Hình hài con người sau khi tắt thở

ĐƯỜNG VỀ NHÀ CHA (Sách dọn mình chết lành) Tác giả: Thánh An-Phong-Xô Li-go-ri

Hình hài con người mới qua đời.

“Hỡi người hãy nhớ mình là bụi tro,
sau này sẽ trở về tro bụi.” (Sáng-thế 3:19)

Bài gẫm 1: ĐI VÀO QUÊN LÃNG.

Con hãy nhớ mình là bụi tro, sau này sẽ trở về tro bụi. Tới một ngày nào đó con sẽ chết và được chôn trong mồ để chịu sự hư nát. Mọi người bất kỳ sang, hèn, giàu, nghèo, vua chúa hay thường dân, đều chung một số phận như nhau. Khi linh hồn vừa lìa khỏi xác, xác con sẽ trở về đất và linh hồn con vào cõi sống đời đời.

I. Hình hài người qua đời.

Hãy nhìn xem thể xác người qua đời. Xác giá lạnh nằm cứng đờ trên giường, mắt sâu, má hỏm, môi và lưỡi nhợt nhạt. Sao ta không nhìn hình-hài người thân nhân hay bạn bè qua đời, để nhờ đó ta biết khinh chê những gì là giả trá trần gian và cải-thiện đời sống?

Khi thi-thể bắt đầu nát rửa trông càng thê thảm hơn. Các cửa sổ được mở ra, hương đốt lên và người ta vội đưa xác đi chôn, để người còn sống khỏi nhiễm độc. Giàu, nghèo, sang, hèn gì rồi cũng không qua khỏi cảnh hư nát thể xác.

Sự kiêu ngạo, lòng tham lam quá độ của con người đâu rồi? Dầu con người được quí mến, trọng-vọng ở trần gian, các thân nhân cũng buộc lòng phải tẩm liệm và đưa đi chôn cất. Dầu người đó xưa kia văn võ, lịch-sự, duyên-dáng đến đâu đi nữa, không bao lâu người ta sẽ quên đi.

II. Đi vào quên lãng.

This image has an empty alt attribute; its file name is 1568609060099blob.png

Được tin một người qua đời, kẻ thì bảo người đó là niềm hãnh-diện cho gia đình đáng thương tiếc, người khác lại không mấy hài lòng; người khác nữa lại mừng thầm vì họ được thừa-hưởng một số tài-sản của kẻ chết để lại. Xôn-xao bàn-tán lúc đầu, dần dà rồi cũng thưa dần, và một ngày nào đó không còn ai nhắc đến nữa, ngay cả những người thân-cận, bạn bè thân-thiết nhất. Dần dà các cuộc thăm viếng sẽ bàn-cải về những vấn đề khác, thỉnh thoảng có nhắc đến người quá-cố cũng là may mắn lắm rồi.

Nghĩ lại xem: con đã xử với bà con, bạn hữu con thế nào sau khi họ chết, người khác sẽ xử với con như thế. Người sống vui hưởng trên của-cải để lại, nhưng rồi quên dần người quá-cố ân-nhân. Cũng chính trong phòng người quá-cố thở hơi cuối cùng và chịu phán xét, người ta ăn uống vui chơi như thuở nào. Còn linh hồn con sẽ ra sao?

LỜI NGUYỆN THỐNG HỐI.

Lạy Chúa Giê-su, Đấng Cứu-chuộc con, con tạ ơn Chúa, vì Chúa đã không cất con ra khỏi thế gian, khi con còn phản-nghịch với Chúa. Bao năm qua con đã đáng sa hỏa ngục. Nếu con đã chết ngày giờ nào đó, số phận đời đời của con sẽ ra sao?

Lạy Chúa, con cảm đội ơn Chúa. Con vui lòng chấp nhận chết cho tội lỗi, để được sống lại vinh-hiển với Chúa. Con vui lòng chết nếu điều đó đẹp ý Chúa.

Chúa đã chờ đợi con đến nay, xin Chúa chờ đợi con thêm một ít nữa thôi. “Xin Chúa chịu đựng con thêm tí nữa, để con than khóc những lỗi-lầm của con. (Gióp…..)

Xin Chúa cho con đủ thời giờ để con than khóc các tội-lỗi con, trước khi Chúa đến phán xét con.

Con không còn cưỡng lại tiếng Chúa mời gọi con nữa. Ai biết được, những giòng chữ con vừa đọc, rất có thể là những tiếng sau cùng Chúa gọi con?

Con biết rằng con không đáng được Chúa thứ tha, vì Chúa đã tha thứ cho con nhiều lần, mà ai-oán thay con lại phản-nghịch với Chúa.

Lạy Chúa, Chúa không khinh chê những tâm hồn khiêm-nhường và thống-hối ăn-năn, xin Chúa tha thứ cho con, đứa con phản nghịch đang trở lại với Chúa.

Chúa đã phán: “Ai đến với Ta, Ta sẽ không xua đuổi” (Gioan 6: 23).

Thật sự con đã xúc phạm đến Chúa nhiều hơn những người khác, và con cũng đã được Chúa thứ tha. Máu Chúa đổ ra để cứu chuộc con, nên con vững tâm đến với Chúa để xin ơn tha thứ. Lạy Chúa, đấng Cứu-chuộc con, con đau đớn hết lòng vì đã xúc phạm đến Chúa.

Xin Chúa thứ tha cho con và ban muôn ơn lành để con yêu mến Chúa mãi mãi. Con đã xúc phạm đến Chúa quá lắm rồi. Cuộc đời còn lại, con nhất quyết không phạm đến Chúa nữa, và con phải tân tình yêu mến Chúa, vì Chúa đáng mến yêu vô cùng.

Lay Mẹ, nguồn hy-vọng của con, xin Mẹ cầu cùng Chúa Giê-su, con Mẹ, thương đến con.

(Phêrô Bùi-Đắc-Hữu, dịch)

Thiên Chúa Hỗ Trợ Giáo Hội

CHƯƠNG III: THIÊN CHÚA VÀ MẸ MARIA

HỔ TRỢ GIÁO HỘI ĐI ĐẾN CHIẾN THẮNG

1-NHỮNG LẦN CHÚA GIÊSU VÀ ĐỨC MẸ HIỆN RA:

saint-dominic-ds

ĐỨC MẸ HIỆN RA VỚI THÁNH ĐAMINH  TẠI KHU RỪNG GẦN TOULOUSE, NƯỚC PHÁP, NĂM 1214

    Chúng tôi chỉ lược trích lời thánh Louis De Monfort trong tác phẩm Huyền Nhiệm Kinh Mân Côi của ngài về lịch sử Kinh Mân Côi để chúng ta nhớ nguồn gốc và nhớ tại sao Chúa ban cho chúng ta Kinh Mân Côi.

 “Từ khi Kinh Mân Côi được thành hình, chính yếu và căn bản, gồm Lời Cầu Nguyện của Chúa Kitô và Lời Thiên Sứ chào Mẹ Maria khi báo tin Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, tức là Kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng Maria. Đây là lời cầu nguyện được các tín hữu mộ mến sử dụng từ thời các thánh tông đồ tới nay.  “Tuy nhiên mãi tới năm 1214, Giáo Hội mới nhận được Kinh Mân Côi trong hình thức và cách chúng ta dùng hiện nay. Kinh Mân Côi được ban cho Giáo Hội qua thánh Đaminh, ngài đã được Đức Trinh Nữ dạy làm phương tiện cải hóa những người theo phái Albigense và các người tội lỗi khác.

brouwn

ĐỨC MẸ HIỆN RA VỚI THÁNH SIMON STOCK NĂM 1251

Theo lịch sử dòng Carmel(ô), ngày 16 tháng 7 năm 1251, Đức Mẹ hiện ra với thánh Simon Stock, tại Aylesford thuộc vùng Kent, Anh Quốc, ban cho ngài Áo Đức Mẹ và dạy các tu sĩ nam nữ trong dòng mang Áo Đức Mẹ, tận hiến và cầu khẩn nhờ Mẹ để được Mẹ bảo đảm phần rỗi đời đời. Đức Mẹ nói với thánh Simon Stock: “Này con hãy nhìn Dấu Hiệu Phần Rỗi. Bất cứ người nào mặc áo này khi chết sẽ không phải chịu lửa đời đời.”

Áo Đức Mẹ núi Carmel(ô) gồm có hai mảnh vải nỉ mầu nâu, mầu áo dòng Carmel(ô), được nối với nhau bằng hai sợi dây để đeo qua hai vai, một mảnh trước ngực, một mảnh ở lưng. Thường thường, trên một mảnh có hình Đức Mẹ hiện ra với thánh Simon Stock, mảnh kia có ảnh Đức Mẹ bồng Chúa Hài Đồng Giêsu.

Áo Đức Mẹ ban cho thánh Simon Stock được Giáo Hội nhìn nhận và khuyến khích. Ngày nay các tín hữu Công Giáo vẫn nhiều người mang trong mình để tỏ lòng kính yêu, ký thác cuộc đời, nhất là phần rỗi đời đời cho Mẹ.

  • Chúa Giêsu và Mẹ hiện ra với thánh Brigit, năm 1310
  • Trong thời gian thánh Brigit ở Lamã, Chúa Giêsu và Mẹ Maria mạc khải cho thánh nữ về cuộc đời Chúa và Mẹ Maria, về thần học, về hỏa ngục và luyện ngục, về tu đức, và nhiều vấn đề quan trọng khác phúc lợi cho Giáo Hội và xã hội.

 

MẠC KHẢI CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA

Vì tình hình Giáo Hội và xã hội thời đó, nhiều lần thánh Brigit mạnh dạn chống lại những sa đọa trong giáo triều. Đặc biệt mỗi khi Chúa muốn cảnh cáo, sửa dạy hàng giáo phẩm hoặc chính quyền đời, Chúa hoặc Mẹ Maria thường đọc cho thánh Brigit ghi lại lời thánh nữ phải chuyển tới người liên hệ. Thánh nữ không ngần ngại phiền trách nhiều vị giám nục, nài nỉ các bề trên tu viện cải đổi tiêu chuẩn sống tại các tu viện, và thường xuyên trình bày ý kiến khuyến cáo lên chính Đức Giáo Hoàng. Thánh nữ ưu tư về giáo đô, lúc đó đã rời tới Avignon, cần phải được trở lại Lamã.   Thánh Brigit được Chúa và Mẹ Maria dạy lập dòng tu. Chính Đức Mẹ hiện ra đọc cho thánh nữ ghi Hiến Pháp dòng, và được Đức Urbanô V phê chuẩn năm 1370. Dòng này gồm nữ và nam tu sĩ, sống biệt lập trong đời sống nhiệm nhặt.

  1. Mẹ hiện ra tại Gadalupé, Mễ Tây Cơ, năm 1531 Trước khi sơ lược lịch sử Mẹ Maria hiện ra với Gioan Diego tại Guadalupé, Mễ tây Cơ, chúng ta lược qua bối cảnh xã hội tại đây trong thời gian 1519-1531.

quadalupe

Năm 1501, Columbus và đoàn thám hiểm phiêu lưu của ông đặt chân lên hải đảo Bahamas. Từ đó Bahamas và khu vực lân cận lần lần trở thành thuộc địa Tây Ban Nha. Năm 1511, Diego de Velázquez, vị Toàn Quyền đầu tiên của Tây Ban Nha ở Bahamas, khởi đầu kế hoạch bành trướng sang Mễ Tây Cơ. Việc này bắt đầu vào năm 1518 do Hernán Cortés, ông này được Toàn Quyền Diego de Valázquez chỉ định lãnh đạo cuộc bành trướng và đặt bản doanh tại Santo Domingo. Mễ Tây Cơ ngày đó dưới quyền hoàng đế Montezuma II, quốc vương địa phương Aztec. Thời đó, thổ dân có tục lệ tế người sống cho các thần của dân Aztec. Dân bản xứ tranh đấu đẫm máu chống lại người Tây Ban Nha kéo dài nhiều năm. Về phía tôn giáo, các nhà truyền giáo Tân Ban Nha cũng nhân cơ hội này đến truyền giáo tại đây, và việc truyền giáo tương đối khó khăn vì những hoàn cảnh này. Dẫu vậy, số người bản xứ tòng giáo ngày càng tăng thêm, nhưng tệ nạn xã hội về phía người Tây Ban Nha cũng như thổ dân cũng tăng thêm, về phía tôn giáo, các nhà lãnh đạo cũng gặp phải một số quyết định sai lầm.

Juan Diego, người được thị kiến, vốn tên là Cuautlatohuac (Con Phượng Hoàng hót), một thổ dân Aztec, đã đổi tên là Juan Diego khi tòng giáo. Juan Diego sinh sống tại làng Cuautilan, gần Mexico City. Juan Diego lúc đó 57 tuổi, ngày ngày ông thường đi bộ 15 dặm (24 cây số) tới dự Thánh Lễ tại Tlaltelolco, phía bắc Mexico City. Sáng ngày 9 tháng 12, 1531, một ngày đông lạnh, Juan Diego đang trên đường tới dự Thánh Lễ, khi ngang qua đồi Tepeyac, ông nghe tiếng như nhạc, như đàn chim hót, và tiếng gọi “Juanito, Juan Dieguito!” từ trên đồi vọng xuống. Juan Diego leo lên đồi, đi chừng 130 bước, ông thấy một Vị Phụ Nữ đẹp ở giữa những bụi xương rồng, và những bụi cây sa mạc khác. Vị Phụ Nữ nói với Juan Diego: “Nghe này Juan, con trai yêu dấu và bé nhỏ nhất của Mẹ. Con đang đi đâu thế?”

Juan đáp:  “Thưa Đức Bà của con, Nữ Vương của con, con đi thiệt xa mãi tới ngôi nhà nhỏ của Người ở Tlatelolco để tham dự Thánh Lễ.”  Vị Phụ Nữ nói cho Juan Diego biết về Người: “Này con trai yêu dấu của Mẹ, con hãy tin chắc rằng Mẹ là ĐẤNG TRỌN ĐỜI TRINH KHIẾT VẸN TOÀN, THÁNH MẪU THIÊN CHÚA ĐÍCH THỰC, THIÊN CHÚA LÀ ĐẤNG BAN SỰ SỐNG CHO MUÔN LOÀI, ĐẤNG TẠO HÓA CỦA MỌI NGƯỜI MỌI SỰ GẦN XA, ĐẤNG LÀ CHÚA TỂ TRỜI ĐẤT.

Mẹ rất muốn người ta xây một thánh thất nhỏ dâng kính Mẹ tại đây. Tại đây Mẹ sẽ cho thấy, Mẹ sẽ ban cho mọi người lòng thương xót, sự giúp đỡ và bảo vệ của Mẹ. Mẹ là Mẹ hay thương xót các con. Mẹ thương xót tất cả mọi người sống hiệp nhất trên mảnh đất này, và toàn thể nhân loại, và tất cả những ai yêu mến Mẹ. Tại đây Mẹ sẽ nghe tiếng họ khóc than, những đau buồn của họ, Mẹ sẽ chữa lành và làm nhẹ bớt cho họ mọi đau khổ, thiếu thốn và bất hạnh chồng chất. Con hãy đến trụ sở đức giám mục, nói với ngài rằng Mẹ phái con đến cho ngài biết Mẹ rất muốn ngài xây dâng Mẹ một ngôi nhà tại đây …” Lập tức Juan Diego đến trụ sở đức giám mục Zumárraga, tại Mexico City, nhưng Juan Diego đã phải chờ đợi suốt nhiều giờ mới được đưa vào gặp đức giám mục.

Người thông ngôn nói với đức giám mục:  “người này đem những tin tức về những việc sẽ xảy ra trong vòng bảy ngày sau, và sau cùng sẽ thấy hàng trăm ngàn người Aztec ào ạt trở lại đạo và chấm dứt việc đem người sống ra làm lễ vật tế thần.” Ngay sau đó Juan Diego được đưa ra cửa.Juan Diego trở lại đồi Tepeyac và thấy Đức Mẹ đang chờ ông tại đó. Juan Diego vội vàng nói với Đức Mẹ về việc bị từ chối thẳng thừng: “Thưa Đức Bà, con đã đi tới nơi Người bảo con đến để chuyển lời Người; mặc dầu con gặp khó khăn …

Đức giám mục tiếp con tử tế và chăm chú lắng nghe, nhưng theo cách ngài trả lời con, thì hình như ngài chẳng hiểu gì cả; ngài không tin là thực… Con xin Đức Mẹ chọn người khác có địa vị cao hơn, được kính nể, trọng vọng, chuyển lời Đức Mẹ để đức giám mục có thể tin…” Nhưng Đức Mẹ nói sứ mệnh đó chỉ được chu toàn qua Juan Diego. Ông bằng lòng cố gắng tiếp tục vào ngày hôm sau.

Ngày hôm sau, 10 tháng 12 năm 1531, Juan Diego giữ lời hứa với Đức Mẹ, ông trở lại trụ sở đức giám mục Zumarraga, nhưng lại thất bại. Juan Diego lại đến gặp đức giám mục Zumarraga lần thứ ba vào ngày 11 tháng 12 năm 1531. Lần này đức giám mục xin Đức Mẹ ban “bằng chứng từ trời” mà ngài để tùy ý Đức Mẹ.

Trở lại Tepeyac, Juan Diego nói với Đức Mẹ lời đức giám mục yêu cầu. Đức Mẹ bảo Juan Diego ngày hôm sau trở lại và Đức Mẹ sẽ ban dấu lạ đó. Nhưng ngày hôm sau, Juan Diego xuýt nữa đã không trở lại trụ sở đức giám mục như đã hứa, vì ngay tối ngày Juan Diego đến tòa giám mục lần thứ ba đã nói trên, ông chú/cậu của Juan Diego bị mắc bệnh dịch, đã nhiều người chết vì bệnh này.

