Sách Thánh Kinh

Thánh Kinh Cựu Ước

Sáng Thế Ký
Sách Xuất Hành
Sách Lê Vi
Sách Dân Số
Đệ Nhị Luật
Sách Giô suê
Sách Thủ Lãnh
Sách Rút
Sách 1 Samuen
Sách 2 Samuen

1.Sách Sáng Thế Ký:

1 Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất.2 Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước.

2. Sách Xuất Hành: 

1 Sau đây là tên những con cái Ít-ra-en đã đến Ai-cập với ông Gia-cóp, mỗi người đem theo gia đình mình:2 Rưu-vên, Si-mê-ôn, Lê-vi và Giu-đa,3 Ít-xa-kha, Dơ-vu-lun và Ben-gia-min,4 Đan và Náp-ta-li, Gát và A-se.

3. Sách Lê-vi:

1 ĐỨC CHÚA gọi ông Mô-sê, và từ Lều Hội Ngộ, Người phán với ông rằng: 2 "Hãy nói với con cái Ít-ra-en và bảo chúng: Khi một người trong các ngươi dâng lễ tiến lên ĐỨC CHÚA, nếu là gia súc thì các ngươi phải dâng bò hay chiên dê làm lễ tiến.

4. Sách Dân Số:

1 Tại sa mạc Xi-nai ngày mồng một tháng hai năm thứ hai kể từ khi con cái Ít-ra-en ra khỏi đất Ai-cập, ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê trong Lều Hội Ngộ rằng:2 "Các ngươi hãy kiểm tra dân số toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en theo thị tộc và gia tộc, lập danh sách mọi người đàn ông từng người một.

5.  Sách Đệ Nhị Luật:

1 Đây là những lời ông Mô-sê nói với toàn thể Ít-ra-en, ở bên kia sông Gio-đan, trong sa mạc, trong thung lũng A-ra-va, đối diện với Xúp, giữa Pa-ran, Tô-phen, La-van, Kha-xê-rốt và Đi Da-háp.2 Từ núi Khô-rếp đến Ca-đê Bác-nê-a, qua đường núi Xê-ia, là mười một ngày đường.

6.  Sách Giô-suê:

Sau khi tôi trung ĐỨC CHÚA là ông Mô-sê qua đời, ĐỨC CHÚA phán với con ông Nun là ông Giô-suê, phụ tá của ông Mô-sê:2 "Mô-sê, tôi trung của Ta, đã chết. Vậy bây giờ, ngươi hãy trỗi dậy! Và cùng với tất cả dân này, qua sông Gio-đan, mà vào đất Ta ban cho chúng, tức là con cái Ít-ra-en.

7. Sách Thủ Lãnh:

1 Sau khi ông Giô-suê từ trần, con cái Ít-ra-en đã thỉnh ý ĐỨC CHÚA rằng: "Ai trong chúng con sẽ lên đương đầu với quân Ca-na-an trước tiên để giao tranh với chúng? "2 ĐỨC CHÚA phán: "Giu-đa sẽ lên: Này Ta đã trao đất ấy vào tay nó."

8.  Sách Rút:

1 Vào thời các thủ lãnh cai trị, một nạn đói xảy ra trong xứ. Có một người cùng với vợ và hai con trai bỏ Bê-lem miền Giu-đa mà đến ở trong cánh đồng Mô-áp.2 Tên người đàn ông là Ê-li-me-léc, tên người vợ ấy là Na-o-mi và tên của hai con trai là Mác-lôn và Kin-giôn.

9.  Sách 1 Sa-Mu-En:

1 Có một người quê thành Ra-ma-tha-gim Xô-phim, thuộc miền núi Ép-ra-im, tên là En-ca-na, con ông Giơ-rô-kham; ông Giơ-rô-kham là con ông Ê-li-hu, ông Ê-li-hu là con ông Tô-khu, ông Tô-khu là con ông Xúp, người Ép-ra-tha.2 Người ấy có hai vợ, một bà tên là An-na, một bà tên là Pơ-nin-na.

 Sách 2 Sa-Mu-En:

Sau khi vua Sa-un chết, ông Đa-vít đánh thắng người A-ma-lếch trở về, và ở lại Xích-lắc hai ngày.2 Sang ngày thứ ba, có một người từ trại, từ bên vua Sa-un đến, áo quần xé rách, đầu thì rắc đất. Khi đến gần ông Đa-vít, anh ta sấp mình xuống đất và sụp lạy.3 Ông Đa-vít hỏi anh: "Anh từ đâu đến? " Anh trả lời ông: "Tôi đã chạy thoát từ trại Ít-ra-en."

Thánh Kinh Cựu Ước

Sách 1 Các Vua
2 Các Vua
1 Sử Biên Niên
2 Sử Biên Niên
Sách Et-ra
Nơ khê mi a
Sách Tôbia
Sách Giu-đi-tha
Sách Et-te
1 Mác-ca-bê

11.  Sách 1 Các Vua:

1 Vua Đa-vít đã già nua, tuổi tác; áo mặc bao nhiêu cũng không đủ ấm.2 Các bề tôi của vua mới thưa vua rằng: "Xin được tìm cho đức vua, chúa thượng của hạ thần một cô trinh nữ, để nàng túc trực bên ngài và săn sóc cho ngài; có nàng nằm trong lòng ngài, ngài sẽ cảm thấy ấm."

