May 22, 2022

Thứ Sáu Tuần Thánh – Tưởng Niệm Chúa Tử Nạn – 15/04/22 (Ăn Chay – Kiêng Thịt)

BÀI ĐỌC I: Is 52, 13-53, 12

“Người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta”.

(Bài ca thứ tư của người Tôi Tớ Chúa)

Trích sách Tiên tri Isaia.

Này tôi tớ Ta sẽ được cao minh, sẽ vinh thăng tấn phát, cao cả tuyệt vời. Cũng như nhiều người đã kinh ngạc, vì thấy người tàn tạ mất hết vẻ người, dung nhan người cũng không còn nữa, cũng thế, muôn dân sẽ sửng sốt, các vua không còn biết nói chi trước mặt người. Vì họ sẽ thấy việc chưa ai kể cho mình, sẽ biết điều mình chưa hề được nghe. Ai mà tin được điều chúng ta nghe? Và Chúa đã tỏ ra sức mạnh cho ai?

Người sẽ lớn lên trước mặt Ngài như một chồi non, như một rễ cây, tự đất khô khan. Người chẳng còn hình dáng, cũng chẳng còn sắc đẹp để chúng ta nhìn ngắm, không còn vẻ bên ngoài, để chúng ta yêu thích; bị người đời khinh dể như kẻ thấp hèn nhất, như kẻ đớn đau nhất, như kẻ bệnh hoạn, như một người bị che mặt và bị khinh dể, bởi đó, chúng ta không kể chi đến người.

Thật sự, người đã mang lấy sự đau yếu của chúng ta, người đã gánh lấy sự đau khổ của chúng ta. Mà chúng ta lại coi người như kẻ phong cùi, bị Thiên Chúa đánh phạt và làm cho nhuốc hổ. Nhưng người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta, bị tan nát vì sự gian ác chúng ta. Người lãnh lấy hình phạt cho chúng ta được bình an, và bởi thương tích người mà chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lang thang như chiên cừu, mỗi người một ngả. Chúa đã chất trên người tội ác của tất cả chúng ta.

Người hiến thân vì người tình nguyện và không mở miệng như con chiên bị đem đi giết, và như chiên non trước mặt người xén lông, người thinh lặng chẳng hé môi. Do cưỡng bách và án lệnh, người đã bị tiêu diệt; ai sẽ còn kể đến dòng dõi người nữa, bởi vì người đã bị khai trừ khỏi đất người sống; vì tội lỗi dân Ta, Ta đánh phạt người. Người ta định đặt mồ người giữa những kẻ gian ác, nhưng khi chết, người được chôn giữa kẻ giàu sang, mặc dầu người đã không làm chi bất chánh, và miệng người không nói lời gian dối. Chúa đã muốn hành hạ người trong đau khổ.

Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ thấy một dòng dõi trường tồn, và nhờ người, ý định Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi khổ tâm của người, người sẽ thấy và sẽ được thoả mãn. Nhờ sự thông biết, tôi tớ công chính của Ta sẽ công chính hoá nhiều người, sẽ gánh lấy những tội ác của họ. Bởi đó, Ta trao phó nhiều dân cho người, người sẽ chia chiến lợi phẩm với người hùng mạnh. Bởi vì người đã hiến thân chịu chết và đã bị liệt vào hàng phạm nhân, người đã mang lấy tội của nhiều người, và đã cầu bầu cho các phạm nhân. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 30, 2 và 6. 12-13. 15-16. 17 và 25

Đáp: Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha. (Lc 23, 46).

Xướng: 1) Lạy Chúa, con tìm đến nương nhờ Ngài, xin đừng để con muôn đời tủi hổ, vì đức công minh Ngài, xin cứu chữa con! Con phó thác tâm hồn trong tay Chúa, lạy Chúa, lạy Thiên Chúa trung thành, xin cứu chữa con. – Đáp.

2) Con trở nên đồ ô nhục đối với những người thù, nên trò cười cho khách lân bang, và mối lo sợ cho người quen biết; gặp con ngoài đường, họ tránh xa con. Con bị người ta quên, không để ý tới, dường như đã chết, con đã trở nên như cái bình bị vỡ tan. – Đáp.

3) Phần con, lạy Chúa, con tin cậy ở Ngài, con kêu lên: Ngài là Thiên Chúa của con! Vận mạng con ở trong tay Ngài, xin cứu gỡ con khỏi tay quân thù và những người bách hại. – Đ

4) Xin cho tôi tớ Chúa được thấy long nhan dịu hiền, xin cứu sống con theo lượng từ bi của Chúa. Lòng chư vị hãy can trường mạnh bạo, hết thảy chư vị là người cậy trông ở Chúa. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Dt 4, 14-16; 5, 7-9

“Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời”.