Sớm ngày 12 tháng 12 năm 1531, ông Juan Bernadino, chú/cậu của Juan Diego, nghĩ mình sắp chết, ông nhờ Juan Diego đi Tlaltelolco mời một linh mục tới giải tội và xức dầu (bệnh nhân) cho ông. Juan Diego vội vàng ra đi lúc 4 giờ sáng. Trên đường, Juan Diego đi ngang đồi Tepeyac, nhưng Juan không muốn ghé lại vì sợ trễ nếu Đức Mẹ đang chờ ông, ông đi theo đường sườn đồi phía bên kia. Nhưng Juan sửng sốt thấy Đức Mẹ từ trên đồi đi xuống gặp ông trên đường. Đức Mẹ tươi cười hỏi Juan:

“Việc gì thế? Con đang đi đâu?”

Juan Diego lúng túng hỏi:  “Sao mà mới sáng sớm đã gặp Người? Con mong rằng Người khỏe mạnh.”

Nhưng ý nghĩ về trách nhiệm cấp tốc của mình, Juan Diego xin lỗi Đức Mẹ để đi tìm linh mục cho chú/cậu của ông, và nói thêm: “Sau khi con làm xong việc này, con sẽ trở lại đây để đi trao thông điệp của Người. Xin Đức Mẹ tha lỗi cho con. Xin chờ con một lát. Con không lừa dối Người đâu. Ngày mai con sẽ tới sớm.”

Đức Mẹ nói với Juan Diego: “Này con yêu dấu của Mẹ, con hãy nghe và để cho thấm vào tim con; đừng để thứ gì làm con nản lòng, đừng để thứ gì làm con buồn phiền. Con đừng để thứ gì làm thay đổi trái tim con, hoặc sắc diện của con. Mẹ là Mẹ của con không hiện diện tại đây sao? Con không ở dưới bóng và sự bảo trợ của Mẹ sao? Mẹ không phải là nguồn mạch sự sống các con sao? Các con không ở trong nếp áo choàng của Mẹ sao? Các con không ở trong vòng tay Mẹ sao? Các con còn cần thứ gì khác nữa? Các con đừng sợ bất cứ thứ bệnh tật gì hoặc điều phiền toái gì, đừng lo âu hoặc đau đớn. Đừng để cho bệnh của cậu/chú của con làm con đau đớn, ông ấy không chết vì bệnh tật lúc này đâu. Con hãy tin chắc là ông ấy sẽ lành bệnh. Bây giờ con cần leo lên đồi nơi con đã thấy Mẹ trước kia và ngắt đem xuống đây cho Mẹ tối đa những bông hồng mà con có thể lấy.”

Trở lại nơi Juan Diego đã thấy Đức Mẹ những lần trước kia, ông ngỡ ngàng thấy rất nhiều hoa bồng thuộc đủ mọi loại, mọc giữa các khe đá, giữa những bụi xương rồng, và những bụi cây có gai khác. Juan thấy những bông hồng đó lóng lánh sương mai và hương thơm ngát. Ông muốn ngắt hết, nhưng có quá nhiều.

Không có gì để đựng các bông hồng mới ngắt, Juan Diego cởi tấm áo choàng ra để bọc các bông hồng đó. Cần sơ lược về tấm áo choàng tilma của Juan Diego. Áo tilma là thứ áo choàng theo truyền thống thổ dân Aztec, áo dài phủ khắp mình, có lớp ngoài ngắn hơn phủ trên vai, và cột lại ở cổ. Áo này làm bằng thứ vải lấy từ sợi xương rồng, trung bình thì chỉ hai mươi năm là mục rách. Nhưng tới nay đã hơn 460 năm, tấm áo này vẫn còn như mới.

Juan Diego bọc những bông hồng trong áo choàng và trở lại nơi Đức Mẹ đang chờ. Đức Mẹ sắp lại những bông hồng trong áo choàng của Juan Diego. Rồi Đức Mẹ túm gọn lại và bảo Juan Diego đừng xáo trộn những bông hoa đó, và chỉ mở gói đó cho chính đức giám mục Zumárraga coi.

Đến tòa giám mục, Juan Diego lại phải chờ đợi, có một vài người muốn lấy một vài hoa hồng Juan Diego đang cầm, nhưng khi họ đưa tay ra thì hoa đó tan thấm vào vải áo tilma của Diego chẳng khác gì được thêu vào áo đó.

Có người nào đó cấp tốc nói cho đức giám mục biết Juan cần được tiếp tức thời. Đức giám mục Zúmarraga đang thảo luận với một số nhân vật quan trọng, có thể là với Don Sebastián Ramírez y Fuenleal, vị toàn quyền mới của Mễ Tây Cơ.

Juan Diego được dẫn vào gặp đức giám mục. Có thể Juan đã nói đôi lời hoặc ông chỉ việc trao bọc hoa hồng đó cho đức giám mục hoặc để cho tấm áo choàng tự động mở ra. Những bông hồng tuyệt đẹp màu sắc rực rỡ và hương thơm ngào ngạt rơi xuống đất.

Những hoa hồng trái mùa lạ lùng này không thể nào có cách tự nhiên vào thời tiết lạnh ngắt như thế được ở Mexicô vào thời đó. Vấn đề này được điều tra nhiều lần, nhưng vẫn không thể xác định Juan Diego lấy những bông hồng đó từ đâu.

Trong số các bông hồng đó, đức giám mục và tân toàn quyền ngạc nhiên nhất vì có loại hoa hồng Castilian, thời đó chưa được đưa vào Mexicô. Mọi người hiện diện còn ngạc nhiên hơn nữa vì từ tấm áo tilma lúc này một hình ảnh từ từ hiện lên rõ ràng trước mắt họ. Juan thoạt tiên không nhìn thấy hình ảnh này, vì mắt ông mải nhìn đức giám mục lúc này đến quì trước tấm áo choàng của ông. Khi Juan nhìn xuống, thấy trên áo tilma có hình ảnh y hệt Đức Mẹ hiện ra với ông trên đồi Tepeyac.

Lập tức tin này truyền khắp trụ sở đức giám mục và khắp phố phường. Đức giám mục Zumárraga khóc và đứng lêm ôm Juan Diego và rõ ràng là ngài xin lỗi vì trước kia đã không tin lời Juan Diego. Đức giám mục ân cần mời Juan Diego lưu lại như một thượng khách của tòa giám mục.

Đức giám mục Zumárraga cho rước ảnh Đức Mẹ và đặt trong nhà nguyện riêng trước khi đưa tới trưng bày trong nguyện đường nhỏ đầu tiên xây trên đồi Tepeyac. Hàng ngàn thổ dân Aztec kính viếng ảnh Đức Mẹ và tất cả những xáo trộn và tệ đoan sát tế người sống chấm dứt.

  1. Mẹ hiện ra tại Paris, Pháp, 18-7-năm 1830

Trong khi Cathérine còn bối rối, Đức Mẹ bắt đầu nói: “Con của Mẹ, Thiên Chúa nhân lành muốn trao cho con một sứ mệnh. Con sẽ phải đau khổ nhiều, nhưng con sẽ vượt trên những đau khổ đó bằng cách suy gẫm rằng những việc con làm là vì vinh danh Thiên Chúa. Con sẽ bị dày vò cho tới khi nào con nói hết với cha linh hướng con. Con sẽ bị chống đối; nhưng đừng sợ, con sẽ được ân sủng. Con hãy can đảm nói tất cả những gì xảy ra tại đây và trong (lòng) con. Con hãy nói cách đơn sơ. Đừng sợ.”

Đức Mẹ nói tiếp:  “Thời kỳ này hết sức tồi tệ. Những đau khổ sẽ trút xuống nước Pháp, ngai vàng sẽ (lại) bị lật đổ, cả thế giới sẽ sớm rơi vào thống khổ. Nhưng bây giờ hãy đến chân bàn thờ. Tại đó muôn ơn sủng sẽ tràn đầy cho mọi người, lớn nhỏ, những người tha thiết cầu xin các ơn đó. Những xáo trộn nặng nề đang đến. Nguy cơ nặng nề sẽ xảy đến cho đệ tử viện này và các cộng đoàn tu khác. Tới một lúc khi sự nguy khốn đó cao độ, mọi người sẽ tin là mất tất cả; con sẽ nhớ lại lần viếng thăm này của Mẹ và đệ tử viện này sẽ được Thiên Chúa bảo vệ. Nhưng việc đó không xảy ra cho các cộng đoàn tu khác.”

Tới đây Đức Mẹ khóc nước mắt chan hòa. Đức Mẹ nói tiếp:  “Trong hàng giáo phẩm ở Paris sẽ có nhiều người là nạn nhân trong đó có Đức Tổng Giám Mục, con của Mẹ; thánh giá sẽ bị coi thường, người ta sẽ liệng thánh giá xuống đất và chà đạp lên. Máu sẽ đổ. Các phố phường sẽ ngập máu. Đức Tổng Giám Mục sẽ bị lột trần (tới đây Đức Mẹ quá đau thương không nói được trong một lát). Mắt Mẹ sẽ luôn dõi nhìn các con. Mẹ sẽ ban cho các con ân sủng. Những ân sủng đặc biệt sẽ được ban cho mọi người xin, nhưng người ta phải cầu nguyện.” Tới đây Đức Mẹ biến đi.

duc-me-khoc

Những điều Đức Mẹ nói với chị Cathérine đã lần lượt xảy ra. Có những việc hầu như xảy ra ngay, hoặc trong thời gian rất ngắn sau đó, có những việc mãi 40 năm sau (1870) mới xảy ra.

Đức Mẹ nói trong đêm 18-19 tháng 7, 1830 rằng “ngai vàng sẽ lại bị lật đổ” xảy ra 8 ngày sau, khi Vua Charles X bị lật đổ vào ngày 26-28 tháng 7, 1830, trong “Ba Ngày Vinh Quang” được mệnh danh là Cuộc Cách Mạng tháng Bảy năm 1830.

Lời tiên báo “những xáo trộn lớn” xảy ra khi đường phố Paris bị cản, những cuộc náo loạn bùng nổ khắp Paris và nhiều nơi khác, nhiều người bị giết. Những quân cướp xông vào các thánh đường, Tượng Chịu Nạn bị gỡ ra, bẻ gẫy, bị chà đạp và tiểu tiện vào. Đức Tổng Giám Mục bị đánh đập, bị lột trần chỉ còn quần lót, và hai lần ngài phải chạy trốn để giữ mạng sống.

Đệ tử viện Nữ Tử Bác Ái trên đường BAC bị vây và phóng hỏa nhưng được bình an, trong khi các nhà dòng khác bị đốt cháy hoặc phá sập. Lời Mẹ Maria cảnh cáo về “những xáo trộn trầm trọng” còn xảy ra trong thời cách mạng 1848, trong thời gian này đức tổng giám mục Affré bị bắn chết. Năm 1870, thánh giá lại bị chà đạp, và đức giám mục Darboy, tổng giám mục Paris thời đó, bị ám sát ngay lúc khởi đầu Cuộc Chiến Pháp-Phổ.

Bốn tháng sau ngày 18 tháng 7, 1830, Đức Mẹ hiện ra nhưng khác với lần trước. Sau đây là lời chị Cathérine kể lại: “Ngày 27 tháng 11, 1830, Chúa Nhật trước Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng, lúc 5g30 chiều, tôi nghe âm thanh tựa như áo lụa xào xạc, từ diễn đàn gần ảnh thánh Giuse.

“Nhìn sang hướng đó, tôi thấy Đức Trinh Nữ đang lửng lơ ngang tầm bức ảnh thánh Giuse. Đức Trinh Nữ đứng lại. Người cao vừa phải, và mặc áo toàn trắng.

“Áo dài của Đức Mẹ trắng như sương mai, có cổ cao và cánh tay áo dài trơn. Khăn choàng mầu trắng phủ trên đầu Người xuống tới chân. Dưới khăn choàng là tóc Đức Mẹ, cuốn lọn, được cột lại bằng dây trang sức … Mặt Đức Mẹ lộ ra vừa đủ, dĩ nhiên rất đẹp, quá đẹp đến độ tôi không thể nào mô tả sắc đẹp tuyệt vời của Nguời.

“Hai chân Đức Mẹ đứng trên trái cầu mầu trắng, đúng ra phải nói nữa trái cầu, hoặc ít ra là tôi chỉ nhìn thấy một nửa. Cũng có con rắn mầu xanh đốm vàng.

“Một khuôn, hơi hơi bầu dục, bao quanh Đức Trinh Nữ. Trong khuôn đó có những chữ bằng vàng kim: ‘Lạy Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cho chúng con là những kẻ cầu khẩn với Người.‘ Dòng chữ này chạy nửa vòng khuôn bầu dục, bắt đầu từ ngang bàn tay phải, vòng trên đầu, và chấm dứt ở ngang bàn tay trái của Đức Trinh Nữ. Hai bàn tay Đức Mẹ lúc này đưa lên ngang trong tư thế tựa như đang hiến dâng lên Thiên Chúa trái cầu nhỏ bằng vàng, tiêu biểu cho thế giới, trên trái cầu có thánh giá bằng vàng. Cặp mắt Đức Trinh Nữ nhìn xuống. Khuôn mặt Đức Trinh Nữ xinh đẹp tuyệt vời tôi không thể diễn tả. …

“Tôi thấy mỗi ngón tay Đức Mẹ có ba chiếc nhẫn lớn nhỏ khác nhau. Nhẫn lớn nhất ở đốt sát lòng bàn tay. Nhẫn cỡ trung ở đốt giữa. Nhẫn nhỏ nhất ở ngoài cùng. Trên mỗi chiếc nhẫn có những hạt kim cương lóng lánh lớn nhỏ khác nhau. Một vài hạt đẹp hơn các hạt khác. Những hạt kim cương lớn chiếu ra tia sáng lớn. Những hạtnhỏ chiếu ra tia sáng nhỏ hơn. Những tia sáng đó chói lòa bao phủ bệ dưới chân Đức Mẹ và tôi không còn nhìn thấy hai bàn chân Đức Mẹ nữa.

“Trong khi tôi đang say sưa ngắm nhìn Đức Trinh Nữ, Người nhìn xuống tôi. Tôi nghe Người nói: ‘Trái cầu này tiêu biểu toàn thể thế giới, đặc biệt là Nước Pháp, và cách riêng từng người. Những tia sáng này tiêu biểu các ân sủng Mẹ ban cho những ai cầu xin các ơn đó. Những viên kim cương không chiếu tia sáng là những ân sủng mà các linh hồn quên không xin.'”

“Trái cầu bằng vàng biến đi trong bầu ánh sáng; hai bàn tay mở ra và hai cánh tay thả xuống vì sức nặng của các kho tàng ân sủng trong tay. Khi đó tiếng Đức Mẹ nói: ‘Con hãy nói người ta làm ảnh theo mẫu này. Tất cả những ai mang ảnh này sẽ được những ân sủng lớn lao; người ta nên đeo ảnh này ở cổ. Các ân sủng sẽ dồi dào cho những ai mang ảnh này với lòng tin vững vàng.'”

“Khuôn mẫu ảnh đó xoay phía sau tới, tôi nhìn thấy mặt sau của tấm ảnh: một mẫu tự M lớn và thánh giá đặt trên một đà ngang; phía dưới mẫu tự M có Thánh Tâm Chúa và Trái Tim Mẹ Maria, một trái tim có vòng gai bao quanh, một trái tim bị lưới giáo xuyên thấu.”

Chỉ ít lâu sau, các Nữ Tử Bác Ái đã trao ảnh đó cho các bệnh nhân mà các dì săn sóc. Nhiều nguời trở lại và được lành bệnh nhờ phép lạ, và từ đó ảnh này được gọi là “Ảnh Hay Làm Phép Lạ” và được phổ biến khắp thế giới Công Giáo.

Nữ đệ tử Cathérine Labouré tuyên khấn ngày 30 tháng Giêng, 1831, và được cử làm đầu bếp tại nhà tế bần Enghien tại thành phố Reuilly. Chị khiêm tốn ẩn mình suốt bốn mươi sáu năm, cố gắng tránh không nói về việc Đức Mẹ hiện ra. Mãi tới trước ngày chị lìa trần vào ngày 31 tháng 12, 1876, chị mới vì vâng lời mà xác nhận rằng chị đã thị kiến “Đức Trinh Nữ.”

Năm 1895, việc Đức Mẹ hiện ra với chị Cathérine Labouré được Giáo Hội nhìn nhận với tước hiệu “ĐỨC MẸ HAY LÀM PHÉP LẠ” và ấn định chi tiết phụng vụ Thánh Lễ và giờ kinh kèm theo.

  1. Mẹ hiện ra tại Paris, Pháp, năm 1836 Dưới đây là sơ lược lịch sử việc nguời ta được lôi cuốn đến với Trái Tim Mẹ Maria tại thánh đường danh tiếng dâng kính Đức Bà Thắng Trận tại Paris vào thập kỷ 1830 – 1940. Thánh đường này bị Cuộc Cách Mạng Pháp mạo phạm và sau đó biến thành cơ sở hối đoái. Về sau thánh đường được hồi phục và cha Des Genettes được chỉ định làm cha sở vào năm 1832. Khi cha Des Genettes cử hành thánh lễ Chúa Nhật đầu tiên với tư cách là cha sở tại thánh đường Đức Bà Thắng Trận, chỉ có bốn giáo dân tới dự lễ. Suốt nhiều năm cha cố gắng hết sức để đem các tín hữu trở lại, nhưng kết quả rất ít ỏi. Suốt cả năm 1835, chỉ có 720 người rước lễ: chia đều thì mỗi tuần chỉ có 14 người.

Năm 1836, một hôm khi cha Des Genettes đang dâng Thánh Lễ, cha quá băn khoăn không biết Chúa xét xử cha thế nào đến độ làm cha chia trí. Khi cha cầu nguyện xin khỏi sự chia trí này để có thể thánh hiến Phép Thánh Thể cho xứng đáng, cha nghe rõ ràng những lời, “Hãy dâng hiến giáo xứ của con cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria Rất Thánh.” Cùng lúc đó, cha được an bình và tiếp tục dâng Thánh Lễ cách sốt sắng.