12.  Sách 2 Các Vua:

1 Sau khi vua A-kháp qua đời, Mô-áp nổi loạn chống Ít-ra-en.2 Vua A-khát-gia ngã xuống từ lan can phòng trên của lầu vua ở Sa-ma-ri, nên bị đau ốm. Vua sai sứ giả đi và bảo họ: "Các ngươi hãy đi thỉnh ý Ba-an Dơ-vúp, thần của Éc-rôn, để xem ta có thể qua khỏi cơn bệnh này không? "

13.  Sách 1 Sử Biên Niên:

11 Ông Mít-ra-gim sinh ra dân Lút, dân A-nam, dân Lơ-háp, dân Náp-tu-khim,12 dân Pát-rốt, dân Cát-lúc và dân Cáp-to, từ dân này mới có dân Phi-li-tinh.13 Ông Ca-na-an sinh ra ông Xi-đôn là con đầu lòng, rồi sinh ông Khết,14 và các người Giơ-vút, người E-mô-ri, người Ghia-ga-si,15 người Khi-vi, người Ác-ki, người Xi-ni,16 người Ác-vát, người Xơ-ma-ri, người Kha-mát.

14.  Sách 2 Sử Biên Niên:

1 Vua Sa-lô-môn, con vua Đa-vít, nắm vững vương quyền của mình. ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của vua, ở với vua và làm cho vua nên cao trọng tuyệt vời.2 Vua ngỏ lời với toàn thể Ít-ra-en, với các vị chỉ huy một ngàn, và chỉ huy một trăm quân, các thẩm phán, tất cả các thủ lãnh của toàn thể Ít-ra-en, các trưởng tộc.

15.  Sách Ét-Ra:

1 Năm thứ nhất thời vua Ky-rô trị vì nước Ba-tư, để lời ĐỨC CHÚA phán qua miệng ngôn sứ Giê-rê-mi-a được hoàn toàn ứng nghiệm, ĐỨC CHÚA tác động trên tâm trí Ky-rô, vua Ba-tư. Vua thông báo cho toàn vương quốc và ra sắc chỉ như sau:2 "Ky-rô, vua Ba-tư, phán thế này: ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa trên trời, đã ban cho ta mọi vương quốc dưới đất.

16.  Sách Nơ-Khe-Mi-A:

1 Đây là truyện ông Nơ-khe-mi-a, con ông Kha-khan-gia.Tháng Kít-lêu, năm thứ hai mươi, khi tôi đang ở thành Su-san,2 thì một người anh em của tôi là Kha-na-ni từ miền Giu-đa cùng đến với một vài người. Tôi hỏi thăm về những người Do-thái thoát nạn, những người sống sót sau thời gian tù đày, và hỏi thăm về Giê-ru-sa-lem.

17.  Sách Tô-Bi-A:

1 Đây là sách truyện ông Tô-bít, con ông Tô-bi-ên, cháu ông Kha-nan-ên, chắt ông A-đu-ên, cháu ba đời ông Ga-ba-ên, cháu bốn đời ông Ra-pha-en, cháu năm đời ông Ra-gu-ên. Ông thuộc dòng dõi ông A-xi-ên, chi tộc Náp-ta-li.2 Vào thời San-ma-ne-xe làm vua Át-sua, ông bị đày khỏi Tít-be, một thành ở miền nam Ky-đi-ô, thuộc Náp-ta-li, trên miền Ga-li-lê Thượng, bên trên Khát-xo nằm lui vào bên trong, hướng mặt trời lặn, ở phía bắc Phô-go.

18.  Sách Giu-Đi-Tha:

1 Năm thứ mười hai triều đại vua Na-bu-cô-đô-nô-xo cai trị người Át-sua ở Ni-ni-vê, một thành phố lớn, là lúc vua Ắc-phắc-xát cai trị người Mê-đi ở Éc-ba-tan.2 Ông Ắc-phắc-xát dùng loại đá đẽo rộng một thước rưỡi, dài ba thước xây một thành luỹ chung quanh Éc-ba-tan. Ông làm tường thành cao ba mươi lăm thước và dài hai mươi lăm thước.

19.  Sách Ét-Te:

1 a) Năm thứ hai triều đại Ác-tắc-sát-ta, ngày mồng một tháng Ni-xan, ông Moóc-đo-khai, con ông Gia-ia (ông Gia-ia là con ông Sim-y, ông Sim-y con ông Kít), thuộc chi tộc Ben-gia-min, đã có một giấc chiêm bao. (1b) Ông là một người Do-thái cư ngụ tại thành Su-san, một nhân vật có thế giá, giữ một chức vụ trong hoàng cung. (1c) Ông thuộc số những người đi đày, bị vua Ba-by-lon là Na-bu-cô-đô-nô-xo bắt rời khỏi Giê-ru-sa-lem và phát lưu cùng với vua Giu-đa là Giơ-khon-gia.

