Tại sao gọi là bảy mối tội đầu?

Các sách luân lý nói đến 7 mối tội đầu. Tại sao gọi là 7 tội đầu? Phải chăng đó là 7 tội mà ta phạm lần đầu tiên? 

Bảy tội đầu không phải là 7 tội đầu tiên mà ta phạm tội, hoặc ông bà nguyên tổ đã phạm, nhưng là bảy tội đầu sỏ, đầu mối của các tội khác. Trong tiếng La-tinh, chúng được gọi là peccata capitalia, gốc từ “caput” nghĩa là cái đầu. Nên biết thủ đô của một quốc gia là “capitale”, nghĩa là thành phố đứng đầu trong một quốc gia.

Mỗi quốc gia chỉ có một thủ đô, một đầu. Tại sao các tội có đến 7 đầu sỏ?

Trong văn chương Kitô giáo, chịu ảnh hưởng của văn hóa Do thái, số 7 là biểu tượng của sự viên mãn, đầy đủ. Một tuần có 7 ngày; rồi đến 7 bí tích, 7 ơn Chúa Thánh Thần, 7 nhân đức (ba nhân đức đối thần cộng thêm 4 nhân đức trụ). Từ đó, không lạ gì mà cũng có 7 mối tội đầu. Theo sách Giáo lý Hội thánh Công giáo số 1866, chúng được đặt tên là tội “đầu sỏ” bởi vì chúng là đầu mối sinh ra những tội khác. Chúng cũng được gọi là 7 “nết xấu” (vitia) nữa.

Tại sao chỉ có 7 nết xấu?

Việc liệt kê các nết xấu bắt nguồn từ văn chương đan tu cổ thời bên Đông phương, được trình bày mạch lạc nơi tác phẩm Praktikós của đan sĩ Evagrio Ponticô (+399). Ông nói đến 8 tư tưởng xấu xa (logismoi) thúc đẩy ta phạm tội, được liệt kê theo thứ tự sau đây, đi từ nhẹ đến nặng: 1) mê ăn (gastrimargia); 2) dâm dục (porneia); 3) tham lam (philargyria); 4) buồn rầu (lypé); 5) nóng giận (orgé); 6) chán nản (akedía); 7) hư danh (kenodoxía); 8) kiêu căng (hyper-epiphaneia). Nên biết là theo ông Evagriô, ba cơn cám dỗ của đức Giêsu là: mê ăn, tham lam, hám danh. Danh sách các tư tưởng xấu (hay 8 cơn cám dỗ) của đời đan tu Đông phương được truyền bá sang Tây phương nhờ ông Gioan Cassianus, vào đầu thế kỷ V. Dù sao, người đã gây ảnh hưởng lớn cho thần học Tây phương là Giáo hoàng Grêgôriô Cả (trong tác phẩm Moralia): số các nết xấu được rút xuống còn 7, được xếp đặt lại thứ tự dựa theo thứ tự đạo lý (nghĩa là từ nặng đến nhẹ). Vì thế danh xưng cũng được sửa đổi khi cần thiết. 1/ Đứng đầu là kiêu ngạo (superbia); sự hám danh (inanis gloria) được gộp chung với kiêu ngạo. 2/ Tham lam (avaritia). 3/ Dâm dục (luxuria). 4/ Nóng giận (ira). 5/ Ghen tương (invidia), thay thế cho buồn rầu (tristitia); tuy cũng có thể nói rằng ghen tương là một thứ buồn rầu vì điều tốt ở nơi người khác. 6/ Mê ăn (gula). 7/ Lười biếng (acedia).

Các tội đầu sỏ có liên hệ gì với nhau hay không?