Sau Thánh Lễ, đang lúc suy nghĩ về sự việc vừa qua, cha bắt đầu nghĩ rằng cha chỉ tưởng tượng ra điều đó thôi. Nhưng ngay khi sắp sửa rời khỏi thánh đường, cha lại nghe rõ ràng cũng những lời, “Con hãy dâng giáo xứ của con cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria Rất Thánh.” Lúc này cha biết chắc không phải là tưởng tượng. Hết sức lúng túng, cha vạch ra những kế hoạch để cộng đoàn tôn kính Mẹ Maria. Chúa Nhật kế tiếp, bằng giọng hùng hồn vang vang, cha loan báo các việc tôn kính được cử hành chiều hôm đó để cầu nguyện nhờ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria xin cho việc cải hóa người tội lỗi. 

Chỉ có mười giáo dân tham dự Thánh Lễ sáng Chúa Nhật đó. Cha Des Genettes sửng sốt khi thấy hai trong số mười người đó vốn ít khi lãnh nhận các bí tích đã đi vào phòng áo xin xưng tội. Chiều hôm đó, cha còn ngạc nhiên hơn nữa, khi có tới bốn hoặc năm trăm người tham dự buổi cầu nguyện đặc biệt. Cha vẫn tiếp tục xin Chúa ban cho dấu chỉ, và dấu chỉ đó là cha xin cho một người tên Joly trở lại.

Suốt đời ông già tám mươi tuổi này lúc nào cũng chống đối giáo hội. Bây giờ gần chết mà ông vẫn một mực từ chối mọi nỗ lực của cha sở để cho ông chịu các bí tích. Cha Des Genettes đến nhà ông nhiều lần. Người giữ nhà không muốn để cha vào trong nhà, nhưng sau cùng cha đã đi qua bà ta vào trong phòng ông lão Joly. Sau lời chào vắn tắt, ông già Joly xin cha chúc lành, điều này khiến cha Des Genettes sửng sốt và xúc động. Ông già Joly nói: “Thưa cha, con không nhìn thấy cha, nhưng con cảm thấy cha hiện diện. Từ khi cha tới, con cảm thấy bình an, yên lòng, và sung sướng trong tâm hồn mà trước kia chưa bao giờ con cảm thấy.”

Từ đó về sau, cha Des Genettes đã tận lực rao giảng việc sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Năm sau, 1837, đã có 8550 lần rước lễ, gấp quá mười lần năm trước. Năm sau nữa, 1838, số lần rước lễ lên quá 12 ngàn, trong khi đó gần 8 ngàn người ghi danh vào giáo xứ của cha.

  1. Mẹ hiện ra với nữ tu Justine Bisqueyburu, năm 1840:

Ngày 8 tháng 9 năm 1840, Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, Đức Mẹ hiện ra với nữ tu Justine Bisqueyburu, dòng Nữ Tử Bác Ái thánh Vincent de Paul.

Đức Mẹ ban cho nữ tu Justine Áo Đức Mẹ với những lời hứa cứu giúp cho những ai mang Áo Đức Mẹ. Áo Đức Mẹ ban cho nữ tu Justine mầu xanh lá cây: mặt trước có hình Đức Mẹ đứng trên đám mây, Trái Tim Đức Mẹ lộ trước ngực và tỏa ra những tia sáng; mặt sau có Trái Tim Mẹ, trên Trái Tim có ngọn lửa, giữa ngọn lửa có hình thánh giá, và Trái Tim Mẹ bị một lưỡi gươm xuyên thấu từ trên xuống theo 45 độ, và được bao quanh bởi những chữ “(Lạy) Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Xin Mẹ cầu cho chúng con bây giờ và trong giờ chúng con chết.”

  1. Mẹ hiện ra tại La Salette, Pháp, năm 1846

Chiều ngày 19 tháng 9, 1846, Mélanine và Maximin đang lùa đàn bò từ sườn đồi La Salette về xóm Ablandins gần đó. Khi dẫn đàn bò trở về, hai em trở lại một cái hang động nhỏ nơi hai em đã nghỉ ăn trưa, hai em thấy một vòng ánh sáng rộng lớn sáng hơn mặt trời, và vòng ánh sáng cứ lớn (mở rộng) dần và rực rỡ hơn. Khi hai em sắp chạy đi, vòng ánh sáng mở rộng ra và dần dần các em nhìn rõ Hình Dáng Một Phụ Nữ.” Vị Phụ Nữ đó ngồi, hai bàn tay bưng mặt, và đang khóc.

Đức Trinh Nữ nói: “Các con của Mẹ, vì các con không hiểu lời Mẹ nói, Mẹ sẽ nói với các con cách khác (kèm theo hình ảnh sự việc diễn ra). Nếu hoa mầu bị hư, việc đó có vẻ chưa ảnh hưởng tới các con. Mẹ cho các con thấy mùa khoai cuối năm này. Khoai sẽ tiếp tục bị hư và tới Lễ Giáng Sinh thì không còn củ nào.”

“Nếu các con có bắp, các con đừng gieo. Vì súc vật sẽ ăn hết những gì các con gieo. Tất cả những thứ gì mọc lên sẽ tan thành bụi khi các con thu hoạch. Một trận đói lớn sẽ xảy ra. Trước khi trận đói đến, các trẻ nhỏ dưới bảy tuổi sẽ bắt đầu run cầm cập và chết trong vòng tay những người bồng ẵm chúng. Những người khác sẽ đền tội qua sự đói khát. Đậu cũng sẽ hư, nho cũng sẽ mất mùa.”

“… Các linh mục, những thừa tác viên của Con Mẹ, vì cuộc sống ác độc của họ, do sự bất kính và khô khan của họ khi cử hành các nhiệm tích thánh, vì yêu tiền bạc, vì ham danh và lạc thú, các linh mục đã trở nên hố chứa phân dơ bẩn. Đúng vậy, các linh mục đang đòi báo thù, và sự báo thù đang treo lơ lửng trên đầu họ. …”

“… Thiên Chúa sẽ phạt như chưa từng thấy. Khốn thay những người trên địa cầu! … Các người lãnh đạo dân Chúa đã chểnh mảng cầu nguyện và đền tội, và ma quỉ làm mờ lương tri họ. … Thiên Chúa sẽ cho phép con rắn già tạo ra chia rẽ giữa những người cầm quyền nơi mọi xã hội và nơi mọi gia đình. Người ta sẽ phải chịu những thống khổ thể chất và tinh thần. Thiên Chúa sẽ bỏ mặc nhân loại cho chính nó và sẽ gởi hình phạt nối tiếp nhau đến. … Xã hội loài người sắp phải chịu những hình phạt kinh khủng nhất và những biến cố lớn lao nhất. Nhân loại sẽ phải … uống chén thịnh nộ của Thiên Chúa. …”

483px-eglise_de_corps_-_statue_n-d-_de_la_salette

” … Xin cho vị đại diện Con của Mẹ, Đức Giáo Hoàng Piô IX, không bao giời rời khỏi Lamã sau năm 1859 nữa; … Mẹ sẽ ở bên ngài. Xin cho ngài cảnh giác chống lại Napoleon: con người đó hai mặt, và khi ý muốn tự mình vừa làm giáo hoàng vừa làm hoàng đế, Thiên Chúa sẽ sớm rời khỏi y. …”

” … Thế giới sẽ bị đủ mọi loại thiên tai, thêm vào với những bệnh dịch và đói khát khắp nơi. Sẽ có một loạt những cuộc chiến cho tới cuộc chiến sau cùng … Trước khi cuộc chiến cuối cùng chấm dứt, thế giới sẽ có một thứ hòa bình giả tạo. Người ta chỉ nghĩ tới vui chơi. Những kẻ ác độc sẽ phạm đủ mọi thứ tội lỗi … Nhưng phúc hay các linh hồn khiêm tốn được Chúa Thánh Linh hướng dẫn. Mẹ sẽ giúp những linh hồn này chiến đấu cho tới khi kết thúc. …”

“… Nếu dân của Mẹ không tự nguyện tuân theo, Mẹ sẽ phải để cho cánh tay Con của Mẹ giáng xuống trên họ. Mẹ đã đau buồn quá lâu vì các con! Mẹ đã phải cầu nguyện không ngừng để Con của Mẹ không bỏ rơi các con. Các con không bao giờ hiểu Mẹ đau lòng biết chừng nào. …”

” …Thiên nhiên sẽ đòi báo thù nhân loại, và thiên nhiên rùng mình kinh sợ vì những gì xảy ra cho trái đất đã bị ô uế vì tội lỗi. Hỡi trái đất, hãy rùng mình kinh sợ, … và hãy run sợ, hỡi những người cho rằng mình phụng sự Chúa Giêsu Kitô mà trong thâm tâm họ, họ phụng sự chính họ. …”

“Bốn mùa sẽ bị thay đổi. Trái đất sẽ chỉ sinh ra những hoa mầu hư xấu. Các tinh tú sẽ mất đi sự vận hành bình thường. Mặt trăng sẽ chỉ tỏa ra ánh sáng đỏ úa.”

“Địa cầu sẽ bị bao phủ bởi nước và lửa, bị chấn động vì những trận động đất kinh hoàng nuốt đi những núi đồi, những thành thị … Những quái vật không gian … sẽ tạo ra những lạ lùng kinh hoàng trên mặt đất, nơi bầu khí quyển, và nhân loại sẽ ngày ngày càng hư hỏng đồi trụy.”

“Khốn thay những người sống trên mặt đất! Sẽ có những trận chiến đẫm máu và đói khát, bệnh dịch và truyền nhiễm … Người ta sẽ đập đầu vào tường, đòi chết, và sự chết sẽ là nguồn thống khổ của họ.”

“Sẽ có những trận bão tố làm rúng động các thành thị, những trận động đất làm sụp đổ nhiều quốc gia … mặt trời sẽ tối đi … vực thẳm mở rộng thêm …”

“Ai sẽ đứng vững nếu Thiên Chúa không rút ngắn thời gian thử thách?

… Và khi đó nước và lửa sẽ tẩy sạch địa cầu và tiêu hủy mọi công trình kiêu ngạo của loài người (sau đó) mọi thứ sẽ được đổi mới. Thiên Chúa sẽ được phụng thờ và tôn vinh.”

Tin Đức Mẹ hiện ra tại La Salette đã được mau chóng loan truyền khắp Nước Pháp, và trung tuần tháng 10, 1846, phần đầu của thông điệp đã được in để phổ biến.

Các lời Đức Mẹ loan báo trong phần đầu thông điệp đã xảy ra vào những ngày cuối tháng 12, 1846. Những xáo trộn chính trị, kinh tế, mất mùa đói khát, bệnh dịch, đã xảy ra ảnh hưởng hầu hết mọi người khắp Nước Pháp. Vào những ngày cuối năm 1846, khoai thối từ dưới đất, bắp bị hư, những thứ này chỉ có thể cho súc vật ăn, nhưng súc vật đã lăn ra chết vì ăn các thứ đó. Kế đến mùa đậu (óc chó) cũng mất. Nho là sản phẩm quan trọng của Pháp cũng mất mùa trầm trọng. Nạn đói hoành hành khắp nơi khiến hàng ngàn người chết; nhiều trường hợp chết hết cả gia đình.

Tất cả những biến cố này xảy ra đúng như Đức Mẹ đã cảnh cáo khiến người ta phải nhìn nhận lời Mẹ thông báo xảy ra chính xác đến độ kinh ngạc. Ngay từ đầu năm 1847, việc Đức Mẹ hiện ra tại La Salette bắt đầu được nhìn nhận, người ta đổ đến La Salette ngày càng đông, và giáo quyền khởi sự điều tra sự lạ lùng tại La Salette.

Một sự kiện yêu thương đặc biệt của Đức Mẹ là một dòng suối xuất hiện tại chính nơi Đức Mẹ hiện ra, và rất nhiều phép lạ được giáo quyền và hội đồng y khoa công nhận đã xảy ra nhờ nước suối này.

Lời tiên tri về Đức Piô IX và hoàng đế Napoleon III đã xảy ra đúng như lời tiên báo. Đức Piô IX đắc cử Giáo Hoàng vào đầu năm 1846. Vào thời gian này, không một ai tưởng tượng được là một hoàng đế Napoleon nữa xuất hiện trên đất Pháp.

Một người cháu của đại đế Napoleon lên kế vị lấy tên là Napoleon III. Người cháu này của đại đế Napoleon vốn ít được người ta biết tới. Những người quen biết ông trước kia đều cho rằng ông ta tầm thường, ngờ nghệch, và không ai có thể tưởng tượng ông ta sẽ leo lên được chức tước gì. Mặc dầu vậy, tháng 12, 1848, giữa lúc mất mùa đói kém, chính trị bất ổn, ông ta được bầu làm Tổng Thống

Nước Pháp, và tháng 11, 1850, ông trở thành hoàng đế Napoleon III độc tài đầy quyền lực. Năm 1848, Đức Pio IX phải rời khỏi giáo đô Lamã vì những xáo trộn chính trị và loạn lạc. Năm 1850, Đức Piô IX trở về Lamã nhờ sự can thiệp của Napoleon III. Cuối năm 1846 những tin tức về La Salette đã tới giáo đô Lamã, nhưng mãi tới năm 1851, Đức Piô IX mới nhận được phúc trình đầy đủ về những sự việc và thông điệp Đức Mẹ ban tại La Salette. Cũng thời gian này (cuối năm 1851), Napoleon III cho thấy ý định muốn tiếm vị (chiếm ngôi vị) giáo hoàng, y hệt người bác của ông là Napoleon I trước kia.

Những lời cảnh cáo nghiêm trọng nhất về các biến cố, về cuộc sống và số phận nhân loại được các nhà nghiên cứu bình luận ghi nhận là nói về cuộc chiến Pháp-Phổ, Thế Chiến I và II, sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Tất cả đều là những “roi đòn khủng khiếp nhất” gây ra tổn thất sinh mạng và thống khổ cho hàng tỉ người.

Những điều Đức Mẹ cảnh cáo không phải chỉ xảy ra cho Nước Pháp và trong thế kỷ 19, mà cho khắp thế giới tới ngày nay. Ngày ngày các điều Đức Mẹ nói xuất hiện càng rõ ràng, nhìn vào lịch sử thế giới từ hậu bán thế kỷ 19 tới nay, chúng ta thấy biết bao lần những biến cố kinh hoàng đã xảy ra, và ngày nay các điều này càng rõ ràng hơn. Cuộc chiến Pháp-Phổ, Thế Chiến I và II đã chấm dứt, các cuộc chiến cục bộ ngày càng bớt, nhưng nguy cơ của cuộc chiến khốc liệt hơn vẫn còn treo lơ lửng trên đầu nhân loại.

Mặc dầu y khoa và khoa học tiến vượt bực, nhưng từ 1960 tới nay, ô nhiễm không khí và nhiều bệnh nan y chết người lan tràn khắp thế giới, như Aids, Ebola, các tội ác gia tăng, luân lý suy đồi, thiên tai, hạn hán, lụt lội, động đất, cháyrừng, v.v. xảy ra tới mức độ khủng khiếp khắp nơi. Mà nhân loại cứ đổ thêm dầu vào lửa, người ta chỉ biết tôn thờ chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa khoái lạc, và cướp quyền Đấng Tạo Hóa, nhất là đại ác họa giết các hài nhi còn trong dạ mẹ. Chúng ta không thể tưởng tượng được những kinh hoàng gì sẽ xảy ra theo phần cuối thông điệp của Mẹ Maria tại La Salette. Chúng ta không thể biết khi nào những việc đó xảy ra, phải chăng đã và đang lần lần xảy ra.

Vấn đề là chúng ta phải nghe theo lời Đức Mẹ mà nhờ Mẹ dẫn dắt trở về với Thiên Chúa là Cha Nhân Từ nếu chúng ta muốn những đại họa tiên báo không xảy ra hoặc được giảm thiểu. Đức Mẹ hiện ra tại La Salette được Giáo Hội nhìn nhận với tước hiệu: “ĐỨC MẸ SẦU BI và SỰ ĂN NĂN SÁM HỐI”

Đọc thêm các chương khác

Cuộc Chiến Giữa Giáo Hội và Ma Quỷ

Hội Tam Điểm

Phá Hủy Đạo Công Giáo

Liên Hiệp Quốc là Chính Phủ Toàn Cầu

Những Dấu Hiệu Ma Quỷ

Mẹ Hiện Ra Tại Lộ Đức

Bí Mật Fatima

Mẹ Hiện Ra Lần Thứ 4

Quyền Năng Chuỗi Mân Côi

Những Dấu Hiệu Ma Quỷ

NHỮNG DẤU HIỆU

CÁC NHÓM CỦA MA QUỶ HAY DÙNG

TRÊN NỮ TRANG, AO QUẦN, XE, NHÀ , RA HIỆU CHÀO NHAU.

1.Inverted Pentagram  Used in witchcraft and occult rituals to conjure up evil spirits. Satanists use it 2 points up and pagans use it one point up. Any way it is used symbolizes evil. It matters not if two points are up or one. It matters not if it has a circle around it. It still is a symbol of Satan.

satn

Ngôi sao năm cánh ngược sử dụng trong các nghi lễ ma thuật và huyền bí để gợi lên linh hồn ma quỷ. Satan sử dụng nó 2 góc điểm quay lên và dân ngoại sử dụng nó một góc điểm hướng lên. Bất kỳ cách nào nó được sử dụng đều tượng trưng cho sự ác. Nó không quan trọng nếu hai điểm là lên hoặc một. Cũng không quan trọng nếu nó có một vòng tròn xung quanh nó. Nó vẫn là một biểu tượng của Sa-tan.

demon

 Hình sao năm cánh: Hình sao năm cánh nằm bên trong hình tròn hay nằm trong hai lớp hình tròn, có cái đầu con dê ở giữa hình sao, gọi là biểu tượng Baphomet

Ý nghĩa: Hai đỉnh sao bên trên là sừng quĩ. Ba đỉnh sao bên dưới là không chấp nhận Chúa Ba Ngôi. Con dê là Satan, đối thủ của Chúa Giêsu

baphomet

2)  Baphometduy nhất đểSatan. Một vị thần ma quỷ và là biểu tượng của Sa-tan. Có thể được xem như là đồ trang sức. Nó cũng đang được sử dụng bởi các thợ xây. Nó có thể được nhìn thấy trên các tòa nhà và các biểu tượng trên xe của họ để xác định cấp bậc mỗi hội viên. Một biểu tượng của Baphomet Aleister Crowley mặc biểu tượng này cũng là người sáng lập mức độ 33 Albert Pike của Tam Điểm

Baphomet  Unique to Satanism. A demonic deity and symbolic of Satan. Can be seen as jewelry. It is also now being used by the masons. It can be seen on their buildings and the emblems the put on their vehicles to identify each other. Another symbol of Baphomet Aleister Crowley wore this symbol as well as the 33rd degree founder Albert Pike of the Masons.

uithch

3) Ngôi sao năm cánh Ký hiệu được sử dụng trong Phù thủy. Đại diện cho các yếu tố, đất, gió, lửa và nước với tà thần xung quanh chúng.