20.  Sách 1 Mác-Ca-Bê:

1 Vua A-lê-xan-đê, con vua Phi-líp-phê, người Ma-kê-đô-ni-a, xuất thân từ đất Kít-tim, đã đánh bại Đa-ri-ô, vua nước Ba-tư và Mê-đi, và đã trị vì thay thế vua Đa-ri-ô -trước đó vua A-lê-xan-đê đã cai trị Hy-lạp-2 Sau đó vua đánh nhiều trận, chiếm nhiều thành trì và giết các vua chúa trong vùng.

Thánh Kinh Cựu Ước

Sách 2 Mác-ca-bê
Sách Gióp
Thánh Vịnh
Châm Ngôn
Giảng Viên
Diễm Ca
Khôn Ngoan
Huấn Ca
Sách Isaia
Giê rê mi a
Sách Aica

21.  Sách 2 Mác-Ca-Bê:

1 Anh em Do-thái ở Giê-ru-sa-lem và miền Giu-đê xin kính chào anh em Do-thái ở Ai-cập và kính chúc anh em được vạn an.2 Xin Thiên Chúa ban phúc lộc cho anh em và xin Người nhớ lại Giao Ước Người đã lập với các tôi trung của Người là Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp.3 Xin Người cho tất cả anh em hết một lòng thờ phượng Người và làm theo ý Người với tâm hồn quảng đại và tinh thần cương quyết.4 Xin Người mở lòng anh em đón nhận Lề Luật cũng như các lệnh truyền của Người và ban bình an cho anh em

22. Sách Gióp:

1 Xưa ở đất Út có một người tên là Gióp. Ông là một con người vẹn toàn và ngay thẳng, kính sợ Thiên Chúa và lánh xa điều ác.2 Ông sinh được bảy người con trai và ba người con gái.3 Ông có một đàn súc vật gồm bảy ngàn chiên dê, ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái và một số rất đông tôi tớ. Ông là người giàu có nhất trong số các con cái Phương Đông.

23. Sách Thánh Vịnh:

1 Phúc thay người chẳng nghe theo lời bọn ác nhân,
chẳng bước vào đường quân tội lỗi,
không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng,

2 nhưng vui thú với lề luật CHÚA,
nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày.

24. Sách Châm Ngôn:

1 Đây là những châm ngôn của Sa-lô-môn, ông là con vua Đa-vít và là vua Ít-ra-en.;

2 Các châm ngôn này nhằm giúp con người
biết lẽ khôn ngoan và nhận lời nghiêm huấn,
hiểu được những lời lẽ thâm thuý cao sâu,

3 đón nhận lời nghiêm huấn để biết cách xử sự khôn ngoan :
biết sống công bình, công minh và chính trực.

25. Sách Giảng Viên:

12 Tôi là Cô-he-lét, tôi đã làm vua cai trị Ít-ra-en ở Giê-ru-sa-lem.13 Tôi đã chú tâm tìm hiểu và dùng trí khôn ngoan mà khảo sát tất cả những gì xảy ra dưới bầu trời : đó là công việc nhọc nhằn Thiên Chúa bắt con cái loài người phải để tâm thực hiện.14 Sau khi nhìn thấy mọi công việc thực hiện dưới ánh mặt trời, tôi nhận ra : tất cả chỉ là phù vân, chỉ là công dã tràng xe cát.15 Cái gì đã cong, uốn làm sao nổi, cái gì đã thiếu, đếm thế nào ra ?

26. Sách Diễm Ca:

2 Ước gì chàng hôn ta những nụ hôn chính môi miệng chàng !
Ân ái của anh còn ngọt ngào hơn rượu.

3 Mùi hương anh thơm ngát,
tên anh là dầu thơm man mác toả lan,
thảo nào các thiếu nữ mê say mộ mến !

27. Sách Khôn Ngoan:

1 Hãy yêu chuộng đức công chính,
hỡi những người cai trị trần gian,
hãy suy tưởng ngay lành về Đức Chúa
và thành tâm kiếm tìm Người.

2 Ai không thách thức Người, thì được Người cho gặp.
Ai tin tưởng vào Người, sẽ được Người tỏ mình cho thấy.

28. Sách Huấn Ca:

1 Khôn ngoan nhất nhất đều do tự Chúa và từ đời đời hằng ở với Người. 2 Cát biển, giọt mưa, ngày đời đời, ai nào đếm được? 3 Trời cao, đất rộng vực thẳm ai nào dò ra? 4 Trước mọi sự, Khôn ngoan đã được dựng nên, và tự đời đời sự thông hiểu minh mẫn. 5 Nguồn mạch khôn ngoan chính là Lời Thiên Chúa trên cao, và đường lối (của khôn ngoan) là lịnh truyền hằng có.

29. Sách I-Sai-A:

2 Trời hãy nghe đây, đất lắng tai nào, vì ĐỨC CHÚA phán:
"Ta đã nuôi nấng đàn con, cho chúng nên khôn lớn,
nhưng chúng đã phản nghịch cùng Ta.