Trích thư gởi tín hữu Do-thái.

Anh em thân mến, chúng ta có một thượng tế cao cả đã đi qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, nên chúng ta hãy giữ vững việc tuyên xưng đức tin của chúng ta. Vì chưng, không phải chúng ta có thượng tế không thể cảm thông sự yếu đuối của chúng ta, trái lại, Người đã từng chịu thử thách bằng mọi cách như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi.

Khi còn sống ở đời này, Chúa Kitô đã lớn tiếng rơi lệ dâng lời cầu xin khẩn nguyện lên Đấng có thể cứu mình khỏi chết, và vì lòng thành kính, Người đã được nhậm lời. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những kẻ tùng phục Người. Đó là lời Chúa.

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Pl 2, 8-9

Chúa Kitô vì chúng ta đã vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu.

PHÚC ÂM: Ga 18, 1 – 19, 42

“Sự Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.

LM: Bài Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Gioan.

XV1: Khi ấy, Chúa Giêsu đi với môn đệ sang qua suối Xêrông, ở đó có một khu vườn, Người vào đó cùng với các môn đệ. Giuđa, tên phản bội, đã biết rõ nơi đó, vì Chúa Giêsu thường đến đấy với các môn đệ. Nên Giuđa dẫn tới một toán quân cùng với vệ binh do các thượng tế và biệt phái cấp cho, nó đến đấy với đèn đuốc và khí giới. Chúa Giêsu đã biết mọi sự sẽ xảy đến cho Mình, nên Người tiến ra và hỏi chúng:

LM: “Các ngươi tìm ai?”

XV1: Chúng thưa lại:

XV2: “Giêsu Nadarét”.

XV1: Chúa Giêsu bảo:

LM: “Ta đây”.

XV1: Giuđa là kẻ định nộp Người cũng đứng đó với bọn chúng. Nhưng khi Người vừa nói “Ta đây”, bọn chúng giật lùi lại và ngã xuống đất. Người lại hỏi chúng:

LM: “Các ngươi tìm ai?”

XV1: Chúng thưa:

XV2: “Giêsu Nadarét”.

XV1: Chúa Giêsu đáp lại:

LM: “Ta đã bảo các ngươi rằng Ta đây! Vậy nếu các ngươi tìm bắt Ta, thì hãy để cho những người này đi”.

XV1: Như thế là trọn lời đã nói: Con chẳng để mất người nào trong những kẻ Cha đã trao phó cho Con. Bấy giờ Simon Phêrô có sẵn thanh gươm, liền rút ra đánh tên đầy tớ vị thượng tế, chém đứt tai bên phải. Đầy tớ ấy tên là Mancô. Nhưng Chúa Giêsu bảo Phêrô rằng:

LM: “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén Cha Ta đã trao lẽ nào Ta không uống!”

XV1: Bấy giờ, toán quân, trưởng toán và vệ binh của người Do-thái bắt Chúa Giêsu trói lại, và điệu Người đến nhà ông Anna trước, vì ông là nhạc phụ của Caipha đương làm thượng tế năm ấy. Chính Caipha là người đã giúp ý kiến này cho người Do-thái: để một người chết thay cho cả dân thì lợi hơn. Còn Phêrô và môn đệ kia vẫn theo Chúa Giêsu. Môn đệ sau này quen vị thượng tế nên cùng với Chúa Giêsu vào trong sân vị thượng tế, còn Phêrô đứng lại ngoài cửa. Vì thế, môn đệ kia là người quen với vị thượng tế, nên đi ra nói với người giữ cửa và dẫn Phêrô vào. Cô nữ tì gác cửa liền bảo Phêrô:

XV2: “Có phải ông cũng là môn đệ của người đó không?”

XV1: Ông đáp:

XV2: “Tôi không phải đâu”.

XV1: Đám thủ hạ và vệ binh có nhóm một đống lửa và đứng đó mà sưởi vì trời lạnh, Phêrô cũng đứng sưởi với họ. Vị thượng tế hỏi Chúa Giêsu về môn đệ và giáo lý của Người. Chúa Giêsu đáp:

LM: “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ, Tôi thường giảng dạy tại hội đường và trong đền thờ, nơi mà các người Do-thái thường tụ họp, Tôi không nói chi thầm lén cả. Tại sao ông lại hỏi Tôi? Ông cứ hỏi những người đã nghe Tôi về những điều Tôi đã giảng dạy. Họ đã quá rõ điều Tôi nói”.