Pentagram  Symbol used in Witchcraft. Represents the elements, earth, wind, fire and water with the spirit surrounding them.

not-star

4) Hexagram  It is one of the most  potent symbols used in the working of the powers of darkness. Used to work magic. Check this site for info on a six pointed star of any kind.

Sao 6 cạnh là một trong những biểu tượng mạnh nhất được sử dụng trong các hoạt động của các quyền lực bóng tối. Được sử dụng để làm việc kỳ diệu. Xem các loại ngôi sao 6 cạnh..

luciferDấu của Hội Tam Điểm

5.Udjat or all seeing eye.  one of few symbols referring to Lucifer (king of  hell), whom it is though will pass judgment. Below the eye is a tear  because he mourns for those outside his influence.

Udjat hoặc con mắt toàn kiến. một trong số ít các biểu tượng đề cập đến Lucifer (vua của Hỏa ngục), mặc dù sẽ qua phán xét. Dưới mắt là một giọt nước mắt vì thương tiếc cho những người bên ngoài ảnh hưởng của ông

All seeing Eye  Believed to be the eye of Lucifer and those who  claim control of it have control of world finances. Used in divination.  Hexes, curses, psychic control and all corruption are worked through this  emblem. This one is a symbol of the Illuminati. Look at U.S. currency. This one is the basis of the New World Order.

iluminati

Con mắt toàn kiến được tin là mắt của Lucifer và những người tuyên bố có thể kiểm soát tài chính thế giới. Được sử dụng trong bói toán. Hexes, nguyền rủa, kiểm soát tâm linh và tất cả tham nhũng đang làm việc thông qua biểu tượng này. Điều này là một biểu tượng của Nhóm Tinh Anh Illuminati (điều khiển thế giới). Nhìn vào đồng tiền Mỹ. Đây là một cơ sở của trật tự thế giới mới.

timewaner

5.Logo of Time Warner/ AOL!  Notice how it resembles the Udjat and is akin to the all seeing eye! Time Warner has a major monopoly on communications in the world. They control what you see and hear. They suppress the truth. Want to see a High Priestess who is wearing the symbol leading a ritual? Watch this film Mystery Babylon as they cast spells at Bohemian Grove in Calif.

Logo của Time Warner / AOL! Chú ý nó giống với Udjat và cũng giống như mắt toàn kiến thấy tất cả! Time Warner có độc quyền lớn trên truyền thông trên thế giới. Họ kiểm soát những gì bạn thấy và nghe. Họ ngăn chặn sự thật. Bạn muốn xem một nữ Thượng Tế mặc biểu tượng này điều hành nghi lễ? Xem bộ phim Bí ẩn Babylon, họ sử dụng phép thuật  tại Bohemian Grove ở California

tau-cross

7)Tau Cross   Symbol of the god Mathras of the Persians and the  Aryans of India. To them, Mathras was an “angel of light” or the “heavenly  light”. It is used in modern Masonry under the symbol of the T square.

Thánh Giá chữ T, Ký hiệu thần Mathras của người Ba Tư và người Aryan của Ấn Độ. Đối với họ, Mathras là “một thiên thần ánh sáng” hay “ánh sáng trên trời”. Nó được sử dụng trong Hội Tam Điểm  hiện đại theo biểu tượng của hình chữ T vuông.

hon

8) Italian Horn  Other names….Unicorn horn and Leprechaun staff. Introduced by the Lord Druids of Scotland and Ireland. It is associated  with good luck and good fortune. It is also used to ward off “Maluka” or the  “Evil Eye”. It also means satan will take care of your finances.

Sừng/ Còi  Ý,  tên khác …. sừng Kỳ lân và yêu tinh nhân viên. Giới thiệu bởi các thần Druids của Scotland và Ireland. Nó được kết hợp với sự may mắn và nhiều tài sản. Nó cũng được sử dụng để tránh “Maluka” hay “Mắt quỷ”. Nó cũng có nghĩa là Satan sẽ chăm sóc tài chính của bạn.

fernity

9) Ankh  Symbolizes fertility rites and the building up of lust within a  person. A spirit of Lust is the power of this union of male /female  representations. Also called the Long Life Seal.

Ankh tượng trưng nghi thức khả năng sinh sản và việc xây dựng ham muốn tính dục trong người. Một tinh thần của Lust là sức mạnh của liên minh này của cơ quan đại diện nam / nữ. Cũng được gọi là Dấu Ấn Trường Thọ.

Thánh giá Ai-cập: Ý nghĩa: Người ai cập cổ xưa dùng thánh giá này như là biểu tượng Thần Ra, thần sanh nở và nhục dục. Những người thờ Satan thì gọi thánh giá này là “thánh giá satan,” và tin rằng nó biểu hiện sự sống, thường dùng chúng trong khi làm tình ở những buổi nghi lễ Satan của chúng.

don

10)  Upside Down Cross  Symbolizes mockery and rejection of Jesus. Necklaces are worn by many satanist’s. It can be seen on Rock singers and their album covers.

Thánh Giá ngược: tượng trưng cho sự nhạo báng và từ chối của Chúa Giêsu. Dây chuyền được mặc bởi nhiều kẻ thờ quỷ Satan của. Nó có thể được nhìn thấy trên các ca sĩ Rock và bìa album của họ. Ý Nghĩa: Không chấp nhận Kitô giáo. Phủ nhận Chúa Giêsu, phủ nhận Chúa cứu độ chúng ta trên thánh giá

hocvien

11) Zodiac  Used in satanic and occult worship. Practitioners are  acknowledging their god as Baal or Lucifer. Horoscope signs are included

Zodiac sử dụng trong nghi lễ thờ Satan và huyền bí. Các học viên  nhận thần Ba-anh hoặc Lucifer  như chúa của họ. Dấu hiệu tử vi bao gồm dấu này.

satniah

12) Goat Head  The horned goat, goat of mendes, Baphomet, god of the  witches, the scapegoat. It’s a Satanists way of mocking Jesus as the  “Lamb” who died for our sins.

Đầu Dê : Dê có sừng, dê của mendes, Baphomet, thần của phù thủy, các vật tế thần. Dấu hiệu Satan chế giễu Chúa Giêsu là “Chiên Con” người đã chết vì tội lỗi của chúng ta.

yni

13) Cross of Nero – Or Peace sign. Another sign that mocks the cross of  Jesus. Also know as “The Dead Man Rune”. It appears on the tombstones of some of Hitler’s SS troops.

Thập Giá của Nero – Hoặc Dấu hiệu hòa bình. Một dấu hiệu  chế nhạo thập giá của Chúa Giêsu. Cũng biết là “The Dead Man Rune”. Nó xuất hiện trên các ngôi mộ của một số binh lính SS của Hitler.

Biểu tượng hòa bình: Thánh giá ngược với hai tay thánh giá bị gãy, xưa Nazi dùng biểu tượng này, sau đó, những người sex tự do và thế giời huyền bí dùng biểu tượng này khoảng 1960 như biểu tượng hòa bình để mỉa mai trong lúc trận chiến luân lí đang lên cao

Ý nghĩa: Đánh bại Chúa Giêsu, đánh bại Kitô hữu và đánh bị luân lý Kitô giáo

yinyang

14)  Yin-Yang  In Chinese philosophy, two great opposite principles or  forces on whose interplay everything depends. Yang is male, light and  positive, Yin is female , dark and negative.

Yin-yang : DẤU HIỆU ÂM DƯƠNG

Ý nghĩa: biểu tượng của tôn giáo phương đông cổ xưa bắt nguồn từ Trung Quốc và vẫn dùng để thờ thần, biểu tượng của hai lực tương tác với nhau (Yang là nam, ánh sang và tích cực; Yin là nữ, bong tối và tiêu cực / đàn ông và đàn bà, trời và đất, tối và sáng, tốt và xấu)  dùng trong thuật chiêm tinh và bói toán

betle

15)  Scarab Beetle  The dung beetle which is the Egyptian symbol of  reincarnation. It is also a symbol of of Beelzebub, Lord of the flies (satan). Worn by occultists to show that they have power and is a source of protection.

Bọ hung bọ cánh cứng:  Bọ cánh cứng ăn phân mà là biểu tượng của Ai Cập về luân hồi. Nó cũng là một biểu tượng của tướng quỷ Beelzebub, Chúa tể của những con ruồi (chỉ Satan). Những nhà huyền bí dùng để tỏ học có quyền lực và  có một nguồn gốc bảo vệ họ.

satanish

16)  Satanic “S”  Represents a lightning bolt that means “Destroyer”.  In mythology, It  was the weapon of Zeus. Worn to have power over others. Also was worn  by the feared SS of Nazi Germany.

Satan “S” Đại diện cho một tia chớp có nghĩa là “kẻ Hủy Diệt”. Trong thần thoại, Đó là vũ khí của thần Zeus. Đeo để có quyền lực hơn những người khác. Các Sĩ quan SS của Đức Quốc xã mang dấu hiệu này.

Ý nghĩa: Biểu tượng của xã hội Hitler, là một xã hội của thế giới huyền bí, ngày nay biểu tượng này trông giống như chữ “s”, là chữ tắt của “Satan”

satna

17)  Satanic Cross  Upside down question mark that questions the Deity of God. Within the occult it is the representation of the three crown princes;  Satan, Belial and leviathan. Symbolizes complete power under Lucifer.

Satan Lộn ngược dấu hỏi: đặt VẤN NẠN về thần linh của Thiên Chúa. Trong giới huyền bí nó đại diện cho ba vương miện hoàng tử: Sa-tan, Belial và Leviathan. Tượng trưng cho quyền lực hoàn toàn dưới quyền Lucifer.

Dấu hiệu bối rối: Ý nghĩa: Hỏi rằng ai thật sự chết trên Thánh Giá, gieo hạt giống nghi ngờ, có phải người đó là Chúa Giêsu mà Kito giáo dạy không (nguồn gốc từ Roma ở thế kỷ thứ nhất)

uhitwith

18) Star and Crescent   Represents the moon goddess Dianna and the “son of the morning”, the name of Lucifer in Isaiah 14:12.  Witchcraft uses it the way shown and Satanism turns it in the opposite direction.

Mặt trăng lưỡi liềm với hình sao: Mặt trăng biểu tượng của nữ thần Diana, (nữ thần quan trọng nhất của phù thủy), và “con trai của bình minh”, là tên của Lucifer trong Isaiah 14:12.
Phù thủy sử dụng biểu tượng trong hình trên và người thờ satan đổi biểu trưng ngược chiều lại. Ngôi sao tượng trưng cho Lucifer và các quĩ của nó, kết hợp lại là biểu tượng Satan đã tuyên bố, rằng Satan là thần thánh tối cao

rebelion

19) Anarchy  Means to abolish all laws. In other words “do what thou wilt”  the law of Satanists. Used by Punk rockers and Heavy Metal followers.

Tình trạng hỗn loạn, vô chính phủ: phương tiện để xóa bỏ tất cả các luật. Nói cách khác “làm những gì theo” pháp luật của Satan. Được sử dụng bởi rock Punk và môn đệ Heavy Metal.

Dấu chỉ chống đối, Ý nghĩa: phủ nhận thẩm quyền, tỏ ra sự ao ước được đổ ra tất cả để chống đối Kito giáo, chống đối giới thẩm quyền Kito giáo, chống đối thẩm quyền luân lý

hitle

20)Swastika: Là hình thánh giá, mà các tay của thánh giá bị gãy

Ý nghĩa: Đánh bại Chúa Giêsu, đánh bại Kito giáo. Bắt nguồn từ Mesopotamia như biểu tượng của sự may mắn, dùng trong tôn giáo phương đông, có liên quan đến đầu thai lại. Guido von List nhận biểu tượng vào Nazi khi ông ta dính đến thế giới huyền bí. Bây giờ Satan và phù thủy dùng biểu tượng này trong lúc đọc thần chú.

nmber

21) Dấu hiệu con thú: 3 số 6, hay 3 chữ F (chữ cái thứ 6)

Ý Nghĩa: Trong khải huyền, chương 13, con thú giả mạo Chúa Giêsu, nhưng lại nói những điều của ma quĩ, dẫn người ta đến thờ ngẫu tượng. Chúng nên để ý rằng số 6 là số nhỏ hơn số 7 một số. Số 7 theo như kinh thánh là con số hoàn hảo hoàn thiện, 666 là 3 ngôi chưa toàn hảo, hay là bậc cao trong không hoàn hảo. Aleister Crowley, người đã sáng lập Satan giáo hiện đại, nói rằng ông ta có dấu con thú.

guomm

22)Gươm:

 Ý nghĩa: Dùng trong nghi lễ Satan như một dụng cụ để giết và tra tấn, biểu tượng của sức mạnh hung tàn, uy quyền  trên những người yếu (Chú ý: Những người thờ Satan xem những người Kito hữu là những người yếu đuối)

sautay

23)    Thánh giá 6 tay: (Satan giáo)

Ý nghĩa:

Có trong thánh kinh satan, là Thánh Giá 6 tay (tay ở dưới tạo thành hình vòng cũng được xem là tay. Ám chỉ rằng Satan thống trị trên Chúa Giêsu và sẽ mãi mãi như thế

satnaatan

24)  Black Mass Indicator    Indicates a black mass has or will take place. It mocks the catholic mass which is full of pagan beliefs. Holy Items are defiled and the lords prayer is recited backwards.

Chỉ Thánh Lễ đen: Chỉ thánh lễ đen hoặc sẽ diễn ra. Nó chế nhạo Thánh Lễ công giáo chứa đầy các niềm tin ngoại giáo. Những đồ thánh bị xúc phạm và lời cầu nguyện với Chúa là lạc hậu.

tay-chao

25) Tay sừng quĩ: Đừng bị lầm với chữ “I love you” ngôn ngữ người câm (I Love you theo ngôn ngữ người câm thì phải có ngón cái đưa ra)

Ý nghĩa: Satan chào nhau với biểu tượng cái sừng

 

Đọc thêm các chương khác:

Phần 1: Cuộc Chiến Giữa Giáo Hội và Ma Quỷ

Phần 2:Hội Tam Điểm

Phần 3:Phá Hủy Đạo Công Giáo

Phần 4:Liên Hiệp Quốc là Chính Phủ Toàn Cầu

Thiên Chúa Hỗ Trợ Giáo Hội

Mẹ Hiện Ra Tại Lộ Đức

Bí Mật Fatima

Mẹ Hiện Ra Lần Thứ 4

Quyền Năng Chuỗi Mân Côi

Liên Hiệp Quốc là Chính Phủ Toàn Cầu

tamdiem56.. LIÊN HIỆP QUỐC THÀNH CHÍNH PHỦ TOÀN CẦU

ĐIỀU KHIỂN NHIỂU LIÊN HIỆP CÁC LỤC ĐỊA THẾ GIỚI:

NHƯ VẬY HỌ DỄ DÀNG TRIỆT HẠ TẬN GỐC MỌI ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁO HỘI TRÊN THẾ GIỚI.

The UNITED NATIONS is OWNED by the Zionist, Freemason, Illuminati JEWS New World Order OCCULT. The UNITED NATIONS is the Headquarters of the coming ONE WORLD GOVERNMENT.

What have these planned for the world?

1 North American Union. – LIÊN HIỆP BẮC MỸ

1 European Union. –LIÊN HIỆP CHÂU ÂU

1 African Union. –LIÊN HIỆP PHI CHÂU

1 Asian Union. –LIÊN HIỆP Á CHÂU

1 Center of Power. – 1 TRUNG TÂM QUYỀN LỰC

1 World Government. -1 CHÍNH PHỦ TOÀN CẦU

1 Headquarters the United Nations. – 1 ĐẦU NÃO ĐIỀU KHIỂN LIÊN HIỆP QUỐC

1 Bank. 1 NGÂN HÀNG

1 Ruthless Army. – 1 QUÂN ĐỘI TÀN NHẪN

1 Fascist Military Dictatorship. 1 CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI QUÂN SỰ

1 Totalitarian, oppressive, tyrannical Government. 1 CHÍNH PHỦ CHUYÊN CHẾ BẠO NGƯỢC

1 Real I.D. Card, – 1 THẺ CĂN CƯỚC THẬT SỰ

1 Employer Socialist United Nations. 1 CHỦ NHÂN LIÊN HIỆP XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CÁC QUỐC GIA

1 group of Property Owners. (The Zionist, Freemason, Illuminati JEWS will own all the property World Wide) 1 NHÓM CHỦ NHÂN CÁC TÀI SẢN

1 World Owner. – 1 CHỦ NHÂN THẾ GIỚI

1 Supplier of FOOD. 1 NGUÔN CUNG CẤP THỰC PHẨM

1 Micro CHIP implanted in your arm with all your history I.D. and banking. 

1 CHIP (5 MICROMILIMETRE) ĐIỆN TỬ CẤY VÀO TAY VỚI CĂN CƯỚC VÀ TIÊN NGÂN HÀNG

The USA Federal Reserve Bank, the International Bank for Reconstruction and Development (World Bank) and the International Monetary Fund are all OWNED by the Illuminati JEWS.

 biochip Bio-chip featured at government health showcase

Bio-chip chích vào dưới da để biết rõ vị trí người đó đang ở đâu và ghi tất cả lịch sử, căn cước , tiên ngân hàng của người đó.

