội của nhân loại, nhưng qua cái chết của Người trên thập giá, Chúa đã chiến thắng tội lỗi và sự chết và cho chúng ta hy vọng vào sự sống lại sau khi phải chết trong thân xác, nếu chúng ta cùng sống và chết như Chúa Kitô. Đây là niềm tin, vui hy vọng mà chúng ta phải cám ơn Chúa mặc dù phải chấp nhận đau khổ của sự chết.
Tóm lại, đứng trước cái chết, là con người, ai cũng phải đau buồn, khóc thương, chia buồn với nhau. Nhưng đừng quá bi thảm cái chết đến nỗi vô tình trách Chúa là nguyên nhân gây ra. Ngược lại, phải cám ơn Chúa về hy vọng phục sinh sau khi phải chết vì hậu quả của tội lỗi như Thánh Phaolô đã dạy.
Cầu nguyện cho người chết là việc bác ái đẹp lòng Chúa. Nhưng không ai được phép kết luận hay phán đoán gì về phần rỗi của bất cứ người nào dù biết người đó đã sống tốt lành hay “tội lỗi” ra sao. Chỉ một mình Thiên Chúa biết và phán đoán mà thôi.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Nếu điều gì các con nhân danh Thầy mà xin, Thầy sẽ làm cho

Lễ THÁNH PHILIPHÊ và GIACÔBÊ, Tông Đồ – 03/05/18

Bài Ðọc I: 1 Cr 15, 1-8

“Chúa hiện ra với Giacôbê, rồi với tất cả các Tông đồ”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Image may contain: one or more people and people sittingAnh em thân mến, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng mà tôi đã rao giảng cho anh em, và anh em đã lãnh nhận và đang tin theo, nhờ đó anh em được cứu độ, nếu anh em tuân giữ lời lẽ tôi đã rao giảng cho anh em, bằng không anh em đã tin cách vô ích.

Tôi đã rao truyền cho anh em trước tiên điều mà chính tôi đã nhận lãnh: đó là Ðức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng theo như lời Thánh Kinh. Người được mai táng và ngày thứ ba Người đã sống lại đúng theo như lời Thánh Kinh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi sau với mười một vị. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em trong một lúc; nhiều người trong số anh em đó hãy còn sống tới nay, nhưng có vài người đã chết. Thế rồi Người hiện ra với Giacôbê, rồi với tất cả các Tông đồ. Sau cùng, Người cũng hiện ra với chính tôi như với đứa con đẻ non.Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 18, 2-3. 4-5

Ðáp: Tiếng chúng đã vang cùng trái đất. (c. 5a).

Xướng: 1) Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, thanh không kể ra sự nghiệp tay Người. Ngày này nhắc nhủ cho ngày khác, đêm này truyền tụng cho đêm kia. – Ðáp.

2) Ðây không phải lời cũng không phải tiếng, mà âm thanh chúng không thể lọt tai. Nhưng tiếng chúng đã vang cùng trái đất, và lời chúng truyền ra khắp cõi địa cầu. – Ðáp.

Alleluia: Ga 14, 6b và 9c

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Hỡi Philipphê, ai thấy Thầy là xem thấy Cha Thầy”. – Alleluia.

Phúc Âm: Ga 14, 6-14

“Nếu điều gì các con nhân danh Thầy mà xin, Thầy sẽ làm cho”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Image may contain: 2 people, people sittingKhi ấy, Chúa Giêsu phán cùng Tôma rằng: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy. Nếu các con biết Thầy, thì cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, các con biết và đã xem thấy Người”.

Philipphê thưa: “Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha và như thế là đủ cho chúng con”.

Chúa Giêsu nói cùng ông rằng: “Thầy ở với các con bấy lâu rồi, thế mà con chưa biết Thầy ư? Philipphê, ai thấy Thầy là xem thấy Cha. Sao con lại nói: ‘Xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha?’ Con không tin Thầy ở trong Cha, và Cha ở trong Thầy ư? Những điều Thầy nói với các con, không phải tự mình mà nói, nhưng chính Cha ở trong Thầy, Ngài làm mọi việc. Các con hãy tin rằng Thầy ở trong Cha, và Cha ở trong Thầy. Ít ra các con hãy tin vì các việc Thầy đã làm. Thật, Thầy bảo thật các con: Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm được những việc Thầy đã làm. Người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn, vì Thầy về với Cha. Và điều gì các con nhân danh Thầy mà xin Cha, Thầy sẽ làm, để Cha được vinh hiển trong Con. Nếu điều gì các con nhân danh Thầy mà xin cùng Thầy, Thầy sẽ làm cho”.

SUY NIỆM LỜI CHÚA HÔM NAY

ĐẾN VỚI CHÚA

Ngày 03 tháng 05 năm 2018
Thứ Năm đầu tháng, tuần 5 Phục Sinh – THÁNH PHILIPPHÊ VÀ THÁNH GIACÔBÊ, Tông Đồ. Lễ Kính.

* Thánh Philipphê quê ở Bét-xai-đa. Ban đầu người là môn đệ của thánh Gioan Tẩy Giả, sau đó, người theo Chúa Giêsu.
Còn thánh Giacôbê, người là anh em bà con với Chúa và là con của ông Anphê. Người đã lãnh đạo giáo đoàn Giêrusalem và đã giúp cho nhiều người Do thái đón nhận đức tin. Người còn để lại một bức thư. Người chịu tử đạo năm 62.

Suy niệm: Philipphê và Giacôbê tông đồ.