XV1: Nghe vậy, một tên vệ binh đứng đó vả mặt Chúa Giêsu mà nói:

XV2: “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư”.

XV1: Chúa Giêsu đáp:

LM: “Nếu Ta nói sai, hãy chứng minh điều sai đó; mà nếu Ta nói phải, thì tại sao anh lại đánh Ta?”

XV1: Rồi Anna cho giải Người vẫn bị trói đến cùng vị thượng tế Caipha. Lúc ấy Phêrô đang đứng sưởi. Họ bảo ông:

XV2: “Có phải ông cũng là môn đệ người đó không?”

XV1: Ông chối và nói:

XV2: “Tôi không phải đâu”.

XV1: Một tên thủ hạ của vị thượng tế, có họ với người bị Phêrô chém đứt tai, cãi lại rằng:

XV2: “Tôi đã chẳng thấy ông ở trong vườn cùng với người đó sao?”

XV1: Phêrô lại chối nữa, và ngay lúc đó gà liền gáy.

Bấy giờ họ điệu Chúa Giêsu từ nhà Caipha đến pháp đình. Lúc đó tảng sáng và họ không vào pháp đình để khỏi bị nhơ bẩn và để có thể ăn Lễ Vượt Qua. Lúc ấy Philatô ra ngoài để gặp họ và nói:

XV2: “Các ngươi tố cáo người này về điều gì”.

XV1: Họ đáp:

XV2: “Nếu hắn không phải là tay gian ác, chúng tôi đã không nộp cho quan”.

XV1: Philatô bảo họ:

XV2: “Các ông cứ bắt và xét xử theo luật của các ông”.

XV1: Nhưng người Do-thái đáp lại:

XV2: “Chúng tôi chẳng có quyền giết ai cả”.

XV1: Thế mới ứng nghiệm lời Chúa Giêsu đã nói trước: Người sẽ phải chết cách nào. Bấy giờ Philatô trở vào pháp đình gọi Chúa Giêsu đến mà hỏi:

XV2: “Ông có phải là Vua dân Do-thái không?”

XV1: Chúa Giêsu đáp:

LM: “Quan tự ý nói thế, hay là có người khác nói với quan về tôi?”

XV1: Philatô đáp:

XV2: “Ta đâu phải là người Do-thái. Nhân dân ông cùng các thượng tế đã trao nộp ông cho ta. Ông đã làm gì?”

XV1: Chúa Giêsu đáp:

LM: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do-thái, nhưng nước tôi không thuộc chốn này”.

XV1: Philatô hỏi lại:

XV2: “Vậy ông là Vua ư?”

XV1: Chúa Giêsu đáp:

LM: “Quan nói đúng: Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng tôi”.

XV1: Philatô bảo Người:

XV2: “Chân lý là cái gì?”

XV1: Nói lời này xong, ông lại ra gặp người Do-thái và bảo họ:

XV2: “Ta không thấy nơi người này có lý do để khép án. Nhưng theo tục lệ các ngươi, ta sẽ phóng thích cho các ngươi một tù nhân vào dịp Lễ Vượt Qua. Vậy các ngươi có muốn ta phóng thích Vua Do-thái cho các ngươi chăng?”

XV1: Họ liền la lên:

XV2: “Không phải tên đó, nhưng là Baraba”.

XV1: Baraba là một tên cướp. Bấy giờ Philatô truyền đem Chúa Giêsu đi mà đánh đòn Người. Binh sĩ kết một triều thiên bằng gai nhọn đội lên đầu Người, và chúng mặc cho Người một áo đỏ. Rồi chúng đến gần Người và nói:

XV2: “Tâu Vua Do-thái!”

XV1: Và vả mặt Người. Philatô lại ra ngoài và nói:

XV2: “Đây ta cho dẫn người ấy ra ngoài cho các ngươi để các ngươi biết rằng ta không thấy nơi người ấy một lý do để kết án”.

XV1: Bấy giờ Chúa Giêsu đi ra, đội mão gai và khoác áo đỏ. Philatô bảo họ:

XV2: “Này là Người”.

XV1: Vừa thấy Người, các thượng tế và vệ binh liền la to:

XV2: “Đóng đinh nó vào thập giá! Đóng đinh nó vào thập giá!”

XV1: Philatô bảo họ:

XV2: “Đấy các ngươi cứ bắt và đóng đinh ông vào thập giá, phần ta, ta không thấy lý do nào kết tội ông”.