I.D. chip

TỔNG THỐNG BUSH ĐÃ KÝ NGHỊ QUYẾT CHO BỘ Y TÊ VÀ SỨC KHỎE ĐƯỢ PHÉP SỬ DỤNG ID CHIP CHO CON NGƯỜI NGÀY 29-4, 2004.

Syringe-injectable device 1 of 20 top innovative health technologies chosen by HHS
World Net Daily- April 29, 2004 – Sherrie Gossett

A syringe-injectable microchip implant designed to carry medical records and personal identification information underneath the skin of humans is just one of 20 new technologies chosen by the government to be showcased today and Friday at the Healthier U.S. Summit in Baltimore, Md.

7I. DANH SÁCH  HỘI VIÊN TAM ĐIỂM CẤY VÀO GIÁO HỘI

Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói: Khói của Satan đã vào trong Giáo Hội. Pope Paul VI himself said: “The smoke of Satan has entered the Church.”  Danh sách một số Hội Viên Tam Điểm nằm vùng trong hàng Giáo sĩ.

The following is a list of Masons reprinted with some updates from the Bulletin de l’Occident Chrétien Nr.12, July, 1976, (Directeur Pierre Fautrad a Fye – 72490 Bourg Le Roi.) All of the men on this list, if they in fact be Masons, are excommunicated by Canon Law 2338. Each man’s name is followed by his position, if known; the date he was initiated into Masonry, his code #; and his code name, if known.

  1. Albondi, Alberto. Bishop of Livorno, (Leghorn). Initiated 8-5-58; I.D. # 7-2431.
  2. Abrech, Pio. In the Sacred Congregation Bishops. 11-27-67; # 63-143.
  3. Acquaviva, Sabino. Professor of Religion at the University of Padova, (Padua). 12-3-69; # 275-69.
  4. Alessandro, Father Gottardi. (Addressed as Doctor in Masonic meetings.) President of Fratelli Maristi. 6-14-59.
  5. Angelini Fiorenzo. Bishop of Messenel Greece. 10-14-57; # 14-005.
  6. Argentieri, Benedetto. Patriarch to the Holy See. 3-11-70; # 298-A.
  7. Bea, Augustin. Cardinal. Secretary of State (next to Pope) under Pope John XXIII and Pope Paul VI.
  1. Baggio, Sebastiano. Cardinal. Prefect of the Sacred Congregation of Bishops. (This is a crucial Congregation since it appoints new Bishops.) Secretary of State under Pope John Paul II from 1989 to 1992. 8-14-57; # 85-1640. Masonic code name “SEBA.” He controls consecration of Bishops.
  2. Balboni, Dante. Assistant to the Vatican Pontifical . Commission for Biblical Studies. 7-23-68; # 79-14 “BALDA.”
  3. Baldassarri Salvatore. Bishop of Ravenna, Italy. 2-19-58; # 4315-19. “BALSA.”
  4. Balducci, Ernesto. Religious sculpture artist. 5-16-66; # 1452-3.
  5. Basadonna, Ernesto. Prelate of Milan, 9-14-63; # 9-243. “BASE.”
  6. Batelli, Guilio. Lay member of many scientific academies. 8-24-59; # 29-A. “GIBA.”
  7. Bedeschi, Lorenzo. 2-19-59; # 24-041. “BELO.”
  8. Belloli, Luigi. Rector of Seminar; Lombardy, Ita- ly. 4-6-58; # 22-04. “BELLU.”
  9. Belluchi, Cleto. Coadjutor Bishop of Fermo, Italy. 6-4-68; # 12-217.
  10. Bettazzi, Luigi. Bishop of Ivera, Italy. 5-11-66; # 1347-45. “LUBE.”
  11. Bianchi, Ciovanni. 10-23-69; # 2215-11. “BIGI.”
  12. Biffi, Franco, Msgr. Rector of Church of St. John Lateran Pontifical University. He is head of this University and controls what is being taught. He heard confessions of Pope Paul VI. 8-15-59. “BIFRA.”
  13. Bicarella, Mario. Prelate of Vicenza, Italy. 9-23-64; # 21-014. “BIMA.”
  14. Bonicelli, Gaetano. Bishop of Albano, Italy. 5-12-59; # 63-1428, “BOGA.”
  15. Boretti, Giancarlo. 3-21-65; # 0-241. “BORGI.”
  16. Bovone, Alberto. Substitute Secretary of the Sacred Office. 3-30-67; # 254-3. “ALBO.”
  17. Brini, Mario. Archbishop. Secretary of Chinese, Oriental, and Pagans. Member of Pontifical Commission to Russia. Has control of rewriting Canon Law. 7-7-68; # 15670. “MABRI.”
  18. Bugnini, Annibale. Archbishop.Wrote Novus Ordo Mass. Envoy to Iran, 4-23-63; # 1365-75. “BUAN.”
  19. Buro, Michele. Bishop. Prelate of Pontifical Commission to Latin America, 3-21-69; # 140-2. “BUMI.”
  20. Cacciavillan, Agostino. Secretariat of State. 11-6-60; # 13-154.
  21. Cameli, Umberto. Director in Office of the Ecclesiastical Affairs of Italy in regard to education in Catholic doctrine. 11-17-60; # 9-1436.
  22. Caprile, Giovanni. Director of Catholic Civil Affairs. 9-5-57; # 21-014. “GICA.”
  23. Caputo, Giuseppe. 11-15-71; # 6125-63. “GICAP.”
  24. Casaroli, Agostino. Cardinal. Secretary of State (next to Pope) under Pope John Paul II since July 1, 1979 until retired in 1989. 9-28-57; # 41-076. “CASA.”
  25. Cerruti, Flaminio. Chief of the Office of the University of Congregation Studies. 4-2-60; # 76-2154. “CEFLA.”
  26. Ciarrocchi, Mario. Bishop. 8-23-62; # 123-A. “CIMA.”
  27. Chiavacci, Enrico. Professor of Moral Theology, University of Florence, Italy. 7-2-70; # 121-34. “CHIE.”
  28. Conte, Carmelo. 9-16-67; # 43-096. “CONCA.”
  29. Csele, Alessandro. 3-25-60; # 1354-09. “ALCSE.”
  30. Dadagio, Luigi. Papal Nuncio to Spain. Archbishop of Lero. 9-8-67. # 43-B. “LUDA.”
  31. D’Antonio, Enzio. Archbishop of Trivento. 6-21-69; # 214-53.
  32. De Bous, Donate. Bishop. 6-24-68; # 321-02. “DEBO.”
  33. Del Gallo Reoccagiovane, Luigi. Bishop.
  34. Del Monte, Aldo. Bishop of Novara, Italy. 8-25-69; # 32-012. “ADELMO.”
  35. Faltin, Danielle. 6-4-70; # 9-1207. “FADA.”
  36. Ferraioli, Giuseppe. Member of Sacred Congregation for Public Affairs. 11-24-69; # 004-125. “GIFE.”
  37. Franzoni, Giovanni. 3-2-65; # 2246-47. “FRAGI.”
  38. Gemmiti, Vito. Sacred Congregation of Bishops. 3-25-68; # 54-13. “VIGE.”
  39. Girardi, Giulio. 9-8-70; # 1471-52. “GIG.”
  40. Fiorenzo, Angelinin. Bishop. Title of Commendator of the Holy Spirit. Vicar General of Roman Hospitals. Controls hospital trust funds. Consecrated Bishop 7-19-56; joined Masons 10-14-57.
  41. Giustetti, Massimo. 4-12-70; # 13-065. “GIUMA.”
  42. Gottardi, Alessandro. Procurator and Postulator General of Fratelli Maristi. Archbishop of Trent. 6-13-59; # 2437-14. “ALGO.”
  43. Gozzini, Mario. 5-14-70; # 31-11. “MAGO.”
  44. Grazinai, Carlo. Rector of the Vatican Minor Seminary. 7-23-61; # 156-3. “GRACA.”
  1. Gregagnin, Antonio. Tribune of First Causes for Beatification. 10-19-67; # 8-45. “GREA.”
  2. Gualdrini, Franco. Rector of Capranica. 5-22-61; # 21-352. “GUFRA.”
  3. Ilari, Annibale. Abbot. 3-16-69; # 43-86. “ILA.”
  4. Laghi, Pio. Nunzio, Apostolic Delegate to Argentina, and then to U.S.A. until 1995. 8-24-69; # 0-538. “LAPI.”
  5. Lajolo, Giovanni. Member of Council of Public Affairs of the Church. 7-27-70; # 21-1397. “LAGI.”
  6. Lanzoni, Angelo. Chief of the Office of Secretary of State. 9-24-56; # 6-324. “LANA.”
  7. Levi, Virgillio (alias Levine), Monsignor. Assistant Director of Official Vatican Newspaper, L’Osservatore Romano. Manages Vatican Radio Station. 7-4-58; # 241-3. “VILE.”
  8. Lozza, Lino. Chancellor of Rome Academy of St. Thomas Aquinas of Catholic Religion. 7-23-69; # 12-768. “LOLI.”
  9. Lienart, Achille. Grand Master top Mason. Bishop of Lille, France. Recruits Masons. Was leader of progressive forces at Vatican II Council.
  10. Macchi, Pasquale. Pope Paul’s Prelate of Honour and Private Secretary until he was excommunicated for heresy by Pope Paul VI. Was reinstated by Secretary of State Jean Villot, and made a Cardinal. 4-23-58; # 5463-2. “MAPA.”
  11. Mancini, Italo. Director of Sua Santita. 3-18-68; # l551-142. “MANI.”
  12. Manfrini, Enrico. Lay Consultor of Pontifical Commission of Sacred Art. 2-21-68; # 968-c. “MANE.”
  13. Marchisano, Francesco. Prelate Honour of the Pope. Secretary Congregation for Seminaries and Universities of Studies. 2-4-61; 4536-3. “FRAMA.”
  14. Marcinkus, Paul. American bodyguard for imposter Pope. From Cicero, Illinois. Stands 6’4″. President for Institute for Training Religious. 8-21-67; # 43-649. Called “GORILLA.” Code name “MARPA.”
  15. Marsili, Saltvatore. Abbot of Order of St. Benedict of Finalpia near Modena, Italy. 7-2-63; # 1278-49. “SALMA.”
  16. Mazza, Antonio. Titular Bishop of Velia. Secretary General of Holy Year, 1975. 4-14-71. # 054-329. “MANU.”
  17. Mazzi, Venerio. Member of Council of Public Affairs of the Church. 10-13-66; # 052-s. “MAVE.”
  18. Mazzoni, Pier Luigi. Congregation of Bishops. 9-14-59; # 59-2. “PILUM.”
  19. Maverna, Luigi. Bishop of Chiavari, Genoa, Italy. Assistant General of Italian Catholic Azione. 6-3-68; # 441-c. “LUMA.”
  20. Mensa, Albino. Archbishop of Vercelli, Piedmont, Italy. 7-23-59; # 53-23. ” MENA.”
  21. Messina, Carlo. 3-21-70; # 21-045. “MECA.”
  22. Messina, Zanon (Adele). 9-25-68; # 045-329. ” AMEZ.”
  23. Monduzzi, Dino. Regent to the Prefect of the Pontifical House. 3-11 -67; # 190-2. “MONDI.”
  24. Mongillo, Daimazio. Professor of Dominican Moral Theology, Holy Angels Institute of Roma. 2-16-69; # 2145-22. “MONDA.”
  25. Morgante, Marcello. Bishop of Ascoli Piceno in East Italy. 7-22-55; # 78-3601. MORMA.”
  26. Natalini, Teuzo. Vice President of the Archives of Secretariat of the Vatican. 6-17-67; # 21-44d. “NATE.”
  27. Nigro, Carmelo. Rector of the Seminary, Pontifical of Major Studies. 12-21-70; # 23-154. “CARNI.”
  28. Noe, Virgillio. Head of the Sacred Congregation of Divine Worship. He and Bugnini paid 5 Protestant Ministers and one Jewish Rabbi to create the Novus Ordo Mass. 4-3-61; # 43652-21. “VINO.”
  29. Palestra, Vittorie. He is Legal Council of the Sacred Rota of the Vatican State. 5-6-43; # 1965. “PAVI.”
  30. Pappalardo, Salvatore. Cardinal. Archbishop of Palermo, Sicily. 4-15-68; # 234-07. “SALPA.”
  31. Pasqualetti, Gottardo. 6-15-60; # 4-231. “COPA.”
  32. Pasquinelli, Dante. Council of Nunzio of Madrid. 1-12-69; # 32-124. “PADA.”
  33. Pellegrino, Michele. Cardinal. Called “Protector of the Church”, Archbishop of Torino (Turin, where the Holy Shroud of Jesus is kept). 5-2-60; # 352-36. “PALMI.”
  34. Piana, Giannino. 9-2-70; # 314-52. “GIPI.”
  35. Pimpo, Mario. Vicar of Office of General Affairs. 3-15-70; # 793-43. “PIMA.”
  36. Pinto, Monsignor Pio Vito. Attaché of Secretary of State and Notare of Second Section of Supreme Tribunal and of Apostolic Signature. 4-2-70; # 3317-42. “PIPIVI.”
  37. Poletti, Ugo. Cardinal. Vicar of S.S. Diocese of Rome. Controls clergy of Rome since 3-6-73. Member of Sacred Congregation of Sacraments and of Divine Worship. He is President of Pontifical Works and Preservation of the Faith. Also President of the Liturgical Academy. 2-17-69; # 32-1425. “UPO.”
  38. Rizzi, Monsignor Mario. Sacred Congregation of Oriental Rites. Listed as “Prelate Bishop of Honour of the Holy Father, the Pope.” Works under top-Mason Mario Brini in manipulating Canon Law. 9-16-69; # 43-179. “MARI,” “MONMARI.”
  39. Romita, Florenzo. Was in Sacred Congregation of Clergy. 4-21-56; # 52-142. “FIRO.”
  40. Rogger, Igine. Officer in S.S. (Diocese of Rome). 4-16-68; # 319-13. “IGRO.”
  41. Rossano, Pietro. Sacred Congregation of Non-Christian Religions. 2-12-68; # 3421-a. “PIRO.”
  42. Rovela, Virgillio. 6-12-64; # 32-14. “ROVI.”
  43. Sabbatani, Aurelio. Archbishop of Giustiniana (Giusgno, Milar Province, Italy). First Secretary Supreme Apostolic Segnatura. 6-22-69; # 87-43. “ASA”
  1. Sacchetti, Guilio. Delegate of Governors – Marchese. 8-23-59; # 0991-b. “SAGI.”
  2. Salerno, Francesco. Bishop. Prefect Atti. Eccles. 5-4-62; # 0437-1. “SAFRA”
  3. Santangelo, Franceso. Substitute General of Defense Legal Counsel. 11-12-70; # 32-096. “FRASA.”
  4. Santini, Pietro. Vice Official of the Vicar. 8-23-64; # 326-11. “SAPI.”
  5. Savorelli, Fernando. 1-14-69; # 004-51. “SAFE.”
  6. Savorelli, Renzo. 6-12-65; # 34-692. “RESA.”
  7. Scanagatta, Gaetano. Sacred Congregation of the Clergy. Member of Commission of Pomei and Loreto, Italy. 9-23-71; # 42-023. “GASCA.”
  8. Schasching, Giovanni. 3-18-65; # 6374-23. “GISCHA,” “GESUITA.”
  9. Schierano, Mario. Titular Bishop of Acrida (Acri in Cosenza Province, Italy.) Chief Military Chaplain of the Italian Armed Forces. 7-3-59; #14-3641. “MASCHI.”
  10. Semproni, Domenico. Tribunal of the Vicarate of the Vatican. 4-16-60; # 00-12. “DOSE.”
  11. Sensi, Giuseppe Mario. Titular Archbishop of Sardi (Asia Minor near Smyrna). Papal Nunzio to Portugal. 11-2-67; # 18911-47. “GIMASE.”
  12. Sposito, Luigi. Pontifical Commission for the Archives of the Church in Italy. Head Administrator of the Apostolic Seat of the Vatican.
  13. Suenens, Leo. Cardinal. Title: Protector of the Church of St. Peter in Chains, outside Rome. Promotes Protestant Pentecostalism (Charismatics). Destroyed much Church dogma when he worked in 3 Sacred Congregations: 1) Propagation of the Faith; 2) Rites and Ceremonies in the Liturgy; 3) Seminaries. 6-15-67; # 21-64. “LESU.”
  14. Trabalzini, Dino. Bishop of Rieti (Reate, Peruga, Italy). Auxiliary Bishop of Southern Rome. 2-6-65; # 61-956. “TRADI.”
  15. Travia, Antonio. Titular Archbishop of Termini Imerese. Head of Catholic schools. 9-15-67; # 16-141. “ATRA.”
  16. Trocchi, Vittorio. Secretary for Catholic Laity in Consistory of the Vatican State Consultations. 7-12-62; # 3-896. “TROVI.”
  17. Tucci, Roberto. Director General of Vatican Radio. 6-21-57; # 42-58. “TURO.”
  18. Turoldo, David. 6-9-67; # 191-44. “DATU.”
  19. Vale, Georgio. Priest. Official of Rome Diocese. 2-21-71; # 21-328. “VAGI.”
  20. Vergari, Piero. Head Protocol Officer of the Vatican Office Segnatura. 12-14-70; # 3241-6. “PIVE.”
  21. Villot, Jean. Cardinal. Secretary of State during Pope Paul VI. He is Camerlengo (Treasurer). “JEANNI,” “ZURIGO.”
  22. Zanini, Lino. Titular Archbishop of Adrianopoli, which is Andrianopolis, Turkey. Apostolic Nuncio. Member of the Revered Fabric of St. Peter’s Basilica.