Từ thời Trung cổ, bảy nết xấu này được đặt tên là “tội đầu sỏ” (peccata capitalia). Thánh Tôma Aquinô (Summa Theologica I-II, q.84, a.4) tìm cách giải thích nguyên nhân của chúng, cũng như xếp đặt chúng theo một thứ tự mạch lạc. Theo sách Tôma, 7 tội đầu sỏ bắt nguồn từ hai nguyên nhân chính yếu: một đàng là sự thu hút bởi một điều tốt nhưng một cách vô điều độ; một đàng là tránh né điều tốt vì thấy có sự dữ đi kèm. Như vậy, ta nhận thấy rằng chúng không phải là nết xấu từ bản chất, nhưng trở thành xấu tại vì không được sử dụng đúng chỗ. 7 mối tội đầu, được phân thành hai nhóm chính. – Trong nhóm thứ nhất, ta có thể nói tới bốn điều tự bản chất là tốt nhưng trở thành xấu vì thiếu chừng mực: 1/ Ham muốn danh dự (một điều tốt tinh thần) đưa tới hám danh (kiêu ngạo). 2/ Bảo tồn sự sống qua việc ăn uống (mê ăn). 3/ Bảo tồn nòi giống qua việc truyền sinh (dâm dục). 4/ Của cải vật chất (tham lam). – Trong nhóm thứ hai, ta có thể nói tới việc tránh né ba điều tốt: 1/ điều tốt tinh thần đòi hỏi vất vả (lười biếng). 2/ Điều tốt của tha nhân làm cho ta bị sụt giá (ghen tương). 3/ Điều tốt của tha nhân lôi theo sự báo đáp (nóng giận).

Sau khi đã rảo qua lịch sử học thuyết về 7 nết xấu hoặc 7 tội đầu sỏ, bây giờ xin cha cho biết cách chính xác, bản chất của từng nết xấu như thế nào? 

Truyền thống tu đức mô tả bản chất bảy tội đầu như sau. 1/ Dựa theo đoạn văn sách Huấn ca 10,13 (bản Vulgata: “initium omnis peccati est superbia”), đứng đầu các mối tội là tính kiêu ngạo (tự phụ), được đồng hóa với tính hám danh theo truyền thống đan tu Đông phương. Hám danh (kiêu ngạo) là ham muốn được thiên hạ ca ngợi, tuy dù không đáng với công trạng của mình, hoặc vì mù quáng đến nỗi bỏ qua vinh danh Thiên Chúa và ích lợi tha nhân. Từ chỗ hám danh nảy ra các tật: khoe khoang, cãi cọ, tranh dành địa vị, ngoan cố.

2/ Thứ hai là tội Tham lam, nghĩa là ham muốn chiếm đoạt tài sản. Nguyên gốc là một nhu cầu tự nhiên để sinh tồn. Nó trở thành nết xấu khi sử dụng những phương pháp bất chính (trộm cắp, tham nhũng, lường gạt, gian lận), hoặc bo bo giữ của, không biết chia sẻ cho tha nhân (hà tiện).

3/ Tội thứ ba là Dâm dục, nghĩa là ham muốn khoái lạc nhục dục. Nó có thể đưa đến ngại ngùng khi phải chấp nhận hy sinh, bám víu vào những thú vui vật chất đến nỗi lãng quên các giá trị vĩnh cửu.

4/ Thứ bốn là tội Ghen tương, nghĩa là buồn phiền vì thấy điều tốt của người khác làm giảm bớt tiếng tăm của mình. Từ đó sinh ra tật lẩm bẩm, nói hành, hoặc vui thích khi thấy người khác gặp nạn và bực dọc khi thấy họ thành công.

5/ Thứ năm là tội Tham ăn là mê ăn uống quá độ. Từ đó sinh ra tật chè chén say sưa, nói năng to tiếng.

6/ Thứ sáu là tội Nóng giận, phát sinh do ước muốn trừ khử một điều gì ngang trái. Không phải lúc nào sự nóng giận cũng xấu, bởi vì Kinh thánh không ngại nói đến sự thịnh nộ của Thiên Chúa, hoặc thuật lại cơn giận của đức Giêsu khi chứng kiến cảnh buôn bán trong đền thờ (Mc 11,15tt). Nó trở thành nết xấu khi không được kiềm chế (xc. Ep 4,26), hoặc không nhằm đến sự khôi phục công lý mà chỉ nhắm tới việc hạ nhục đối phương, hậm hực tìm cách trả thù, hoặc cãi cọ chửi bới họ, đó là chưa kể việc sử dụng vũ lực.

7/ Sau cùng, thứ bảy tội Biếng trễ có thể áp dụng cho việc ngại ngùng làm việc (lười biếng) nói chung. Riêng trong đời sống tâm linh, các đạo sĩ Đông phương gọi là akeđia, áp dụng cho tính thờ ơ lãnh đạm, hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh (xc. Kh 3,15). Đối với các đan sĩ, đây là ngăn trở lớn nhất cho đời tu. Từ đó sinh ra tật nguội lạnh trong việc giữ luật Chúa, biếng nhác trong việc thi hành bổn phận, sống buông thả theo cảm tính, ngại hy sinh hãm mình, và bỏ cuộc.