XV1: Người Do-thái đáp lại:

XV2: “Chúng tôi đã có luật, và theo luật đó nó phải chết, vì nó tự xưng là Con Thiên Chúa”.

XV1: Nghe lời đó Philatô càng hoảng sợ hơn. Ông trở vào pháp đình và nói với Chúa Giêsu:

XV2: “Ông ở đâu đến?”

XV1: Nhưng Chúa Giêsu không đáp lại câu nào. Bấy giờ Philatô bảo Người:

XV2: “Ông không nói với ta ư? Ông không biết rằng ta có quyền đóng đinh

ông vào thập giá và cũng có quyền tha ông sao?”

XV1: Chúa Giêsu đáp:

LM: “Quan chẳng có quyền gì trên tôi, nếu từ trên không ban xuống cho, vì thế nên kẻ nộp tôi cho quan, mắc tội nặng hơn”.

XV1: Từ lúc đó Philatô tìm cách tha Người. Nhưng người Do-thái la lên:

XV2: “Nếu quan tha cho nó, quan không phải là trung thần của Xêsa, vì ai xưng mình là vua, kẻ đó chống lại Xêsa”.

XV1: Philatô vừa nghe lời đó, liền cho điệu Chúa Giêsu ra ngoài rồi ông lên ngồi toà xử, nơi gọi là Nền đá, tiếng Do-thái gọi là Gabbatha. Lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu ngày chuẩn bị Lễ Vượt Qua. Philatô bảo dân:

XV2: “Đây là vua các ngươi”.

XV1: Nhưng họ càng la to:

XV2: “Giết đi! Giết đi! Đóng đinh nó đi!”

XV1: Philatô nói:

XV2: “Ta đóng đinh vua các ngươi ư?”

XV1: Các thượng tế đáp:

XV2: “Chúng tôi không có vua nào khác ngoài Xêsa”.

XV1: Bấy giờ quan giao Người cho họ đem đóng đinh. Vậy họ điệu Chúa Giêsu đi. Và chính Người vác thập giá đến nơi kia gọi là Núi Sọ, tiếng Do-thái gọi là Golgotha. Ở đó họ đóng đinh Người trên thập giá cùng với hai người khác nữa: mỗi người một bên, còn Chúa Giêsu thì ở giữa. Philatô cũng viết một tấm bảng và sai đóng trên thập giá. Bảng mang những hàng chữ này: “Giêsu, Nadarét, vua dân Do-thái”. Nhiều người Do-thái đọc được bảng đó, vì nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh thì gần thành phố, mà bảng viết thì bằng tiếng Do-thái, Hy-lạp và La-tinh. Vì thế các thượng tế đến thưa với Philatô:

XV2: Xin đừng viết “Vua dân Do Thái”, nhưng nên viết: “Người này đã nói: ‘Ta là vua dân Do-thái'”.

XV1: Philatô đáp:

XV2: “Điều ta đã viết là đã viết”.

XV1: Khi quân lính đã đóng đinh Chúa Giêsu trên thập giá rồi thì họ lấy áo Người chia làm bốn phần cho mỗi người một phần, còn cái áo dài là áo không có đường khâu, đan liền từ trên xuống dưới. Họ bảo nhau:

XV2: “Chúng ta đừng xé áo này, nhưng hãy rút thăm xem ai được thì lấy”.

XV1: Hầu ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Chúng đã chia nhau các áo Ta và đã rút thăm áo dài của Ta”. Chính quân lính đã làm điều đó. Đứng gần thập giá Chúa Giêsu, lúc đó có Mẹ Người, cùng với chị Mẹ Người là Maria, vợ ông Clopas và Maria Mađalêna. Khi thấy Mẹ và bên cạnh có môn đệ Người yêu, Chúa Giêsu thưa cùng Mẹ rằng:

LM: “Hỡi Bà, này là con Bà”.

XV1: Rồi Người lại nói với môn đệ:

LM: “Này là Mẹ con”.

XV1: Và từ giờ đó môn đệ đã lãnh nhận Bà về nhà mình. Sau đó, vì biết rằng mọi sự đã hoàn tất, để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm, Chúa Giêsu nói:

LM: “Ta khát!”

XV1: Ở đó có một bình đầy dấm. Họ liền lấy miếng bông biển thấm đầy dấm cắm vào đầu ngành cây hương thảo đưa lên miệng Người. Khi đã nếm dấm rồi, Chúa Giêsu nói: 

LM: “Mọi sự đã hoàn tất”.