THE FOLLOWING CLERGY WERE EXPOSED AFTER THE ABOVE LIST WAS COMPILED:

  1. Fregi, Francesco Egisto. 2-14-63; # 1435-87.
  2. Tirelli, Sotiro. 5-16-63; # 1257-9. “TIRSO.”
  3. Cresti, Osvaldo. 5-22-63; # 1653-6. “CRESO.”
  4. Rotardi, Tito. 8-13-63; # 1865-34. “TROTA.”
  5. Orbasi, Igino. 9-17-73; # 1326-97. “ORBI.”
  6. Drusilla, Italia. 10-12-63; # 1653-2. “‘DRUSI “
  7. Ratosi, Tito. 11-22-63; # 1542-74 “TRATO.”
  8. Crosta, Sante. 11-17-63; # 1254-65. “CROSTAS. 

8-LÀM CHỦ TIỀN TỆ THẾ GIỚI

Ba hệ thống các nhà lý thuyết tại Viện Kỹ Thuật học Liên bang Thụy Sĩ tại Zurich đã có một danh sách dữ liệu của 37 triệu công ty và các nhà đầu tư trên toàn thế giới và phân tích tất cả 43.060 công ty xuyên quốc gia và quyền sở hữu cổ phần kết nối chúng. Họ xây dựng một mô hình của những người sở hữu những gì và những gì doanh thu của họ và lập bản đồ toàn bộ các tổ chức tập trung quyền lực kinh tế.

Họ phát hiện ra rằng quyền điều khiển các công ty toàn cầu có hình dạng bow-tie (cà vạt thắt) cách riêng biệt, với một quyền thống trị tập trung t 147 công ty tỏa ra từ giữa. Mỗi công ty trong số 147 công ty này đan chéo nhau và họ cùng nhau kiểm soát 40% tài sản trong hệ thống riêng. Tổng cộng có 737 kiểm soát 80% tài sản của tất cả các công ty. Tốp đỉnh 20 công ty này được trích dưới đây. Đây là tác giả của bài báo, bản đồ đầu tiên của cấu trúc kiểm soát công ty toàn cầu.

Xem top 50 trong danh sách kiểm soát tại New Scientist. Một trong các đồng tác giả, Tiến sĩ James Glattfelder, cho biết ông sẽ xuất bản danh sách lớn hơn 737 công ty kiểm soát 80% của nền kinh tế toàn cầu. 147 công ty này có trong nhóm dưới đây.

Three systems theorists at the Swiss Federal Institute of Technology in Zurich have taken a database listing 37 million companies and investors worldwide and analyzed all 43,060 transnational corporations and share ownerships linking them. They built a model of who owns what and what their revenues are and mapped the whole edifice of economic power.

They discovered that global corporate control has a distinct bow-tie shape, with a dominant core of 147 firms radiating out from the middle. Each of these 147 own interlocking stakes of one another and together they control 40% of the wealth in the network. A total of 737 control 80% of it all. The top 20 are at the bottom of the post. This is, say the paper’s authors, the first map of the structure of global corporate control. – 737 CÔNG TY ĐÃ LÀM CHỦ 80% TÀI SẢN TOÀN CẦU.

See the top 50 on the control list at the New Scientist. One of the co-authors, Dr. James Glattfelder, says he will be publishing the bigger list of 737 companies that control 80% of the global economy. The 147 are included in that group.

The Top Fifty Corporate Owners: 20 trong 50 chủ nhân chop đỉnh

  1. Barclays plc
    2. Capital Group Companies Inc
    3. FMR Corporation (Fidelity Management & Research Company)
    4. AXA (Group had Euro 1,104 billion in assets under management as of 2010)
    5. State Street Corporation
    6. JP Morgan Chase & Co
    7. Legal & General Group plc
    8. Vanguard Group Inc
    9. UBS AG 10. Merrill Lynch & Co Inc
    11. Wellington Management Co LLP
    12. Deutsche Bank AG
    13. Franklin Resources Inc
    14. Credit Suisse Group
  2. Walton Enterprises LLC (holding company for Wal-Mart heirs)
    16. Bank of New York Mellon Corp
    17. Natixis
    18. Goldman Sachs Group Inc
    19. T Rowe Price Group Inc
    20. Legg Mason Inc

Revealed – the capitalist network that runs the world – physics-math – 19 October 2011 – New Scientist. 

Visit Google’s Ads Preferences Manager to learn more or opt out.21st century- Thế kỷ 21

Vào cuối thế kỷ 20, sự giàu có tập trung trong nhóm G8 và các nước công nghiệp phương Tây, cùng với một số châu Á và các quốc gia DẦU HOẢ OPEC. Cục Quản lý Năng lượng An Thông tin báo cáo nói rằng các quốc gia thành viên OPEC dự kiến để kiếm được $ 1,251 nghìn tỷ trong năm 2008, từ xuất khẩu dầu của họ, vì giá dầu thô tăng kỷ lục. [9]

Một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tại Liên Hiệp Quốc báo cáo Đại học chỉ 1% người giàu nhất  sở hữu đến 40% tài sản toàn cầu trong năm 2000, và 10% người giàu nhất chiếm 85% tiền của toàn thế giới . Nửa dưới của dân số thế giới sở hữu 1% tài sản toàn cầu. [10] Hơn nữa, một nghiên cứu khác tìm thấy 2% người giàu nhất làm chủ hơn một nửa tài sản hộ gia đình toàn cầu. [11]

world_distributionofwealth_gdp_and_population_by_region

At the end of the 20th century, wealth was concentrated among the G8 and Western industrialized nations, along with several Asian and OPEC nations. An Energy Information Administration report stated that OPEC member nations were projected to earn $1.251 trillion in 2008, from their oil exports, due to the record crude prices.[9]

A study by the World Institute for Development Economics Research at United Nations University reports that the richest 1% of adults alone owned 40% of global assets in the year 2000, and that the richest 10% of adults accounted for 85% of the world total. The bottom half of the world adult population owned 1% of global wealth.[10] Moreover, another study found that the richest 2% own more than half of global household assets.[11]

Tại Hoa Kỳ vào cuối năm 2001, 10% dân số sở hữu 71% tài sản1% thuộc sở hữu 38%. Mặt khác, những 40% nghèo chỉ sở hữu  tài sản quốc gia ít hơn 1%.  Năm 2006, Theo nghiên cứu của Hệ thống Tiền Tệ Federal Reserve, 1989-2004, phân phối ở Hoa Kỳ đã được thay đổi với sự tập trung tiền của nhiều hơn cho chóp đỉnh 10% và 1% dân số [1] Một báo cáo PBS bởi Solman vào ngày 16 Tháng Tám năm 2011 tìm thấy rằng lợi nhuận tài chính trong thập kỷ qua tại Hoa Kỳ đã chao đảo tới tột đỉnh “tippy-top” của chuỗi kinh tế thực phẩm làm cho nhiều người rơi ra khỏi tầng lớp trung lưu. 20% người Mỹ trên đỉnh cao giàu có nắm giữ 84% tài sản của Hoa Kỳ. [2]  20% thứ hai nắm giữ 11%, 20 thứ ba chỉ giữ 4%. Hình dưới đây cho thấy việc phân phối thực tế của sự giàu có ở Mỹ. 20% thứ tư giữ (0.2%) và 20% dưới cùng thật nghèo (0,1%) hầu như không có gì.

In the United States at the end of 2001, 10% of the population owned 71% of the wealth and the top 1% owned 38%. On the other hand, the bottom 40% owned less than 1% of the nation’s wealth.[13]  According to this 2006 study by the Federal Reserve System, from 1989 to 2004, the distribution in the United States had been changing with indications there was a greater concentration of wealth held by the top 10% and top 1% of the population.[1] A PBS report by Solman on Aug. 16, 2011 now found that financial gains over the last decade in the United States have been mostly made at the “tippy-top” of the economic food chain as more people fall out of the middle class. The top 20 percent of Americans now holds 84 percent of U.S. wealth.[2],  the 2nd 20 % holds 11%, the third 20 % 4 %. The following figure shows the actual distribution of wealth in the US. The 4th 20% (0.2%) and the Bottom 20% (0.1%) are not visible:

pyamid

9.TIẾN TRÌNH LÀM CHỦ THỰC PHẨM TOÀN CẦU

Hội TAM ĐIỂM ĐIỀU KHIỂN NƯỚC MỸ QUA NHÓM FEDEREAL RESERVE USA LÀM CHỦ QUYỀN IN ẤN TIỀN MỸ VÀ LÀM CHỦ HẠT GIỐNG VỚI NHÓM MONSANTO– TẠO GIỐNG VÔ SINH VÀ DÙNG LIÊN HIỆP QUỐC: NHÓM LƯƠNG THỰC THẾ GIỚI ĐỂ LÀM CHỦ THỰC PHẨM THẾ GIỚI –

KIÊN NHẪN ĐỌC BÀI NÀY ĐỂ THẤY TIẾN TRÌNH CỦA HỌ TRONG THẾ KỶ 20 VA 21.

monatoland

PHẦN 1: Monsanto Và Hạt Giống

Ai làm chủ hạt giống sẽ làm chủ thực phẩm, ai làm chủ đuợc thực phẩm, sẽ làm chủ thế giới..” (Monsanto)
“ Nông nghiệp Biến Giống DNA sẽ chiếm đóng ngay trong Tòa Bạch Ốc, bất kỳ ai thắng cử Tổng Thống vào tháng 11..” ( Monsanto)
– Trong thập niên 60, nông dân Mỹ thường dùng chất DDT để diệt trừ sâu bọ phá họai mùa màng. Sau đó, người ta khám phá ra là chất này khi phun lên rau cải, sẽ gây ra bịnh ung thư cho người tiêu thụ nên đã bị cấm dùng.

– Năm 1970, một tập đoàn công ty hóa chất có tên là Monsanto đã phát minh ra hóa chất diệt cỏ dại tên là “Round Up”. Sản phẩm này có mục đích là giúp nông dân diệt hết cỏ hoang mọc trong nông trại của họ. Khi xịt chất này trên ruộng đồng, tất cả cỏ dại đều chết tiệt. “Round Up” chính chính là cha đẻ của chất da cam mà sau đó quân đội Hoa Kỳ đã đem thí nghiệm tại chiến trường VN vào thập niên 70.

– Monsanto đã chế ra chất diệt cỏ cực mạnh, giờ họ lại chế ra giống cây chịu đựng được chính chất diệt cỏ đó. Trong phòng thí nghiệm trồng loại cây này, bất cứ sâu bọ nào ăn nhằm lá, rể, củ, hoa,.. của những giống này đều bị chết sạch.

– Sau khi chế thuốc diệt cỏ xong, Monsanto đi một bước tới vô cùng nguy hiểm cho nhân loài đó là BIẾN ĐỔI GIEN của cây cỏ nông nghiệp ( sẽ trình bày trong phần 4). Đầu tiên, họ phun chất “Round Up” với nồng độ cực mạnh lên chỗ thí nghiệm rồi dùng lửa đốt cháy chỗ đó. Họ khám phá ra là có 1 lọai vi khuẩn không bị hề hấn gì. Họ dùng DNA của vi khuẩn này và ghép vào cây trồng trọt. Kết quả là họ cho ra đời một giống cây nông nghiệp có sức chịu đựng kinh khủng đối với lửa, tuyết, khí hậu khắc nghiệt và chất diệt cỏ của họ.

 

 

 

– Nhưng Monsanto đã không dừng lại ở đây đâu. Bước kế tiếp của họ là đem ra những hạt giống biến đổi Gien này đi đăng ký để giữ chủ quyền. Sau nhiều lần thất bại tại địa phương, họ đã thắng kiện tại Tòa Tối Cao của Hoa Kỳ vào năm 1997. Việc này có nghĩa là gì? Theo phán quyết của Tòa, Monsanto được làm chủ lọai cây giống nào do họ biến đổi DNA và nguy hiểm hơn, họ sẽ có chủ quyền luôn với tất cả bất cứ vật gì, cây gì, thứ gì có mang cái DNA đó: nếu nó di truyền tới đâu, họ sẽ có chủ quyền ở đó.
-Việc hợp thức hóa việc làm của Monsanto của lụật pháp là một việc kinh khủng vì từ nay về sau, họ sẽ làm chủ và toàn quyền kiểm soát sinh vật, thực vật và sự sống trên quả địa cầu qua sự ghép Gien và phối giống của họ.
– Chưa hết, Monsanto sau khi được mở đường, họ liền mua hầu hết tất cả các công ty hạt giống nguyên thủy và sau đó biến đổi hết DNA của chúng. Họ đã đem đi đăng ký chủ quyền và đã nắm trong tay hơn… 11,000 hạt giống trên thế giới.
– Còn KINH KHỦNG hơn nữa, Monsanto còn tạo ra một lọai hạt giống có Gien VÔ SINH. Hạt giống này sau khi cho ra hạt, chúng sẽ không thể trồng lại cho vụ mùa tới. Chúng là giống đã bị triệt sản: chỉ trồng được 1 lần thôi. Nếu phấn của chúng bay qua và phối hợp với giống khác, giống đó cũng sẽ mang Gien vô sinh.

Bạn nghĩ thế nào nếu con người, chim chóc, thú vật đã ăn phải lọai thực phẩm vô sản này? Xin giải thích thêm lọai này cho các bạn hiểu: khi hạt của cây bắt đầu thành hình (lúa, bắp, Canola….) những tế bào trong hạt đó tiết ra hóa chất giết cái MẦM của hạt giống đó khiến chúng không thể mọc thành cây khác sau khi chín mọng. Nếu những hóa chất đó đi vào cơ thể con người, thú vật, các bạn nghĩ sao?

Nếu các bạn muốn biết thêm, cứ vô YOUTUBE và đánh chử: Monsanto, hoặc GMO, Terminator Seed

Xem tiếp các chương khác:

Phần 1: Cuộc Chiến Giữa Giáo Hội và Ma Quỷ

Phần 2:Hội Tam Điểm

Phần 3:Phá Hủy Đạo Công Giáo

Phần 5:Những Dấu Hiệu Ma Quỷ

Thiên Chúa Hỗ Trợ Giáo Hội

Mẹ Hiện Ra Tại Lộ Đức

Bí Mật Fatima

Mẹ Hiện Ra Lần Thứ 4

Quyền Năng Chuỗi Mân Côi

Phá Hủy Đạo Công Giáo

donIII: PHÁ HUỶ ĐẠO CÔNG GIÁO ĐỨC KITÔ LẬP

  1. Phương sách phá hủy:

Trong nghi thức tuyên thệ gia nhập thành viên THTD, Hội viên thề:

Nhân Danh Ngài, tôi xin Ngài tiêu diệt Kitô, tiêu diệt Giáo-hội Công-giáo duy nhất chân thật và mọi Bí-tích hắn lập.

Tôi từ bỏ Thiên Chúa Ba Ngôi, từ bỏ cây Thập-giá của Giáo-hội Công-giáo Roma.

Tôi từ bỏ việc tin vào Thiên Chúa Duy-nhất.

Hơn nữa, lời thề của hội viên mới còn phải được thể hiện ngay qua hành động :Người được kết nạp phải giết một người đàn ông, được gói trong một hình nộm rỗng, đầu đội triều thiên ba tầng mà các Đức Gíao-hoàng vẫn đội; phải tuyên thệ chối bỏ các Tín-điều của đạo Công-giáo, chối bỏ các Bí-tích, chối bỏ Chúa Giêsu Kitô, không được chịu phép Thánh-tẩy Công-giáo, chấp nhận Dragon (Lucifer) qua Quái-thú ( Beelzebub, quỷ đứng vào hàng thứ hai sau Lucifer) Sau Công-đồng Vativcan II, có một số giáo sĩ là thành viên của THTD bị lật tẩy, họ đưa ra huấn thị 33 điểm nhằm phá Thánh Lễ Công-giáo :

Huấn thị 33 điểm công kích Công-giáo

Tất cả anh chị em trong tổ chức THTD phải lưu tâm tới những điều khoản rõ rệt trong huấn thị sau. Thêm một lần nữa vào tháng 10 năm 1993, huấn thị này phải được coi như là chương trình hành động tiệm tiến hướng về giai đoạn cuối cùng. Tất cả các thành viên đã xâm nhập được vào trong Giáo-hội đều phải nắm vững và thực thi huấn thị này

1- Dẹp bỏ ngay những lời cầu với Thánh Micae, Thần Hộ-thủ Giáo-hội Cộng-giáo, đọc trong Thánh Lễ. Dẹp bỏ ảnh tượng, nói rằng, ảnh tượng ngăn cản tôn thờ Đức Kitô.

2- Dẹp bỏ những thực hành sám hối Mùa Chay như: kiêng thịt ngày thứ sáu, kể cả việc chay tịnh. Bảo tín hữu đừng từ bỏ mình, nhưng phải cổ võ những hoạt động vui chơi, thích thú, đem lại tình yêu cho tha nhân thay thế vào đó. Hãy bảo họ Đức Kitô đã hứa Thiên-đàng cho chúng ta, bảo họ lưu tâm tới sức khoẻ, khuyến khích họ ăn thịt, nhất là thịt heo.

3- Giao trách nhiệm xem xét Thánh-lễ cho Mục-sư để tục hoá Thánh lễ. Gieo nghi ngờ về sự hiện diện thực của Giêsu Kitô trong Thánh-Thể, và khẳng định, – đồng ý với người Tin-lành- , chẳng qua đấy chỉ là bánh và rượu, là biểu trưng mà thôi. Phải đưa người Tin-lành vào trong các chủng-viện và trường học, khuyến khích hiệp thông như là con đường dẫn đến hiệp nhất. Lên án kẻ tin vào sự hiện diện có thực của Giêsu trong Thánh Thể là chống đối, là bất phục tùng Giáo-hội.

4- Ngăn cấm phụng vụ, ca ngợi và ca hát bằng la-tinh, vì những thứ đó làm người ta đồng cảm về mầu nhiệm và tôn thờ. Hãy trình bày những công việc như vậy chỉ là mê tín dị đoan và ma thuật. Cũng làm cho người ta đừng coi linh mục là những người thông thái, siêu quần bạt chúng, đừng để người ta tôn kính các linh mục như những người mang đến cho ta những mầu nhiệm Thiên Chúa.