Dĩ nhiên, phàm ai dấn thân trên đường trọn lành phải cố gắng diệt trừ các nết xấu vừa nói, qua việc cầu nguyện, thực tập nhân đức (thí dụ chống lại tính kiêu ngạo bằng đức khiêm nhường, chống lại tình tham lam bằng đức thanh bần, vv). Đó là ý nghĩa của bản kinh “cải tội 7 mối có bảy đức”, mà trước đây các tín hữu quen đọc ở nhà thờ trước thánh lễ ngày Chúa nhật: thứ nhất, khiêm nhường chớ kiêu ngạo; thứ hai, rộng rãi chớ hà tiện; thứ ba, giữ mình sạch sẽ, chớ mê dâm dục; thứ bốn, hay nhịn chớ hờn giận; thứ năm, kiêng bớt chớ mê ăn uống; thứ sáu, yêu người chớ ghen ghét; thứ bảy, siêng năng việc Đức Chúa Trời chớ làm biếng. Tuy nhiên, các bậc thầy về đường tu đức cũng cảnh cáo chúng ta về bảy tật xấu len lỏi cả trong đời sống tâm linh.

Như vậy, chúng không còn là tội đầu sỏ mà chỉ là nết xấu mà thôi?

Thiết tưởng vấn đề danh xưng không can hệ cho bằng thực chất. Ai mắc 7 tội đầu sỏ hoặc 7 nết xấu thì biết mình tội lỗi xấu xa. Nhưng khi nói đến 7 tật xấu thiêng liêng, thì các bậc thầy muốn cảnh giác rằng cả người đạo đức thánh thiện cũng mắc phải mà họ không ngờ. Chỉ cần lược qua sự mô tả từng điểm thì sẽ thấy. 1/ Kiêu ngạo thiêng liêng: Họ tự mãn thích thú vì đã đọc kinh cầu nguyện, đã hy sinh hãm mình, giống như người Biệt phái được Luca nói đến trong dụ ngôn về hai người lên đền thờ cầu nguyện (Lc 18,11-12). Họ ưa lên mặt dạy đời, phê bình chỉ trích người khác. Họ cũng dễ bực bội khi ai vạch cho họ thấy những thiếu sót của mình. Họ không dám chấp nhận rằng mình còn bất toàn. 2/ Tham lam thiêng liêng. Họ thích thu thập các thứ ảnh tượng, xương thánh, đọc hết các sách dẫn đường trọn lành, nghe đủ các bài giảng huấn đức… nhưng bỏ qua việc thực hành nhân đức, tìm cách thi hành ý Chúa. 3/ Dâm dục thiêng liêng. Trong đời sống tâm linh, họ thích tìm an ủi, khoái cảm, hoặc khi cầu nguyện, lãnh bí tích, hoặc là qua các “tình bạn thiêng liêng”. 4/ Nóng giận thiêng liêng. Họ tỏ ra hấp tấp muốn nên trọn lành trong thời gian ngắn. Họ lập danh sách khá dài về những điều quyết tâm phải làm để nên thánh, và đâm ra bực tức vì không thực hiện nổi. Họ cũng không thể chịu đựng những nết xấu của tha nhân, vì thế họ lên tiếng phê bình chỉ trích, tuy dễ quên rằng mình cũng chẳng khá hơn gì! 5/ Tham ăn thiêng liêng. Họ muốn chứng tỏ lòng quảng đại đối với Chúa bằng cách tăng gia thật nhiều các việc đạo đức: đọc kinh, chay tịnh, hãm mình đánh tội. Trên thực tế, họ muốn thỏa mãn nhu cầu của mình, chứ không chịu tuân theo sự hướng dẫn của bề trên hay linh hướng. Sự đi tìm an ủi thiêng liêng cũng được liệt vào tật “tham ăn”. 6/ Ghen tương thiêng liêng. Họ khó chịu khi thấy ai trổi hơn mình về đức hạnh; nhất là khi người đó được thiên hạ thán phục. 7/ Lười biếng thiêng liêng. Họ thích làm những công tác nào mang lại sự thỏa mãn, chứ không chủ trương tìm cách làm theo ý Chúa. Họ ngại ngùng khi phải bước vào con đường hẹp của Thập giá.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

Phạm tội nào thì không được rước lễ ?