3 Con bò còn biết chủ, con lừa còn biết cái máng cỏ nhà chủ nó.
Nhưng Ít-ra-en thì không biết, dân Ta chẳng hiểu gì.

30. Sách Giê-Rê-Mi-A:

1 Đây là những lời của ông Giê-rê-mi-a, con ông Khin-ki-gia-hu, thuộc hàng tư tế ở A-na-thốt trong đất Ben-gia-min.2 Những lời này, ĐỨC CHÚA đã phán với ông từ năm thứ mười ba triều vua Giô-si-gia-hu; vua này là con vua A-môn và là vua Giu-đa,3 qua triều vua Giơ-hô-gia-kim là con vua Giô-si-gia-hu và là vua Giu-đa, cho đến cuối năm thứ mười một triều vua Xít-ki-gia-hu; vua này cũng là con vua Giô-si-gia-hu và là vua Giu-đa, tới khi Giê-ru-sa-lem bị phát lưu vào tháng thứ năm.

31. Sách Ai-Ca:

1 Làm sao Đô Thị dân đông đúc
lại ngồi trơ, tủi nhục một mình!
Xưa lệnh bà giữa muôn dân nước,
nay khác chi quả phụ tội tình.
Bà nữ chúa đứng đầu các tỉnh
đã trở thành một kẻ khổ sai.

Thánh Kinh Cựu Ước

Sách Ba-rúc
Sách Ê-dê-ki-en
Sách Đanien
Sách Hôsê
Sách Giôen
Sách Amốt
Sách Ôvađia
Sách Giôna
Sách Mikha
Sách Nakhum

32. Sách Ba-Rúc:

2 Năm thứ năm, ngày thứ bảy trong tháng thứ năm, kể từ khi quân Can-đê đánh chiếm và phóng hoả thành Giê-ru-sa-lem,3 ông Ba-rúc đã đọc sách này trước mặt vua Giơ-khon-gia, con vua nước Giu-đa là Giô-gia-kim, trước mặt toàn dân đến nghe và4 trước mặt các bậc vị vọng, hoàng thân và kỳ mục, trước mặt toàn dân, cả trẻ con lẫn người lớn, trước mặt mọi người cư ngụ tại Ba-by-lon bên sông Sút.5 Bấy giờ, trước nhan Đức Chúa, tất cả đều khóc lóc, ăn chay và cầu nguyện;

33. Sách Ê-Dê-Ki-En:

Ngày mồng năm tháng tư năm thứ ba mươi, lúc tôi đang ở giữa những người lưu đày, bên bờ sông Cơ-va, thì trời mở ra và tôi nhìn thấy thị kiến Thiên Chúa cho xem.2 Ngày mồng năm trong tháng - vào năm thứ năm kể từ khi vua Giô-gia-khin bị đi đày -,3 có lời ĐỨC CHÚA phán với tư tế Ê-dê-ki-en, con ông Bu-di, trong xứ Can-đê, bên bờ sông Cơ-va. Ở đó, tay ĐỨC CHÚA đặt trên ông.

34. Sách Đa-Ni-En:

1 Năm thứ ba, đời vua Giơ-hô-gia-kim cai trị xứ Giu-đa, vua xứ Ba-by-lon là Na-bu-cô-đô-nô-xo đến bao vây thành Giê-ru-sa-lem.2 Chúa trao vua xứ Giu-đa là Giơ-hô-gia-kim cùng với tất cả đồ dùng của Nhà Chúa vào tay vua Na-bu-cô-đô-nô-xo. Ông này mang những thứ ấy về đền thờ các thần của ông ta ở xứ Sin-a và bỏ vào nhà kho của các thần.
3 Nhà vua truyền cho quan đứng đầu các thái giám là Át-pơ-nát chọn trong số con cái Ít-ra-en một vài đứa trẻ thuộc dòng dõi hoàng gia và hàng quý tộc mà dẫn về

35. Sách Hô-Sê:

2 Khởi đầu, lời ĐỨC CHÚA thể hiện trong cuộc đời ông Hô-sê. ĐỨC CHÚA phán với ông Hô-sê: "Hãy đi cưới một người đàn bà làm điếm để sinh những đứa con đàng điếm, vì cả xứ đều bỏ ĐỨC CHÚA mà đi làm điếm."3 Ông đã đi cưới bà Gô-me, con gái ông Đíp-la-gim. Bà đã có thai và sinh cho ông một người con trai.4 ĐỨC CHÚA phán với ông: "Hãy đặt tên cho nó là Gít-rơ-en, vì chẳng bao lâu nữa Ta sẽ đến trừng phạt nhà Giê-hu vì tội đổ máu tại Gít-rơ-en, và Ta sẽ dẹp bỏ vương quốc Ít-ra-en.5 Trong ngày đó, Ta sẽ bẻ gãy cung nỏ của Ít-ra-en trong thung lũng Gít-rơ-en."

36. Sách Giô-En:

2 Hỡi các kỳ mục, hãy nghe những điều này,
tất cả cư dân trong xứ, hãy lắng nghe!
Đã bao giờ xảy ra như thế trong thời của các ngươi
hay trong thời tổ tiên các ngươi chưa?

37. Sách A-Mốt:

1 Lời của A-mốt. Ông là một trong những người chăn cừu tại Tơ-cô-a, ông đã thấy thị kiến liên quan đến Ít-ra-en, dưới thời Út-di-gia làm vua nước Giu-đa, và Gia-róp-am - con vua Giô-át - làm vua nước Ít-ra-en, hai năm trước trận động đất.