5- Khuyến khích phụ nữ bỏ mạng che khi vào nhà thờ, vì mái tóc của họ thật gợi dục. Cử nữ giới đọc sách Thánh, khuyến khích họ đòi cho bằng được quyền thừa tác, cố trình bày sao cho việc này như một ý niệm bình đẳng. Xây dựng phong trào giải phóng phụ nữ. Ai vào nhà thờ chỉ cần ăn mặc thoải mái để họ có cảm tưởng như đang ở nhà. Đây là việc hệ trọng tục hoá thánh lễ.

6- Khuyến khích giáo dân khi hiệp lễ không quỳ gối. Bảo các nữ tu đừng dạy trẻ chắp tay trước và sau hiệp lễ, nhưng dạy cho chúng Thiên Chúa bao giờ cũng yêu chúng dù chúng có thái độ nào chăng nữa, vì Ngài chỉ mong cho chúng được thoải mái mà thôi. Trong nhà thờ, bỏ thói quen qùy gối, bái gối. Dẹp bỏ bàn quỳ, ghế quỳ, bảo họ đứng suốt thánh lễ tuyên xưng Đức tin.

7- Bỏ trình bày thánh nhạc bằng phong cầm; đưa cây đàn ghita, trống, vui đùa vào nhà thờ, vì như vậy người ta không cầu nguyện hay tâm tình với Giêsu được. Thực hiện những điệu nhảy, múa mang tính chất phụng vụ bằng y phục khiêu gợi quanh bàn thờ. Cho diễn kịch, hợp xướng, hợp tấu trong nhà thờ.

8- Bỏ những bản thánh ca dâng Mẹ Thiên Chúa và Thánh Giuse. Nói cho người ta biết tôn kính hai vị ấy chẳng qua là việc tôn thờ ngẫu tượng, lố bịch và buồn cười. Đem ca nhạc Tin-lành vào nhà thờ, vì sẽ tạo nên ấn tượng Giáo-hội Công-giáo, cuối cùng, cũng nhận đạo Tin-lành là đạo thật, hay ít ra, cũng ngang bằng với đạo Công-giáo.

9- Dẹp bỏ mọi thánh vịnh, và những bài ca về Giêsu vì làm cho con người ngay từ bé đã nghĩ đến hạnh phúc, thanh thản, những thứ bắt nguồn từ cuộc đời sám hối, hy sinh cho Chúa. Hãy du nhập những khúc ca mới, nhằm cho mọi người tin rằng lễ nghi phụng vụ trước có gì đó sai trái. Hãy cương quyết, trong mỗi thánh lễ, ít ra có một bài không nhắc đến tên Giêsu, mà trái lại, chỉ nói về tình yêu, tha thứ và hiệp nhất mà thôi. Không được nhắc tới Giêsu, tuyệt đối cấm không được loan truyền về Thánh Thể.

10- Dẹp bỏ tất cả mọi xương thánh trên bàn thờ, và từng bước, dẹp bỏ bàn thờ luôn. Thay bàn thờ bằng các thứ bàn thường của dân ngoại, không hiến thánh, những bàn này đồng thời cũng được sử dụng dâng hiến hy lễ loài người trong lễ dâng Satan. Bỏ điều giáo luật quy định chỉ được dâng lễ trên bàn thờ có xương Thánh.

11- Ngăn chặn dâng lễ trước Nhà Tạm có Thánh Thể. Không cho phép đặt Nhà Tạm trên bàn thờ dùng dâng lễ. Bàn phải giống bàn sử dụng trong nhà bếp, di chuyển được, để cho người ta biết rằng bàn không được hiến thánh, nhưng có thể dùng vào đôi ba việc, như hội họp hoặc chơi bài. Rồi, hãy cố đóng dính một cái ghế vào với bàn này. Linh mục phải giữ ghế ở chỗ đó để mọi người biết rằng, sau hiệp lễ, chiếc bàn bị bỏ không như sau bữa ăn vậy. Linh mục không bao giờ được bái gối trong suốt thánh lễ, cũng không được được quỳ gối. Khi ăn, người ta đâu có quỳ gối. Ghế của linh mục, phải đặt vào chỗ của Nhà Tạm. Khuyên người ta tôn trọng và tôn vinh linh mục ngang Thánh Thể, khuyên người ta vâng phục linh mục như vâng phục Thánh Thể (nhắc lại không được tôn vinh Giêsu hiện diện đích thực trong Thánh thể. Hãy bảo mọi người linh mục là Kitô của họ, là chủ của họ. Hãy đăỉt Nhà tạm vào một nơi khác, ngoài tầm nhìn.

12- Hãy làm cho các Thánh biến khỏi lịch phụng vụ, những Thánh có ngày kính rõ ràng. Cấm các linh mục giảng về các Thánh, ngoại trừ những Thánh có trong Tin-mừng. Bảo cho người ta biết rằng những người Tin-lành hiện diện tạm thời trong các nhà thờ công giáo là đáng trân trọng. Phải tránh tất cả những gì làm cho người Tin-lành bối rối.

13- Trong bài đọc Tin-mừng, bỏ tĩnh từ thánh, tỷ dụ trong câu Tin-mừng theo thánh Gioan, chỉ nói Tin-mừng theo Gioan. Đọc như vậy, người ta sẽ nghĩ Gioan là một người bình thường, không cần tôn kính. Thường xuyên viết lại Kinh-thánh, cho tới khi nào giống hệt Kinh-thánh Tin-lành mới thôi.

Bỏ tĩnh từ Thánh trong Chúa Thánh Linh, việc làm này sẽ mở ra một con đường mới. Hãy quảng diễn rõ ràng nữ tính của Thiên Chúa như một người mẹ đầy lòng nhân ái. Tránh dùng từ Chúa Cha.

14- Hãy làm biến đi những cuốn sách cổ vũ lòng sùng đạo cá nhân, và huỷ diệt đi. Cũng thế, ngưng đọc kinh cầu Trái Tim Chúa, kinh cầu Đức Bà, kinh cầu Thánh Giuse. Bảo cho người ta biết chẳng cần phải cám ơn sau hiệp lễ.

15- Cũng hãy làm biến mất tượng, ảnh các Thiên thần. Tại sao lại để tượng kẻ thù chúng ta ở chân chúng ta? Hãy nói Thiên Thần là thần thoại, là những mẩu chuyện lịch sử ru ngủ con em chúng ta. Đừng cho rao giảng về Thiên Thần vì điều ấy làm cho bạn chúng ta là người Tin-lành đau lòng.

16- Hãy bỏụ phép trừ quỷ. Bằng mọi cách, phải loại bỏ nghi thức trừ tà, báo cho mọi người chẳũng hề có ma quỷ. Giải thích đó là cách Thánh Kinh ám chỉ đến sự xấu, giải thích không có kẻ ác, không có lịch sử hay. Nhờ đó người ta không tin có Hoả-ngục, và chẳng hề sợ có thể rơi xuống đó. Hãy nói đi nói lại rằng Hoả-ngục chẳng qua chỉ có nghĩa là xa Thiên Chúa, chẳng có gì đáng sợ, vì trên mặt đất này người cũng sống xa Thiên Chúa mà.

17- Hãy dạy rằng Giêsu cũng chỉ là một người, có anh chị em, thù ghét kẻ có chức có quyền. Giải thích Giêsu yêu thương lũ điếm, đặc biệt là Mađalêna, ông chẳng hề có liên hệ nào với Giáo-hội hay hội đường Do-thái. Hãy nó ông dạy đừng vâng phục trưởng giáo; giải thích ông chỉ là một người thày cao quý, nhưng đã lạc con đường thiện khi từ chối vâng phục các trưởng giáo. Đừng khuyến khích giảng Thập-giá là một vinh thắng, trái lại, trình bày Thập-giá là một thất bại.

18- Các bạn phải nhớ rằng các bạn có thể hướng dẫn các nữ tu phản lại ơn gọi họ nếu các bạn làm cho họ ưa thích phù du, duyên dáng và sự xinh đẹp. Khích họ thay đổi áo dòng, từ đó sẽ dẫn tới bỏ chuỗi Mân-côi. Bật mí cho thế giới biết rằng, trong các tu viện luôn có những bất đồng xáo trộn, từ đó, ơn gọi sẽ khô cằn, hiếm hoi. Nói cho các nữ tu nếu họ không bỏ áo dòng thì chẳng ai chấp nhận được họ cả. Họ còn giữ áo dòng thì dân chúng chẳng tín nhiệm họ.

19- .Đốt tất cả các sách giáo lý. Nói cho các giảng viên giáo lý giảng cho mọi người yêu thương các tạo thành của Chúa hơn là yêu chính Chúa. Yêu tạo thành cách chân tình cởi mở là dấu chứng mình đã trưởng thành. Hãy làm cho từ phái tính trở thành ngôn từ hằng ngày sử dụng trong các lớp giáo lý. Đưa những hình ảnh phái tính vào trong các lớp giáo lý để dạy cho trẻ cái chân lý hiển nhiên ấy. Các bạn phải nhớ các bạn phải làm cho những hình ảnh phái tính thật rõ ràng. Hãy khuyến khích thầy cô giáo trở thành những nhà tư tưởng cấp tiến trong việc giáo dục phái tính. Hãy du nhập việc bành trướng học hỏi giới tính qua thẩm quyền giám mục thì cha mẹ chẳng còn gì phản đối.

20- Đừng để các trường công-giáo tuyên truyền ơn gọi làm nữ tu. Hãy nói cho các nữ tu biết rằng họ là những trợ lý xã hội được trả lương thấp và đang bị Giáo-hội loại bỏ. Hãy nhấn mạnh người dạy giáo lý Công-giáo bình thường cũng còn nhận được tiền lương như các trường khác. Hãy sử dụng thày cô không phải là Công-giáo. Các linh mục phải nhận tiền lương như mọi viên chức đồng đẳng trên thế giới. Mọi linh mục phải cởi bỏ áo dòng và Thánh giá để mọi người chấp nhận được. Ai không theo, hãy nói kẻ ấy là lố bịch, dỏm.

21- Hãy hạ bệ giáo-hoàng, dẹp bỏ các trường đại học thuộc y. Gây chia rẽ giữa các đại học của giáo-hoàng, nói rằng chỉ có chính quyền mới có thể trợ cấp cho họ mà thôi. Thay thế tên các học viện tôn giáo bằng tên thường để các trường ấy giống các học viện khác. Tỷ dụ, thay vì Trường Đức Mẹ Vô-nhiễm thì đổi Trường Cấp-tiến. Hãy lập văn phòng đại kết trong tất cả các giáo phận và để cho người Tin-lành kiểm soát. Ngăn cấm cầu cho ĐGH và những lời cầu với Trinh-nữ vì những lời cầu ấy phá vỡ đại kết. Hãy nói chỉ giáo quyền địa phương có thẩm quyền giải quyết mọi vấn đề mà thôi. Hãy nhấn mạnh giáo hoàng chỉ là một gương mặt đại diện mà thôi. Giải thích cho dân biết giáo huấn của giáo hoàng chỉ nhằm bồi dưỡng những học hỏi trao đổi, ngoài ý nghĩa ấy ra, chẳng có gì là quan trọng cả.

22- Hãy công kích thẩm quyền giáo hoàng, đặt một giới hạn tuổi phục vụ. Từng chút từng chút làm suy yếu thẩm quyền giáo hoàng, và giải thích các bạn muốn bảo vệ giáo hoàng bằng hành động tích cực đó.

23- Hãy can đảm giảm uy thế giáo hoàng bằng cách thành lập các hội đồng giám mục. Lúc đó, giáo hoàng chỉ còn là một gương mặt đại diện, như tại Anh, Thượng và Hạ viện điều khiển và ra lệnh cho Nữ-hoàng. Kế đó là làm suy yếu thẩm quyền giám mục để tạo nên một thế đối kháng trên bình diện hội đồng hỗn hợp gồm cả giáo dân và giáo sĩ. Bằng cách ấy, hãy nói rằng các linh mục xứng đáng nhận lãnh trách vụ ấy. Cuối cùng làm suy yếu thẩm quyền linh mục bằng cách thiết lập hội đồng giáo dân khống chế các linh mục. Như vậy sẽ nẩy sinh lòng đố kỵ cấp thời đến nỗi các hồng y phải bỏ giáo hội; lúc đó giáo hội sẽ trở nên bình đẳng. Đó là giáo hội mới

24- Hãy làm cho ơn gọi linh mục giảm đi bằng cách làm cho giáo dân không còn sợ sệt và tôn kính các linh mục nữa. Tai tiếng công khai của một linh mục sẽ gây tổn hại cho hằng ngàn ơn gọi. Hãy ca ngợi những linh mục dám từ bỏ chức tư tế của mình để yêu thương một phụ nữ. Hãy coi linh mục ấy như một anh hùng.. Hãy tôn kính các linh mục bị tha hoá vì tình trạng hồi tục như các vị tử đạo, hãy tôn kính các linh mục bị ức chế không còn có thể chịu đựng hơn nữa được. Khi thấy anh em THTD chúng ta trong hàng ngũ linh mục gây gương xấu ai cũng biết, thì phải kết án Hãy khoan dung độ lượng tình trạng đồng tính luyến ái trong hàng tư tế, và nói cho dân chúng biết rằng các linh mục phải chịu cảnh cô đơn tội nghiệp.

25- Bắt đầu đóng cửa nhà thờ vì lý do thiếu linh mục, nói rằng như vậy là tốt đẹp và tiết kiệm chi phí. Giải thích Chúa có thể nghe ta cầu nguyện ở khắp nơi, và như vậy người ta sẽ thấy nhà thờ là lãng phí; ưu tiên đóng cửa các nhà thờ vẫn thực thi việc đạo đức truyền thống.

26- Hãy lợi dụng các hội đồng giáo dân và hội đồng các linh mục yếu đức tin lên án và chối bỏ dễ dàng tất cả các lần hiện thân của Maria, và những phép lạ, đặc biệt sự hiện thân của Tổng-lãnh Thiên-thần Micae. Hãy xác quyết Công-đồng Vatican II chẳng hề công nhận những sự kiện như thế. Lên án là bất phục tùng giáo quyền nếu có ai đó vâng theo và suy niệm về những mạc khải. Hãy chỉ cho người ta thấy những kẻ thị kiến mầu nhiệm chỉ là những kẻ bất phục tùng giáo quyền mà thôi. Hãy làm tiêu tan uy tín người thụ khải thì lúc ấy chẳng còn ai nghĩ tới những sứ điệp của họ nữa.

27- Hãy tuyển chọn một phản-giáo-hoàng, khẳng định rằng ông ta sẽ đưa người Tin-lành, và có thể cả người Do-thái gia nhập giáo hội. Một phản giáo hoàng có thể được bầu nếu quyền đầu phiếu có các giám mục tham dự. Lúc đó, sẽ có vô số phản giáo hoàng được bầu chọn, nhưng chỉ có một trong số đó cử hành lễ đăng quang theo thoả ước. Xác quyết giáo hoàng thật đã chết.

28- Hãy bỏ việc xưng tội trước khi rước lễ đối với trẻ em học lớp một, nói rằng khi chúng lên các lớp cao, chúng sẽ coi thường việc xưng tội. Rồi có một lúc, việc xưng tội không còn tồn tại. Hãy âm thầm cổ võ việc xưng tội tập thể cùng với việc tha tội từng nhóm một. Giải thích cho người ta rằng sở dĩ phải làm như vậy vì thiếu linh mục.

29- Hãy trao nhiệm vụ thừa tác cho rước lễ cho phụ nữ và giáo dân bình thường. Bắt đầu cho rước lễ trên tay như người Tin-lành, thay vì trên lưỡi. Giải thích Chúa Kitô cũng đã làm như vậy. Lấy một ít Bánh thánh để cử hành lễ đen trong các đền của chúng ta. Thay vì hiệp lễ cá nhân, hãy chia cho mọi ngườI bình đựng bánh chưa làm phép đem về nhà. Giải thích rằng cách này sẽ giữ ơn Chúa trong mọi ngày suốt đời. Hãy đặt những người máy chứa bánh thánh phân phối tự động để rước lễ, và gọi đó là Nhà tạm. Hãy thay đổi cách thức ban bình an Khuyến khích mọi người đi tới đi lui trong nhà thờ nhằm làm gián đoạn tâm tình hiến dâng và cầu nguyện và giải thích Giêsu cũng đi tới đi lui đề chào mừng các môn đệ. Đừng làm dấu Thánh-giá, nhưng tốt hơn làm một cử chỉ ban bình an. Không cần phải cầm trí trong những lúc như vậy. Linh mục phải quay lưng lại Thánh-Thể để ban bình an.

30- Sau khi phản giáo hoàng được bầu chọn, hảy giải tán hội đồng giám mục, hội đồng linh mục và ban cố vấn giáo xứ. Cấm mọi tu sĩ bàn tán về những quy định mới này nếu không được phép. Giải thích Chúa yêu lòng khiêm hạ và ghét những ai khao khát danh vọng. Kết án những ai hay thắc mắc về tội bất phục tòng giáo quyền. Hãy khuyến khích người ta đừng vâng theo Chúa. Hãy bảo người ta vâng phục bề trên trong giáo hội.

31- Hãy chấp nhận quyền tối thương của phản giáo hoàng: hãy chọn những người kế vị thích nghi. Ra lệnh cho mọi người phải đeo huy hiệu Con Thú. Nếu bất tuân, rút phép thông công, nhưng đừng gọi biểu tượng đó là Con Thú. Không được làm dấu Thánh-giá, không làm cũng không đeo trên người ( không được làm phép cây Thánh-giá) Làm dấu Thánh-giá không hơn không kém chỉ là tôn thờ ngẫu tượng và là dấu chỉ tỏ ra bất phục tùng.