XV1: Và Người gục đầu xuống trút hơi thở cuối cùng.

 LM: (Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)

XV1: Hôm đó là ngày chuẩn bị lễ: để tội nhân khỏi treo trên thập giá trong ngày Sabbat, vì ngày Sabbat là ngày đại lễ, nên người Do-thái xin Philatô cho đánh dập ống chân tội nhân và cho cất xác xuống. Quân lính đến đánh dập ống chân của người thứ nhất và người thứ hai cùng chịu treo trên thập giá với Người. Nhưng lúc họ đến gần Chúa Giêsu, họ thấy Người đã chết, nên không đánh dập ống chân Người nữa, tuy nhiên một tên lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người; tức thì máu cùng nước chảy ra. Kẻ đã xem thấy thì đã minh chứng, mà lời chứng của người đó chân thật, và người đó biết rằng mình nói thật để cho các người cũng tin nữa. Những sự việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Người ta sẽ không đánh dập một cái xương nào của Người”. Lời Kinh Thánh khác rằng: “Họ sẽ nhìn xem Đấng họ đã đâm thâu qua”.

Sau đó, Giuse người xứ Arimathia, môn đệ Chúa Giêsu, nhưng thầm kín vì sợ người Do-thái, xin Philatô cho phép cất xác Chúa Giêsu. Philatô cho phép. Và ông đến cất xác Chúa Giêsu. Nicôđêmô cũng đến, ông là người trước kia đã đến gặp Chúa Giêsu ban đêm. Ông đem theo chừng một trăm cân mộc dược trộn lẫn với trầm hương. Họ lấy xác Chúa Giêsu và lấy khăn bọc lại cùng với thuốc thơm theo tục khâm liệm người Do-thái. Ở nơi Chúa chịu đóng đinh có cái vườn và trong vườn có một ngôi mộ mới, chưa chôn cất ai. Vì là ngày chuẩn bị lễ của người Do-thái và ngôi mộ lại rất gần, nên họ đã mai táng Chúa Giêsu trong mộ đó.

LM: Đó là lời Chúa.

Lm Peter Lê Thanh Quang

SUY NIỆM: NHỮNG THỨ SÁU TUẦN THÁNH

“Thánh kinh là lịch sử ơn cứu độ của chúng ta đã được hứa hẹn trong Cựu ước và được thể hiện trong Tân ước” (Linh mục Giuse Trịnh Hưng Kỷ – Dẫn vào Tân ước tập một). Nhưng cũng có thể nói Thánh kinh là lịch sử Tình yêu liên tục của Thiên Chúa đối với con người không ngừng lỗi phạm.

Những bài suy tư sau đây, được viết dưới dạng nhật ký, như một cái nhìn từ Tân ước – qua biến cố tử nạn của Chúa Kitô- ngược về Cựu ước- qua những hình ảnh trong sách Sáng thế. Ước mong làm nổi lên tính liên tục của Tình yêu Thiên Chúa, một Tình yêu bền vững làm phát sinh dòng lịch sử cứu độ.

1. Thứ Sáu tuần Thánh ngày…tháng…năm…

Chiều nay, một buổi chiều bình an cho nhân loại. Bởi vì Đấng Cứu độ đã đồng hóa mình với họ. Chiều nay nhân loại hạnh phúc vì trên nẻo đời, họ không bước đi đơn lẻ, mà Thiên Chúa đang cùng họ đồng hành. Người đang bao bọc từng người bằng Tình yêu.

Chiều nay họ đến nhà thờ lòng tràn ngập niềm vui, vì chiếc khăn tang bao trùm con cháu Ađam đã bị xé tan. Tội của một người nhân loại phải đau khổ, phải chết. Nhưng nhờ Máu Đức Kitô, nhân loại được chuộc lại sự sống.

Nơi các nhà thờ giáo dân cúi đầu tưởng niệm. Trong không gian trầm mặc, họ ngắm Đàng Thánh giá. Họ nghe Lời Chúa nói với họ về cuộc thương khó của Chúa Kitô. Họ cảm nhận gương mặt đau khổ của Con Thiên Chúa đang mời gọi họ trở lại với Ngài.