38. Sách Ô-Va-Đi-A:

1 b) ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phán về Ê-đôm như sau:
2 Này, Ta khiến ngươi ra nhược tiểu giữa chư dân,
ngươi bị khinh dể quá đỗi.
3 Lòng kiêu ngạo của ngươi đã đánh lừa ngươi;
ngươi ở trong khe đá, cư ngụ trên chỗ cao.
Ngươi tự nhủ trong lòng: "Nào ai đẩy được ta xuống đất? "

39. Sách Giô-Na:

1 Có lời ĐỨC CHÚA phán với ông Giô-na, con ông A-mít-tai, rằng:2 "Hãy đứng dậy, đi đến Ni-ni-vê, thành phố lớn, và hô cho dân thành biết rằng sự gian ác của chúng đã lên thấu tới Ta."3 Ông Giô-na đứng dậy nhưng là để trốn đi Tác-sít, tránh nhan ĐỨC CHÚA. Ông xuống Gia-phô và tìm được một chiếc tàu sắp đi Tác-sít. Ông trả tiền, xuống tàu để cùng đi Tác-sít với họ, tránh nhan ĐỨC CHÚA.

40. Sách Mi-Kha:

2 Hãy nghe đây, hỡi chư dân,
hãy lắng tai, này trái đất cùng muôn loài muôn vật!
Từ thánh điện của Người,
ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng sẽ làm chứng tố cáo các ngươi.
3 Quả thật, này ĐỨC CHÚA ra khỏi nơi thánh của Người,
Người ngự xuống và chà đạp các nơi cao trên mặt đất.

41. Sách Na-Khum:

2 ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa ghen tương và báo oán,
ĐỨC CHÚA là Đấng báo oán: Người nổi cơn lôi đình,
ĐỨC CHÚA báo oán những kẻ thù địch,
những kẻ thù của Người, Người tỏ lòng oán hận.

Thánh Kinh Cựu Ước

Sách Khabacuc
Xôphônia
Sách Khacgai
Sách Dacaria
Sách Malakhi

42. Sách Kha-Ba-Cúc:

2 Cho đến bao giờ, lạy ĐỨC CHÚA,
con kêu cứu mà Ngài chẳng đoái nghe,
con la lên: "Bạo tàn! " mà Ngài không cứu vớt?
3 Sao Ngài bắt con phải chứng kiến tội ác hoài,
còn Ngài cứ đứng nhìn cảnh khổ đau?
Trước mắt con, toàn là cảnh phá phách, bạo tàn,
chỗ nào cũng thấy tranh chấp và cãi cọ.

43. Sách Xô-Phô-Ni-A:

2 Phải, Ta sẽ quét sạch tất cả khỏi mặt đất này
- sấm ngôn của ĐỨC CHÚA.
3 Ta sẽ quét sạch loài người cũng như loài vật,
Ta sẽ quét sạch chim trời lẫn cá biển.
Ta sẽ khiến cho kẻ gian ác phải lảo đảo té nhào
và sẽ tận diệt loài người khỏi mặt đất - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA.

44. Sách Khác-Gai:

2 ĐỨC CHÚA các đạo binh phán thế này: Dân đó dám nói: "Bây giờ chưa phải là lúc tái thiết Đền Thờ kính ĐỨC CHÚA."3 Nhưng có lời ĐỨC CHÚA phán, qua trung gian ngôn sứ Khác-gai, rằng:4 "Bây giờ có phải là lúc để các ngươi ở trong các nhà có ghép gỗ đóng trần, còn Đền Thờ thì lại hoang tàn đổ nát không?5 Vậy giờ đây, ĐỨC CHÚA các đạo binh phán thế này: Các ngươi hãy để tâm suy cho kỹ về lối sống của các ngươi.6 Các ngươi gieo vãi nhiều, nhưng thu hoạch chẳng bao nhiêu. Các ngươi ăn mà không đủ no, uống không đủ say, mặc không đủ ấm.

45. Sách Da-Ca-Ri-A:

2 "ĐỨC CHÚA bừng bừng nổi giận với cha ông các ngươi.3 Ngươi hãy bảo chúng: ĐỨC CHÚA các đạo binh phán thế này: Hãy trở lại với Ta - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA các đạo binh - và Ta sẽ trở lại với các ngươi, ĐỨC CHÚA các đạo binh phán.4 Đừng như cha ông các ngươi, những người đã được các ngôn sứ thời xưa cảnh cáo: "ĐỨC CHÚA các đạo binh phán thế này: Hãy từ bỏ lối sống xấu xa và những hành vi gian ác của các ngươi mà trở lại." Nhưng chúng chẳng nghe, chẳng lưu ý đến Ta - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA -.