32- Hãy công bố mọi tín điều trước kia đều sai cả, chỉ trừ tín điểu bất khả ngộ của giáo hoàng. Hãy công bố Giêsu là nhà cách mạng thất bại. Còn Giêsu đích thực sẽ đến nay mai. Chỉ vâng phục phản giáo hoàng mà thôi. Bảo cho dân phải nghiêng mình khi nghe danh giáo hoàng.

33- Ra lệnh cho hết mọi viên chức của giáo hoàng đều thuộc đạo binh thánh chiến để tiến tới một giáo hội hiệp nhất toàn cầu. Satan biết tất cả số vàng mất ở đâu. Đừng xót thương khi chinh phục toàn thể nhân loại. Khi nhân loại đã được chinh phục, thời vàng son an bình nhân loại luôn mong chờ sẽ đến.

  1. Hệ quả đối với Giáo-hội Công-giáo

Như chúng ta biết, cuộc cách mạng Pháp 1789 được tổ chức Illuminati hoạch định kế hoạch và đã thành công. Trong cuộc chính biến này, có hằng chục ngàn linh mục bị bắt, giết, lưu đầy hay cưỡng bách hồi tục. Họ xung công tài sản Giáo-hội, giam cầm ĐGH Leo VI, thay giáo lý Công giáo bằng đạo lý trí và xác thịt. Họ rước minh tinh màn bạc Maillard vào nhà thờ chánh toà.

ĐGH Piô IX viết 4 Thông-điệp lên án THTD.

Năm 1880, THTD Pháp vận động chính phủ không cho dạy giáo-lý công-giáo trong các trường học.

Thông-điệp Humanus Jesus của ĐGH Lêô XIII ngày 20/4/1884 vạch rõ âm mưu THTD để cảnh giới các giám-mục thận trọng khi nhận chủng sinh vào các chủng viện.

ĐHY Marianô Rampolla là thành viên THTD đã phá kế hoạch của Đức Lêô XIII; nếu không nhờ ĐHY J de Cozyma kịp vạch trần âm mưu thì Rampolla đã vận động được bầu lên ngôi Giáo-hoàng thay thế Đức-Gíao-Hoàng Piô X.

Sau thất bại này, họ lại gây phong trào Chính-giáo phân ly năm 1905, lôi kéo các linh mục trẻ theo phong trào duy-tân của Mỹ, nhưng ĐGH Piô X ra thông-điệp Lamentabiliti lên án thuyết Duy-tân.

Hitler, thờ pháp thuật đen, cho quỷ nhập xác. Khi Satan nhập, Hitler tự xưng mình là người mơ, trở thành lãnh tụ siêu đẳng, một nhà hùng biện có sức thu hút và thuyết phục cử toạ, chứ không còn khờ khạo như lúc bình thường chưa có quỷ giúp, ông còn làm nghề thợ giầy, thợ vẽ. ĐGH Piô XI đã nhiều lần kết án ma thuât này ( họ đã hủ hoá được 10 giám-mục và 100 linh mục là thành viên chính thức của phong trào).

Tổ chức Illuminati, sau cuộc cách mạng Pháp 1789, ra nghị quyết:

  • Tuyên truyền, tiếp cận giáo sĩ, tu sĩ
    • Năng xưng tội để dò xét
    • Kích động các linh mục trẻ gây phong trào sống thoải mái.
    • Cấy người vào học trong các tu viện và chủng viện, hãy lấy long các bề trên, để khi thành linh mục, được bổ nhiệm những chức vụ quan trọng. Điều quan trọng là hội viên vào trong Giáo hội phải duy trì vỏ bọc cho khéo để những người trẻ bị lôi kéo theo cứ tưởng mình đang hoạt động vì Chúa.

3..Huấn thị của Illuminati năm 1819 ra lệnh:

Hãy vuốt ve các đam mê cao quý và thô bỉ của hàng giáo sĩ, Hủ hoá giáo sĩ trước, rồi giáo sĩ sẽ hủ hoá giáo dân. Hãy làm cho họ hít thở nết hư, tật xấu cho quen và bình thường như hít thở không khí. Chúng ta sẽ thành công. Đó là lưỡi gươm đâm vào GHCG.

Nên tìm cách dâng cúng tiền bạc, vật chất cho các giáo sĩ hưởng thụ phủ phê, họ sẽ dần dần xa Thiên Chúa.

Sau hơn 20 thế kỷ hoạt động chống Giáo-hội Đức Giêsu Kitô lập với những danh xưng khác nhau: Sức mạnh thần bí, Thợ hồ tự do, Người mang ánh sáng

Họ đã gặt hái được những thành công nhất định. Trong quá khứ những thế kỷ trước, nhiều phong trào ly giáo đã đựơc khởi xướng, nhiều khuynh hướng thần học nổi lên làm lung lay Đức Tin và làm cho nhiều triều đại Giáo hoàng, nhiều vị Giáo hoàng phải bao phen ngả nghiêng, lao đao.

Một phương thức rất thông thường họ hay sử dụng là tạo những bằng chứng giả, dựa trên một số sự kiện có thực, thêm bớt chi tiết vào để tục hoá những sự kiện và những nhân vật theo chiều hướng có lợi cho mục tiêu họ muốn thực hiện.

Cuốn tiểu-thuýêt The Da Vinci Code của Dan Brown là một tỷ dụ điển hình, trong đó tác giả dựa trên Tin-mừng, thêm bớt những chi tiết vào các nhân vật, các sự hiện , để bôi nhọ những con người, những Lời nói và những việc làm của Chúa Giêsu Kitô. Sách dựng thành phim.

Cuốn Giáo-hoàng hay Nguỵ Giáo-hoàng của Trương-tiến-Đạt xuất bản tại Mỹ, trích đọan một số mặc khải tư theo chiều hướng có lợi cho mục đích ông muốn đạt tới, để gây ngộ nhận và làm lung lạc niềm tin Công-giáo.

Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật, ông Martin và Phelps, về đề tài The most powerful man: The Black Pope cũng nhằm mục đích tương tự. Cuộc đối thoại dựa trên một số rất ít những sự kiện có thật của một số thành viên dòng Jesuits ( Dòng Tên) tha hoá, để thêm bớt, quảng diễn theo chiều hướng họ muốn đạt được, nhằm hạ bệ dòng Tên, một dòng nồng cốt của Giáo-hội Công-giáo.

Tại Giáo-triều Vatican, trong hàng ngũ giáo-sĩ, đủ mọi cấp bậc, đã có một số theo Tam-diểm và bị khống chế, gây nên những hậu quả trầm. Đức Hồng Y Albino Luciani lên ngôi Giáo-hoàng, lấy tên là Gioan-Phaolô I vào tháng 8 năm 1978. Sau khi lên ngôi Giáo-hoàng, làm việc trong Giáo-triều Vatican, Ngài đã khám phá âm mưu của tập đoàn Mafia Ý và Nhà P2 của THTD, với trên 100 nhân viên Giáo-triều là THTD, trong đó  có cả linh-mục, tu-sĩ, Giám mục, Hồng Y. Đức Gíam-mục Marcinkus, là thành viên THTD, bị ép dính dáng vào những vụ buôn bán ma-tuý, rửa tiền, tạo những chứng từ thua lỗ nặng để bán ngân hàng Vatican cho tập đòan P2 THTD và Mafia Ý, kéo theo sự sụp đổ của ngân-hàng Franklin ( vốn đầu tư 2 tỷ đôla Mỹ), và những ngân hàng Vatican vệ tinh ở Mỹ. ĐGH đã khám phá ra những điều đáng tiếc này, và Ngài tuyên bố sẽ chấn chỉnh ngay và lập một trật tự mới tại Giáo-triều Roma. Vì thế, P2 THTD ra lệnh dùng thuốc độc sát hại Ngài. Bản di chúc của Ngài cũng biến mất. Ngài ở cương vị Giáo-hoàng vẻn vẹn được 33 ngày.

Trong các Đại chủng viện khắp thế giới, những linh mục cấp tiến, những linh mục thành viên THTD đưa những lý thuyết sai lệnh của phong trào Giải-phóng thần-học Trung-mỹ vào chương trình giảng huấn, đặc biệt đưa một luồng tư tưởng mới có thể gọi là phong trào hạ bệ Đức Maria giảng dạy cho các chủng sinh. Đời sống của các vị giảng sư không còn là khuôn vàng thước ngọc để cho các môn sinh của mình noi theo làm hành trang trên bước đường rao giảng Tin-mừng tương lai.

  1. Huỷ vương quyền, lập trật tự thế giới mới

Như chúng ta biết, trong cuộc họp giữa 4 Nhà thuộc Grand Orient, đã đi đến quyết định: khai tử các vương quốc, thiết lập thế giới đại đồng với danh xưng Trật tự thế giới mới. Rồi hậu duệ là NHÓM Tinh Anh Illuminati, cũng vẫn theo đuổi cùng mục đích, nhưng với một quy mô rộng lớn hơn, và một phương thế tích cực hơn, dù có phải hy sinh, không phải dăm ba trăm mạng người, mà hy sinh cả mấy dân tộc, miễn sao đạt mục đích.

Cuộc cách mạng Pháp 1789 là tiếng pháo lệnh đầu tiên, kế đó là nhiều đế chế bị hạ. Cuộc thử nghiệm của phe trục Đức-Ý-Nhật, với một lãnh tụ do Satan trực tiếp điều khiển là Hitler, định đem nguyên nửa bán cầu thành một quốc gia duy nhất, thuộc quyền thống trị của Satan. Sự thất bại của phe trục có thể vì Hitler quá hấp tấp, nên đã gây thù với hầu hết các quốc gia khác trên thế giới và đã bị đánh quỵ Giấc mơ về một trật tự thế giới mới của những người Mang-ánh-sáng Illuminati đang được tích cực hình thành. Qua những gì đang xẩy ra trên hoàn vũ hiện nay, người ta thấy lờ mờ cái thế giới toàn cầu duy nhất ấy là một thế giới đảo điên, hận thù, sa đoạ, bị Lucifer khống chế.

Công cụ hữu hiệu và phổ biến họ sử dụng để khống chế các quốc gia, khống chế mọi người là: tiền, quyền lực và dâm ô. Khi đã sa vào say mê làm tiền, say mê quyền lực, say mê làm tình với hết mọi kiểu cách, và với hết mọi người đồng cảm, khác phái hay đồng phái, thì lương tri bị mờ, tinh thần bị mê hoặc, và đưa đến những hành động tàn ác, trái cương thường đạo lý.

  1. Khống chế nhân loại bằng tiền và đạo quỷ.

Như chúng ta biết, hiện nay có hai thế lực siêu quốc gia đang khống chế toàn thế giới:

  • Tổ chức người mang ánh sáng Illuminati (Rothschild, Rockefeller, Morgan, Carnegie ..)
    • Tổ chức Tài-phiệt quốc tế

Họ tấn công vào những điểm yếu của chúng ta:
Say mê quyền lực, danh vọng.
– Ham mê tiền bạc
– Ham thích ăn chơi, sa đoạ.

Những người hám danh, họ sẽ mang danh lại cho, thậm chí nhiều khi chỉ là danh hão, vậy mà có nhiều người tốn không ít tiền bạc, tốn không ít sức lực, thậm chí phải đấm đá nhau để đạt đựơc chút danh vọng.

Tiền bạc muôn đời vẫn là miếng mồi béo bở dụ được nhiều người sa bẫy. Người ta cần tiền để đáp ứng nhu cầu cấp thiết hằng ngày nuôi sống bản thân, gia đình, nhưng tiền bạc còn là thày phù thuỷ cao tay giúp thoả mãn mọi ước mơ. Nhu cầu thu tích tiền cho thật nhiều đã làm cho nhiều người thanh bại, danh liệt, thậm chí, làm nhiều việc thương luân, bại lý.

Phương tiện phổ quát nhất và hữu hiệu nhất đạo-quỷ dùng tha hoá con người thời ta đang sống là:

– Gieo độc chất khắp nơi (đồ ăn, không khí, thuốc uống).

– Phổ biến nhiều cách làm tình (phim ảnh, internet).

Các cơ quan môi trường và lương thực thế giới đã lên tiếng cảnh báo môi trường và thực phẩm chúng ta dùng hằng ngày bị nhiễm độc trầm trọng.

Những chất thải do các nhà máy công nghiệp thải vào không khí, những virus độc hại xâm nhập vào bầu khí quyển do các vụ phóng hoả tiễn vào không gian , những độc tố dưới dạng phân bón , thuốc diệt côn trùng, hoá chất dùng trong thực phẩm biến chế, hoá chát bơm vào gia súc gia cầm, hoá chất dùng trong mỹ phẩm, và ngay trong thuốc chữa bệnh, cũng đều là thuốc độc, giết người tiệm tiến. Làm sao ngừa hết được nếu hằng ngày chúng ta phải hít thở không khí, hằng ngày chúng ta phải ăn để sống, có bệnh chúng ta phải uống thuốc,…

Trên các tạp chí, trên sách hướng dẫn, và nhất là trên mạng, người ta quảng bá những cách làm tình theo nhiều hình thức khác nhau, miễn sao đạt khoái cảm tối đa, còn hậu quả trên cá nhân người ấy, trên cuộc sống chung thuỷ vợ chồng hay trên quan niệm luân lý tự nhiên, chứ chưa muốn nói tới trên quan niệm luân lý Kitô-giáo, đều không đáng quan tâm.

Nhiều quốc gia đã chính thức có luật cho phép kết hôn đồng tính, với đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ như những cặp vợ chồng khác phái. Khi công nhận luật kết hôn đồng phái, có nghĩa là mặc nhiên khuyên khích cách làm tình 69, một cách làm tình sinh nhiều hiệu quả tai hại. Làm tình đồng tính, tuy giai đoạn đầu, mang được hiệu quả thời gian kéo dài như ý muốn, hoặc số lần làm tình nhiều hay ít tuỳ mình, nhưng hậu quả kết cục rất bi thảm: các cơ quan sinh dục trở nên xơ cứng vô cảm, phụ nữ mang bệnh huyết trắng, nếu đã có gia đình, sẽ coi thường việc vợ chồng trao ân ái, chưa kể khó tránh mang bệnh thời đại AIDS.

Sống trong hưởng thụ tình dục phái tính bừa bãi sẽ làm con người ta hoàn toàn mất hết mọi khả năng làm được những việc chân chính, thậm chí mất hết uy tín cá nhân, mà còn ảnh hưởng không ít đến vai trò mình đang đảm trách.

Là con cái tuổi học trò, ham hát karaoke ôm, ham ngồi lâu giờ trên computer, thoả mãn nhục dục bằng những trò chơi tình ảo, sẽ dẫn đến tương lai khập khễnh, chán đời, coi mọi chuyện đều hư ảo.

Theo thống kê về những vụ hút thai, phá thai, nạo thai, rất nhiều người ở trong tuổi vị thành niên. Đã phá thai nhiều lần tuổi học trò, đã sống thử với nhau như vợ chồng, khi thực sự bứơc vào cuộc sống đôi bạn, sẽ chán nản, thấy hết hăm hở, chẳng còn lý tưởng cao đẹp, đưa nhau ra toà xin ly dị là hậu quả tất nhiên. Vì phá thai dưới nhiều hình thức, và với những lý do khác nhau, hằng ngày, trên khắp hoàn vũ, có cả triệu trẻ em chưa kịp cất tiếng khóc chào đời đã bị cha mẹ cướp đi sự sống.

Hậu quả là rất nhiều người mang tội giết người, đã mang tội giết người, nhất là giết chết máu mủ ruột thịt của mình, lương tâm sẽ bất ổn, chai lì, từ đó không tội ác nào không dám làm, không việc làm trái lương tri nào không dám thực hiện, miễn sao đạt mục đích vị kỷ mình mong muốn.

Là cha, là mẹ ham cặp bồ, ham đi ngang về tắt, ham vầy vọc trên website với những phim khiêu dâm, thấy tình yêu chẳng còn đẹp, thấy vợ chồng trao ân ái cho nhau để củng cố tình yêu hạnh phúc, thấy cuộc sống hôn nhân chẳng còn gì thi vị, đáng xây đắp, trân trọng.

lãnh đạo tinh thần, bị đạo quỷ dụ đưa vào mê hồn trận, còn đem đến những hậu quả trầm trọng hơn nhiều: Không còn xứng đáng thi hành nghĩa vụ thánh, do đó, không nhận được nguồn ân sủng của Chúa, lương tâm trở nên chai lì, xơ cứng, làm nhiều việc quỷ khiếp, thần kinh, người ngoài nhìn vào thấy thật trơ trẽn, đáng xấu hổ, nhưng mình lại sống thật thảnh thơi, vô tư. Cuộc sống mất quân bình, mất lý tướng, mất hướng đi, gây gương xấu khiến nhiều người bị ảnh hướng đi sai đường, mất Đức Tin, đặc biệt là giới trẻ, vốn đã rất lao đao vì đêm đen Đức Tin do cuộc sống xô bồ hiện nay ảnh hưởng.

Đúng như mong ước của HTD khi hoạch định kế hoạch phá Giáo-hội Công-giáo, họ đang đi đến thành công, vì đã xâm nhập được vào trung tâm Giáo-hội, có được các thành viên nòng cốt ở ngay trong hàng ngũ giáo-sĩ.

Là con của Chúa, là thành viên của Giáo-hội Công-giáo Roma, chúng ta nên làm gì để thoát ra khỏi mê hồn trận Người-mang-ánh-sáng và tập đoàn Tam-giác giăng bẫy?

Xem tiếp các chương khác:

Phần 1:Cuộc Chiến Giữa Giáo Hội và Ma Quỷ

Phần 2: Hội Tam Điểm

Phần 4:Liên Hiệp Quốc là Chính Phủ Toàn Cầu

Phần 5:Những Dấu Hiệu Ma Quỷ

Thiên Chúa Hỗ Trợ Giáo Hội

Mẹ Hiện Ra Tại Lộ Đức

Bí Mật Fatima

Mẹ Hiện Ra Lần Thứ 4

Quyền Năng Chuỗi Mân Côi