Image may contain: 2 peopleKính nhớ thánh Giacôbê Hậu, con ông Alphê, anh em họ với Đức Giê-su. Ngài làm Giám Mục cộng đồng Kitô ở Giê-ru-sa-lem và là thánh tử đạo thứ 36 thánh Stêphanô và Giacôbê tiền anh của thánh Gioan. Cần đọc lại bức thư với lời giới thiệu để tôn vinh Ngài, vì Ngài đã bàn đến nhiều vấn đề.

Tên của Thánh Philip được ghi rất sớm trong Tin Mừng của Thánh Gioan. Ngài được kể là Tông Đồ thứ tư cùng với Thánh Gioan và hai Thánh Anrê và Phêrô dân thành Betsaida xứ Galilê (Ga 1, 43-44), Ngài giới thiệu mấy người Hy Lạp xin gặp Đức Giê-su (12, 21), trước khi làm phép lạ bánh hóa nhiều, Đức Giê-su hỏi Ngài: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn?… Ngài đáp: thực có mua đến 200 đồng bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút (6, 5-7) và ở bữa tiệc ly, Philíp nói: “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện”. (14, . Người ta cho rằng Philíp sống hiện thực, giống như những người tiến bộ khoa học thời chúng ta: ông sống theo kinh nghiệm nên đòi được xem, sờ, cảm thấy Chúa Cha, cùng với óc tính toán của ông: có mua đến hai trăm đồng bạc bánh cũng chẳng đủ mỗi người một chút!
Không, Đức Giê-su không mua 200 đồng bánh, cũng không làm cho Chúa Cha hiện ra. Đức Giê-su có tất cả mọi sự để nuôi tất cả thính giả, để mặc khải Chúa Cha: chỉ mình Người tỏ cho thấy rõ quyền phép của Người và tình yêu của Thiên Chúa. Trong Người, chúng ta có tất cả. Chỉ mình Người nắm giữ tất cả để với những cử chỏ của Người, Người ban cho chúng ta những cảm nghiệm về Thiên Chúa nhờ những dây liên kết của Người với chúng ta.

Hãy nhìn ngắm Đức Giê-su sống thì hiểu biết được Thiên Chúa. Hãy tin vào Đức Giê-su, thì chúng ta sẽ được bảo phải làm gì để đi vào chương trình cứu độ.

Nhờ sự cảm nghiệm của bản thân mình về đức tin chúng ta sẽ cảm nghiệm thẩm sâu toàn diện Tin Mừng Thánh Gioan kết hợp với những khuynh hướng hiện đại cũa chúng ta. Các bạn trẻ chúng ta đã cảm nghiệm được những điều thích thú trong sách của Thánh Gioan, thì cần đào sâu những cuộc đàm thoại trong Tin Mừng của Thánh Gioan để khởi đi từ câu thứ nhất: “Hãy theo tôi” mà Thánh Philíp chắc chắn đã thấm thía với tất cả ý nghĩa thâm sâu của câu đó, để rồi: “Thấy Thầy, là thấy Cha” và “Thế là được mãn nguyện”.

VMS: Nguyễn Việt Nam

Thánh Philipphê và thánh Giacôbê

Cả hai vị thánh này đều là thành viên trong nhóm Mười Hai tông đồ của Đức Chúa Giêsu. Philipphê là một trong số những môn đệ được chọn đầu tiên. Ngài sinh tại Bétsaiđa, miền Galilêa. Đức Chúa Giêsu gặp ngài và bảo “hãy theo Ta!” Philipphê cảm thấy rất hạnh phúc và sung sướng được ở với Đức Chúa Giêsu và ngài muốn san sẻ niềm vui sướng ấy với người bạn Nathanael của ngài. “Chúng tôi đã gặp thấy Người mà Môisê và các tiên tri đã viết,” Philipphê giải thích, “Người chính là Giêsu Nazareth!”

Xem ra Nathanael chẳng hồi hộp và bỡ ngỡ chút nào! Nazareth chỉ là một làng quê nhỏ bé. Nó không rộng lớn và quan trọng như Giêrusalem. Vì thế, Nathanael nói: “Nào có cái gì tốt lành xuất từ Nazareth đâu?” Nhưng Philipphê không tức giận trước câu trả lời của bạn mình. Ngài chỉ nói: “Hãy đến mà xem!” Và Nathanael đến gặp Đức Chúa Giêsu. Sau khi trò chuyện với Chúa, Nathanael cũng trở nên môn đồ nhiệt tâm của Đức Chúa Giêsu.

Thánh Giacôbê là con của ông Alphê. Ngài cũng được Đức Chúa Giêsu tuyển chọn làm một trong số mười hai tông đồ. Với tước vị là tông đồ, thánh Giacôbê được sai đi loan truyền Tin mừng và làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh. Cùng với các tông đồ khác, thánh Giacôbê đã góp sức xây dựng nền móng Giáo hội. Người ta rất coi trọng Giacôbê đến nỗi họ gọi ngài là “Giacôbê công chính,” nghĩa là “Giacôbê thánh thiện.” Họ cũng gọi ngài là “Giacôbê hậu” vì ngài nhỏ tuổi hơn một tông đồ khác cũng mang tên Giacôbê. Người ta gọi Giacôbê kia là “Giacôbê tiền” bởi vì ngài lớn tuổi hơn.

Hết thảy chúng ta đều có thể trở thành những tông đồ của Đức Chúa Giêsu bằng những cách thế riêng mình. Chúng ta có thể chia sẻ Tin mừng qua niềm tin vào Đức Chúa Giêsu trong đời sống chúng ta. Đó là cách thức để bắt chước hai thánh tông đồ Philipphê và Giacôbê.

Theo http://www.paolinevn.org