46. Sách Ma-La-Khi:

2 Ta đã yêu thương các ngươi, ĐỨC CHÚA phán. - Thế mà các ngươi nói: Ngài yêu thương chúng con ở chỗ nào? - Ê-xau chẳng phải là anh của Gia-cóp sao? - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. Vậy mà Ta lại yêu thương Gia-cóp.3 Còn Ê-xau, Ta đã ghét nó. Ta đã biến núi non của nó thành chốn bỏ hoang, và gia nghiệp của nó thành nơi cư ngụ cho loài lang sói.4 Nếu Ê-đôm nói: "Chúng ta đã bị phá huỷ, nhưng chúng ta sẽ tái thiết từ những đống hoang tàn đổ nát." ĐỨC CHÚA các đạo binh phán thế này: phần chúng, chúng cứ tái thiết; phần Ta, Ta sẽ phá đổ. Người ta sẽ gọi chúng là "lãnh thổ của gian ác" và "dân bị ĐỨC CHÚA giáng cơn thịnh nộ đến muôn đời.

Thánh Kinh Tân Ước

Phúc Âm Thánh Mátthêu
Thánh Mac-cô
Thánh Luca
Thánh Gioan
Công Vụ Tông Đồ
Thư Roma
Thư 1 Corinto
Thư 2 Corinto
Thư Galat

1.  Tin Mừng theo Thánh Mátthêu:

1 Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham:2 Ông Áp-ra-ham sinh I-xa-ác; I-xa-ác sinh Gia-cóp; Gia-cóp sinh Giu-đa và các anh em ông này; 3 Giu-đa ăn ở với Ta-ma sinh Pe-rét và De-rác; Pe-rét sinh Khét-xơ-ron; Khét-xơ-ron sinh A-ram; 4 A-ram sinh Am-mi-na-đáp; Am-mi-na-đáp sinh Nác-son;

2.  Tin Mừng theo Thánh Máccô:

1 Khởi đầu Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa:2 Trong sách ngôn sứ I-sai-a có chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con.3 Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.

3.  Tin Mừng theo Thánh Lu-ca:

5 Thời vua Hê-rô-đê cai trị miền Giu-đê, có một vị tư tế thuộc nhóm A-vi-gia, tên là Da-ca-ri-a; vợ ông là Ê-li-sa-bét cũng thuộc dòng tộc tư tế A-ha-ron.6 Cả hai ông bà đều là người công chính trước mặt Thiên Chúa, sống đúng theo mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa, không ai chê trách được điều gì.7 Nhưng họ lại không có con, vì bà Ê-li-sa-bét là người hiếm hoi. Vả lại, cả hai đều đã cao niên.

4.  Tin Mừng theo Thánh Gioan:

1 Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa.2 Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa.3 Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành 4 ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.

5.  Sách Công Vụ Tông Đồ:

1 Thưa ngài Thê-ô-phi-lô, trong quyển thứ nhất, tôi đã tường thuật tất cả những việc Đức Giê-su làm và những điều Người dạy, kể từ đầu2 cho tới ngày Người được rước lên trời. Trước ngày ấy, Người đã dạy bảo các Tông Đồ mà Người đã tuyển chọn nhờ Thánh Thần.3 Người lại còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình: trong bốn mươi ngày, Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa.

6.  Thư Rô-ma:

1 Tôi là Phao-lô, tôi tớ của Đức Ki-tô Giê-su; tôi được gọi làm Tông Đồ, và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa.2 Tin Mừng ấy, xưa Người đã dùng các ngôn sứ của Người mà hứa trước trong Kinh Thánh.3 Đó là Tin Mừng về Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.

7.  Thư 1 Cô-Rin-Tô:

10 Thưa anh em, nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hoà thuận, một lòng một ý với nhau.11 Thật vậy, thưa anh em, người nhà của bà Khơ-lô-e cho tôi hay tin có chuyện bè phái giữa anh em.12 Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như: "Tôi thuộc về ông Phao-lô, tôi thuộc về ông A-pô-lô, tôi thuộc về ông Kê-pha, tôi thuộc về Đức Ki-tô."

8.  Thư 2 Cô-Rin-Tô:

8 Thật thế, thưa anh em, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì về nỗi gian truân chúng tôi đã gặp bên A-xi-a: chúng tôi đã phải chịu đựng quá mức, quá sức chúng tôi, đến nỗi chúng tôi không còn hy vọng sống nổi.9 Nhưng chúng tôi đã mang án tử nơi chính bản thân rồi, để chúng tôi không tin tưởng vào chính mình, mà vào Thiên Chúa, Đấng làm cho kẻ chết trỗi dậy.10 Chính Người đã cứu và sẽ còn cứu chúng tôi khỏi một cái chết như thế.

9.  Thư Ga-Lát:

1 Tôi là Phao-lô, Tông Đồ không phải do loài người, cũng không phải nhờ một người nào, nhưng bởi Đức Giê-su Ki-tô và Thiên Chúa là Cha, Đấng đã cho Người từ cõi chết trỗi dậy,2 tôi và mọi anh em đang ở với tôi, kính gửi các Hội Thánh miền Ga-lát.3 Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giê-su Ki-tô ban cho anh em ân sủng và bình an

Thánh Kinh Tân Ước

Thư Epheso
Thư Philipphe
Thư Coloxe
1 Thexalonica
2 Thexalonica
Thư 1 Timothe
Thư 2 Timothe
Thư Tito
Thư Philemon
Thư Do Thái

10.  Thư Ê-Phê-Sô:

1 Anh em đã chết vì những sa ngã và tội lỗi của anh em.2 Xưa kia anh em đã sống trong đó, theo trào lưu của thế gian này, theo tên thủ lãnh nắm giữ quyền lực trên không trung, tên ác thần hiện đang hoạt động trên những kẻ không vâng phục.3 Tất cả chúng tôi xưa kia cũng thuộc hạng người đó, khi chúng tôi buông theo các đam mê của tính xác thịt, thi hành những ước muốn của tính xác thịt và của trí khôn.