Và họ thấy cuộc đời này thật ý nghĩa: vì đau khổ của họ, Con Thiên Chúa đã từng mang lấy. Con Thiên Chúa đã sử dụng cuộc đời này để làm người, để sống, để lớn lên và cứu chuộc họ…

2. Thứ Sáu tuần Thánh ngày…tháng…năm…

Thứ Sáu tuần Thánh năm nay, để giúp cộng đoàn suy niệm trước Thánh giá, tôi đã nghiền ngẫm và suy niệm điều này: “Trên thập giá, Chúa Giêsu đã ôm trọn nỗi khổ đau của con người, chia sớt đến cùng những khắc khoải của con người về lẽ sống… Người trộm cùng bị án treo thập giá với Chúa Giêsu bỗng nhận ra con đường sự sống…” (Đại chủng viện thánh Giuse Sài Gòn – Đàng Thánh giá 1995).

Tôi nhớ chuyện xưa kể rằng, có đôi vợ chồng kia yêu nhau đắm đuối, đến nỗi có lần chàng bảo nàng là xương, là thịt của chàng. Chúa yêu họ, cho họ sống giữa địa đàng trù phú. Trên hết mọi cỏ cây và muông chim cầm thú, họ nắm chủ quyền. Nhưng rồi một ngày, họ quay lưng phản nghịch lại Chúa. Thiên thần Chúa cầm gươm lửa đuổi họ khỏi địa đàng. Cửa trời khép lại. Từ nay họ bắt đầu một cuộc sống đày ải lầm than.

Ngài nay chuyện kể rằng, Ngôi Lời, Con Thiên Chúa mặc lấy xác phàm, sống giữa trần gian hầu “ôm trọn nỗi khổ đau của con người, chia sớt đến cùng những khắc khoải của con người về lẽ sống” . Thân xác Ngài quằn quại trên khổ giá lại chính là lời ngỏ của Tình yêu. Cửa trời từ nay lại mở rộng.

Ngày xưa cửa trời khép lại do lòng người khép lại. Họ không yêu Chúa và chẳng còn yêu thương nhau. Ngày nay cửa trời lại mở do một người biết mở rộng cõi lòng. Đức Giêsu, Con Thiên Chúa đã yêu và chết vì yêu.

Thập giá không chỉ là ngọn cờ biểu trưng cho Tình yêu, cũng không chỉ là mầu nhiệm của Tình yêu, mà còn là lời ngỏ của Tình yêu gởi nhân loại. Người trộm lành vì biết mở rộng lòng nên anh “bỗng nhận ra con đường sự sống”. Thế là trong phút chốc anh đã hưởng trọn vẹn lời ngỏ của Tình yêu.

Lạy Chúa, con rất sợ tâm hồn con không mở rộng, lòng con khép lại trong thụ hưởng ích kỷ, khép lại trong gian dối…Và khi ấy cửa trời cũng khép lại…Con rất sợ. Chúa ơi con rất sợ…Giêsu hãy giúp con…

3. Thứ Sáu tuần Thánh ngày…tháng…năm…

Từ ngày đôi vợ chồng đầu tiên của nhân loại bước ra khỏi địa đàng, sự sống trở nên gánh nặng. Liều thuốc độc của tội đã giết chết tất cả mọi tương quan giữa con người với Thiên Chúa, với thụ tạo quanh mình, và giết chết chính mình. Tội là một thất bại thảm hại của con người. Khi dựng nên con người, Thiên Chúa không cho họ giống một cái gì khác, nhưng là giống chính Thiên Chúa.

Con người là phản ảnh vinh quang của Thiên Chúa. . Từ nguyên khởi họ là loài thụ tạo tốt đẹp, một thụ tạo ưu tú, vượt trên mọi thụ tạo. Nhưng thay vì hướng về Thiên Chúa như Ngài muốn, con người lại tập trung vào chính mình: con người kiêu ngạo. Bởi một khoảnh khắc sai lầm, bản tính tốt lành của họ bị đánh bại thảm hại. Tưởng rời xa Thiên Chúa để được bằng Thiên Chúa, không ngờ nó trở thành sự vong thân nghiệt ngã.

Lời Thiên Chúa vẫn nhắc nhở con người, để họ nghe mà suy nghĩ: “Thấy chưa! Ađam đã trở thành một bậc hiểu biết điều lành, sự dữ như Ta: nên bây giờ phải e dè kẻo y giơ tay hái trái trường sinh mà ăn hầu được sống vĩnh viễn chăng ( St 3, 22).

Đi liền với hành động tộilỗi, họ đã đạt mục đích: “Biết điều lành, sự dữ”. Nhưng cái giá phải trả quá đắt: mất tất cả và mất cả chính mình. Cả câu Lời Chúa như một lời mỉa mai chua chát xoáy vào số phận con người.