11.  Thư Phi-Líp-Phê:

12 Thưa anh em, tôi muốn anh em biết là những gì xảy đến cho tôi thật ra đã giúp cho Tin Mừng được tiến triển,13 đến nỗi tại dinh vua quan cũng như ở mọi nơi khác, người ta đều hiểu rõ là chính vì Đức Ki-tô mà tôi mang xiềng xích.14 Vì thấy tôi bị xiềng xích, phần đông các anh em có lòng tin cậy vào Chúa đã tỏ ra bạo dạn hơn để rao giảng lời Thiên Chúa mà không chút sợ hãi.

12.  Thư Cô-Lô-Xê:

21 Cả anh em nữa, xưa kia anh em là những người xa lạ, là thù địch của Thiên Chúa vì những tư tưởng và hành động xấu xa của anh em.22 Nhưng nay nhờ Đức Giê-su là con người bằng xương bằng thịt đã chịu chết, Thiên Chúa cho anh em được hoà giải với Người, để anh em trở nên thánh thiện tinh tuyền và không có gì đáng trách trước mặt Người.

13.  Thư 1 Thê-Xa-Lô-Ni-Ca:

2 Như anh em biết, chúng tôi đã đau khổ và bị làm nhục tại Phi-líp-phê; nhưng vì tin tưởng vào Thiên Chúa chúng ta mà chúng tôi đã mạnh dạn rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa cho anh em, qua những cuộc chiến đấu gay go.3 Lời giảng của chúng tôi không do sự sai lầm, không có dụng ý xấu, không nhằm lừa dối ai,4 nhưng vì Thiên Chúa đã thử luyện chúng tôi và giao phó Tin Mừng cho chúng tôi, thì chúng tôi cứ vậy mà rao giảng, không phải để làm vừa lòng người phàm, mà để làm đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng thử luyện tâm hồn chúng tôi

14.  Thư 2 Thê-Xa-Lô-Ni-Ca:

3 Thưa anh em, chúng tôi phải luôn luôn tạ ơn Thiên Chúa về anh em: đó là điều phải lẽ, vì lòng tin của anh em đang phát triển mạnh, và nơi tất cả anh em, lòng yêu thương của mỗi người đối với người khác cũng gia tăng.4 Bởi thế, chúng tôi hãnh diện về anh em trước mặt các Hội Thánh của Thiên Chúa, vì anh em kiên nhẫn và có lòng tin mỗi khi bị bắt bớ hay gặp cảnh gian truân.

15.  Thư 1 Ti-Mô-Thê:

3 Khi đi Ma-kê-đô-ni-a, tôi đã khuyên anh ở lại Ê-phê-xô để anh truyền cho một số người đừng dạy một giáo lý khác,4 cũng đừng chú ý đến những chuyện hoang đường và những gia phả dài dòng; những cái đó chỉ gây ra tranh luận, chứ không đóng góp vào kế hoạch của Thiên Chúa mà đức tin cho chúng ta biết.5 Lời truyền dạy đó phải nhằm đưa tới đức mến phát xuất từ tâm hồn trong sạch, lương tâm ngay thẳng và đức tin không giả hình.

16.  Thư 2 Ti-Mô-Thê:

3 Tôi tạ ơn Thiên Chúa, Đấng tôi phụng thờ với lương tâm trong sạch, theo gót tổ tiên; tôi tạ ơn Người khi tôi không ngừng nhắc nhở đến anh, trong các lời cầu nguyện của tôi, đêm cũng như ngày.4 Nhớ đến những giọt nước mắt của anh, tôi ước ao gặp lại anh để được chan chứa niềm vui.5 Tôi hồi tưởng lại lòng tin không giả hình của anh, lòng tin đã có nơi cụ Lô-ít, bà ngoại anh, nơi bà Êu-ni-kê, mẹ anh, cũng như chính nơi anh, tôi xác tín như vậy.

17.  Thư Ti-Tô:

1 Tôi là Phao-lô, tôi tớ của Thiên Chúa và Tông Đồ của Đức Giê-su Ki-tô, có nhiệm vụ đưa những kẻ Thiên Chúa chọn đến đức tin và sự nhận biết chân lý phù hợp với đạo thánh,2 với niềm hy vọng được sự sống đời đời mà Thiên Chúa, Đấng không hề nói dối đã hứa từ thuở đời đời.3 Vào đúng thời đúng buổi, Người đã biểu lộ lời Người trong lời rao giảng đã được giao phó cho tôi, theo lệnh của Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta.4 Tôi gửi lời thăm anh Ti-tô, người con tôi thực sự sinh ra trong cùng một đức tin chung.

18.  Thư Phi-Lê-Mon:

1 Phao-lô, kẻ bị tù vì Đức Ki-tô Giê-su, cùng với người anh em là Ti-mô-thê, gửi anh Phi-lê-môn, cộng sự viên thân mến của chúng tôi,2 cùng chị Áp-phi-a và anh Ác-khíp-pô, chiến hữu của chúng tôi, đồng thời kính gửi Hội Thánh họp tại nhà anh.3 Chúc anh chị em được đầy tràn ân sủng và bình an của Thiên Chúa, Cha chúng ta, và của Chúa Giê-su Ki-tô.

19.  Thư Do Thái:

1 Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ;2 nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài.3 Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật. Sau khi đã tẩy trừ tội lỗi, Người lên ngự bên hữu Đấng Cao Cả trên trời.

Thánh Kinh Tân Ước

Thư Giacobe
Thư 1 Phero
Thư 2 Phero
Thư 1 Gioan
Thư 2 Gioan
Thư 3 Gioan
Thư Giuđa
Sách Khải Huyền

20.  Thư Gia-Cô-Bê:

2 Thưa anh em, anh em hãy tự cho mình là được chan chứa niềm vui khi gặp thử thách trăm chiều.3 Vì như anh em biết: đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn.4 Chớ gì anh em chứng tỏ lòng kiên nhẫn đó ra bằng những việc hoàn hảo, để anh em nên hoàn hảo, không có chi đáng trách, không thiếu sót điều gì.

21.  Thư 1 Phê-Rô:

13 Vì thế, anh em hãy chuẩn bị lòng trí, hãy tỉnh thức, hãy hoàn toàn đặt niềm trông cậy vào ân sủng sẽ được mang đến cho anh em trong ngày Đức Giê-su Ki-tô tỏ hiện.14 Như những người con biết vâng phục, anh em đừng chiều theo những đam mê trước kia, lúc anh em còn mê muội.15 Anh em hãy sống thánh thiện trong cách ăn nết ở, để nên giống Đấng Thánh đã kêu gọi anh em,16 vì có lời Kinh Thánh chép: Hãy sống thánh thiện, vì Ta là Đấng Thánh.

22. Thư 2 Phê-Rô:

5 Chính vì thế, anh em hãy đem tất cả nhiệt tình, làm sao để khi đã có lòng tin thì có thêm đức độ, có đức độ lại thêm hiểu biết,6 có hiểu biết lại thêm tiết độ, có tiết độ lại thêm kiên nhẫn, có kiên nhẫn lại thêm đạo đức,7 có đạo đức lại thêm tình huynh đệ, có tình huynh đệ lại thêm bác ái.

23. Thư 1 Gio-An:

1 Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống. 2 Quả vậy, sự sống đã được tỏ bày, chúng tôi đã thấy và làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời: sự sống ấy vẫn hướng về Chúa Cha và nay đã được tỏ bày cho chúng tôi.

24. Thư 2 Gio-An:

1 Tôi là kỳ mục, kính gửi Bà đã được Thiên Chúa tuyển chọn, và con cái Bà là những người mà tôi thực sự quý mến; không phải chỉ một mình tôi, mà là tất cả những ai đã biết sự thật cũng đều quý mến,2 bởi vì sự thật ở lại trong chúng ta và sẽ ở với chúng ta mãi mãi.3 Thiên Chúa là Cha và Đức Giê-su Ki-tô là Con Chúa Cha sẽ cho chúng ta được hưởng ân sủng, lòng thương xót và bình an, trong sự thật và tình thương.

25. Thư 3 Gio-An:

Anh thân mến, anh hành động theo đức tin trong mọi việc anh làm cho các người anh em, dù họ là những người xa lạ.6 Họ đã làm chứng về đức bác ái của anh trước mặt Hội Thánh. Anh sẽ làm một việc nghĩa, nếu anh giúp đỡ cho chuyến đi của họ cách xứng đáng trước mặt Thiên Chúa.7 Quả thật, chính vì danh Chúa, họ đã ra đi mà không nhận gì của người ngoại.8 Vậy, chúng ta phải tiếp đón những con người như thế, để cộng tác vào việc truyền bá sự thật.

26. Thư Giu-Đa:

3 Anh em thân mến, tôi vẫn ước mong viết thư cho anh em về ơn cứu độ chung của chúng ta, thì nay lại bó buộc phải viết cho anh em, để khuyên nhủ anh em chiến đấu cho đức tin đã được truyền lại cho dân thánh chỉ một lần là đủ.4 Thật vậy, có những người đã len lỏi vào, những người từ lâu đã bị ghi trước vào danh sách những kẻ bị lên án, những kẻ vô luân này đã biến ân sủng của Thiên Chúa chúng ta thành lý do biện minh cho lối sống dâm ô, họ chối bỏ Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô, vị Chúa Tể duy nhất.

27. Sách Khải Huyền:

4 Tôi là Gio-an kính gửi bảy Hội Thánh A-xi-a. Xin Đấng hiện có, đã có và đang đến, xin bảy thần khí hiện diện trước ngai của Người,5 xin Đức Giê-su Ki-tô là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết chỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian, ban cho anh em ân sủng và bình an. Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta,6 làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa là Cha của Người: kính dâng Người vinh quang và uy quyền đến muôn thuở muôn đời. A-men!

4 replies »

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.