“Sự sống vĩnh viễn” đâu không thấy, chỉ có nỗi nhục nhã, đau khổ là bám lấy. Cái được chẳng bao nhiêu, nhưng mất quá nhiều. Thà đừng được để đừng mất, đó là điều quý giá, nhưng con người chỉ nhận ra cách muộn màng.

Kinh nghiệm tội lỗi dù đã làm con người khiếp sợ nhưng họ vẫn không thể tự mình đứng vững. Sau mỗi lần phạm tội là mỗi lần đổ vỡ, là ray rứt, là mất mát, nhưng vẫn cứ lao vào. Con người mong manh, yếu đuối không đủ sức tự làm chủ mình. Vong thân đẩy họ đi từ nghiệt ngã này đến nghiệt ngã khác. Vì thế, càng mất mát, càng sợ hãi, càng đau đớn… Con người càng biết ơn Đấng cứu thoát mình. Chúa Kitô, Thiên Chúa làm người đã cúi xuống nâng họ lên từ số phận bạc phước, họ được cứu độ.

Số phận không còn đen tối nữa, nhưng con người có quyền hy vọng.

Tình yêu Thiên Chúa chiến thắng.

Vì Tình yêu ấy mà Chúa Kitô trở thành “người Tôi tớ đau khổ” của Thiên Chúa.

Trên thập giá, gương mặt của Chúa Kitô là tất cả nỗi nhục nhằn của nhân loại được khắc sâu vào đó.

Hôm nay, thứ Sáu tuần Thánh, ngày mà nhân loại phải cúi đầu thống hối, ngày biết ơn Đấng Cứu chuộc mình.Thứ Sáu tuần Thánh, ngày mà nhân loại tưởng niệm ơn cứu độ hồng phúc đang chảy tràn trề xuyên qua mọi thời đại. Bởi thế thứ Sáu tuần Thánh cũng là ngày vui mừng của muôn thụ tạo và của triều thần thánh, vì Đấng xóa tội trần gian đã chiến thắng khải hoàn trên mọi đầu mục thế gian. Vì loài người là đứa con hoang của Chúa Cha đã mất nay tìm thấy, đã chết nay sống lại. Loài người hãy reo lên, hãy ca vang bài ca vinh tụng Thiên Chúa là Cha nhân lành đến muôn đời.

4.Thứ Sáu tuần Thánh ngày…tháng…năm…

A. Hai câu chuyện về hai con rắn trong Cựu ước có liên quan lạ lùng với nhau:

– Con rắn địa đàng (St 3, 1-5) xuất hiện đang lúc con người đang ở đỉnh cao hạnh phúc. Con rắn đồng trong sa mạc (Ds 21, 4b-9) xuất hiện giữa cảnh cơ cực của những người tha hương vừa thoát khỏi kiếp nô lệ.

– Con rắn địa đàng là hiện thân của tội lỗi và sự dữ. Con rắn đồng trong sa mạc là “tin mừng” cho những kẻ ngước nhìn lên nó.

– Con rắn địa đàng hủy diệt mọi tương quan tốt đẹp giữa con người với Thiên Chúa. Con rắn đồng trong sa mạc mang lại niềm hy vọng vì nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa.

– Vì con rắn địa đàng, nhân loại đã phạm tội. Bởi tội, nhân loại đáng được “Đấng Cứu độ đời đời(Bài ca Exultex – đêm Phục sinh). Con rắn đồng trong sa mạc là hình bóng báo trước ơn cứu độ.

B. Hai câu chuyện về hai con rắn trong Cựu ước cũng liên quan trực tiếp đến Tân ước:

Thiên Chúa nói với con rắn địa đàng: “Ta sẽ đặt hận thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng giống ngươi và dòng giống nó. Dòng giống nó sẽ đạp đầu ngươi, còn người sẽ táp lại gót chân” (St 3, 15). Đây là lời hứa cứu độ đầu tiên và quan trọng nhất, mở ra một tia hy vọng giữa lúc án phạt do tộivà mọi đau khổ đang đè nặng con người. Chính vì lời hứa này, suốt chiều dài lịch sử cứu độ, Thiên Chúa không ngừng ký kết giao ước. Và giao ước cuối cùng, vĩnh viễn đã hoàn tất nơi Chúa Kitô .

Câu chuyện thứ  hai về con rắn được chính Chúa Kitô nhắc lại: “Như Môisen giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ được giương cao như vậy” (Ga 3, 14). Nếu ngày xưa ai nhìn lên con rắn đồng sẽ được cứu sống, thì ngày nay thập giá Đức Kitô chính là ơn cứu độ trọn vẹn cho những ai tin (Ga 3, 15). Hình bóng cũ đã được hoàn tất bằng thực tại mới. Hình bóng cũ thoáng qua, thực tại mới sống động và vững bền. Chúa Kitô mãi mãi là Đấng Cứu độ duy nhất của trần gian (Dt 13, 8).

C. Thập giá – một phương thế cứu độ:

Nhìn ở một góc cạnh nào đó về lời hứa cứu độ, thì tội phát sinh phương thề cứu độ là thập giá: có tội mới có thập giá. Nhưng nếu không có Tình yêu sẽ chẳng bao giờ có lời hứa cứa độ. Thập giá là lời nói vô giá của Tình yêu. Huyền nhiệm Tình yêu đã phát sinh huyền nhiệm thập giá.

Tội làm đau khổ không chỉ nơi con người, mà còn nơi Thiên Chúa. Dĩ nhiên không thể nói Thiên Chúa đau khổ do thương tật, khiếm khuyết nhưng rõ ràng, đứng trước tội của con người, trái tim của Ngài đã phản ứng đến độ thốt lên: “Ta hối tiếc đã làm ra con người” (St 6, 7).

“hối tiếc”, Thiên Chúa đã không vì thế mà cứu chuộc con người cách miễn cưỡng, như chuyện dĩ  lỡ. Thiên Chúa đã tự nguyện cứu độ và đã cứu độ thực sự. Quyết định cứu độ của Thiên Chúa là quyết định xuất phát từ Tình yêu của một người Cha – Thiên Chúa: “Sự đau khổ khôn lường và khôn tả của người Cha sẽ làm phát sinh nhiệm cục của Tình yêu cứu độ trong Đức Giêsu Kitô” (Đức Gioan Phaolô II – thông điệp Chúa Thánh Thần, số 39). Nơi thập giá, Chúa Kitô mạc khải trọn vẹn về Tình yêu, nỗi đau khổcủa Thiên Chúa. Nơi thập giá, Tình yêu của người Cha đã chiến thắng: Một dòng dõi trường tồn sẽ đạp bể đầu con rắn xưa…

*****

Nhân loại vui mừng vì Đấng cứu độ trần gian đã dùng thánh giá nối trời và đất, giao hòa thụ tạo với Thiên Chúa. Chiều thứ Sáu tuần Thánh, trên thập giá, Chúa lau sạch nước mắt nhân loại:

Vì Chúa bị treo lên và mọi loài được kéo lên cùng Chúa;

Vì Chúa đã chết để mọi người sẽ sống;

Vì máu Chúa tuôn trào lại chảy tràn ơn cứu độ khắp nhân gian;

Và thập giá từ nay khoác lên đau khổ màu hy vọng.

Nghìn năm qua, rồi mãi về sau, ngọn cờ thập giá vẫn được nêu cao. Ngọn cờ mang sức mạnh của sự sống.

Lạy Chúa, phụng vụ chiều thứ Sáu tuần Thánh trầm mặc: bàn thờ không hoa, cửa nhà tạm mở, chỉ có thập giá được dựng lại trên bàn thờ. Thập giá ấy, nỗi ô nhục không thể chấp nhận được đối với người Do thái, sự điên rồ đối với dân ngoại (x.1Cr 1, 32) lại trở thành thánh giá, nguồn cứu độ vinh quang đời đời cho chúng con. Mầu nhiệm thánh giá: mầu nhiệm của Tình yêu. Chúng con không thể lý giải, nhưng chúng con tin Tình yêu ấy.

Ngước nhìn thánh giá, chúng con thấy thương cho thân phận mình: Rủi thay, nếu Thiên Chúa chỉ là một ông chủ chỉ biết dọa nạt và đánh phạt. Nhưng chúng con lại đầy tràn niềm vui, chan chứa nỗi hy vọng vì biết rằng nơi Chúa, Chúa Cha nói lời chung quyết của Tình yêu. Quỳ trước thánh giá, chiêm ngắm mầu nhiệm tử nạn, lòng chúng con muốn cùng muôn thụ tạo reo vang lời cảm tạ, tôn vinh Tình yêu ấy, vì Tình yêu đã hủy diệt án tử dành cho chúng con. Tình yêu ấy lớn hơn tội lỗi, mạnh hơn sự chết. Lạy Chúa, chúng con muốn suốt đời là kẻ hát rong cho Tình yêu…

Lm JB NGUYỄN MINH HÙNG