Hỏi: Thưa cha, phạm những tội nào thì không được rước lễ ? Tội trọng là những tội nào, xin cha cho biết cụ thể.

Giải đáp

Theo Giáo Luật điều 916 thì những ai ý thức mình phạm tội nặng và chưa xưng tội trước thì không đươc rước lễ trừ khi có lý do quan trọng như nguy tử hay có sự phiền phức nghiêm trọng nếu không chịu lễ và không có linh mục giải tội hay không thể đến được với các ngài thì phải thống hối trọn vẹn và dốc quyết đi xưng tội sớm ngần nào có thể nghĩa là trong khoảng một tuần.

 Còn tội trọng là những tội nào ? Chắc hẳn bạn muốn có một danh sách các tội trọng để có thể căn cứ vào đó biết mình có thể được rước lễ hay không. Trước khi nói đến việc lập một danh sách như vậy bạn cần phải hiểu thế nào là tội trọng.

Một tội được coi là trọng khi hội đủ ba điều kiện : “Phạm một lỗi nặng, với đầy đủ ý thức và cố tình” (Giáo Lý Công Giáo số1857).

Ảnh cùng dòng

Như vậy để phạm một tội trọng có ba yếu tố:

a) Một lỗi nặng nghĩa là một điều được xác định trong Mười Điều Răn, như Đức Giê-su trả lời người thanh niên giàu có: “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thảo kính cha mẹ” (Mc 10,19). Tội có thể nặng hoặc nhẹ : tội giết người nặng hơn trộm cắp. Phải xét đến cả phẩm giá của những người bị xúc phạm : tội hành hung cha mẹ nặng hơn tội hành hung một người lạ. (Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số1858)

Trong sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo ở phần Mười Điều Răn sẽ nói rõ về những tội nghịch với các Điều răn ấy như :

Điều Răn I : Mê tín, thờ ngẫu tượng, bói toán và ma thuật, thử thách Thiên Chúa, phạm thánh, mại thánh, vô thần…

Điều Răn II : Lạm dụng Danh Chúa, lộng ngôn xúc phạm Danh Chúa, Đức Mẹ và các Thánh, dùng Danh Chúa vào việc ma thuật, thề gian kêu cầu Chúa chứng giám cho điều nói dối, bội thề…

Điều Răn III : Bỏ tham dự Thánh Lễ Chủ Nhật và lễ buộc không có lý do quan trọng, lao động và sinh hoạt ngăn trở việc thờ phựơng Chúa…

Điều Răn IV : lỗi bổn phận thảo hiếu với cha mẹ, lỗi trách nhiêm trong đời sống gia đình ( chồng ,vợ, anh, em), Lỗi bổn phận trong xã hội ( người lãnh đạo, nhà cầm quyền, công dân, giáo viên …)…

Điều Răn V : cố ý giết người, đả thương, bỏ mặc người lâm nguy, phá thai, giết chết tránh đau, tự sát, chè chén say sưa, ăn uống quá độ, sử dụng ma tuý, bắt cóc, giữ làm con tin, gây chiến tranh, hận thù, gây gương xấu lôi kéo người khác cố ý phạm lỗi nặng…

Điều Răn VI : Dâm ô, thủ dâm, tà dâm, sản xuất sách báo phim ảnh khiêu dâm, mại dâm, hiếp dâm, hành vi đồng tính, ngoại tình, ly dị, đa thê, loạn luân, sống không hôn phối, triệt sản, ngừa thai, thụ tinh nhân tạo…

Điều Răn VII : Lỗi công bằng, chiếm đoạt hay sử dụng tài sản kẻ khác cách bất công, trộm cắp, bội tín, cờ bạc gian lận, không đền bù thiệt hại, dùng tiền của, vật chất nô lệ hoá con người , phá hoại môi sinh, gây thiệt hại công ích…

Điều Răn VIII : chứng dối, thề gian, làm mất thanh danh và danh dự người khác, phán đoán hồ đồ, nói xấu, vu khống, tâng bốc đồng loã điều xấu đồi bại, nói dối làm thiệt hại nặng nề, lừa dối…

Điều Răn IX : chiều theo các dục vọng của xác thịt, sống phóng túng…

Điều Răn X : thèm muốn của cải người khác, ước muốn điều bất công hại đến tài sản người khác, ganh tị…

Đây chỉ là tóm tắt những lỗi nghịch với 10 điều răn. Các lỗi ấy nặng nhẹ còn tuỳ ở mức độ vi phạm, gây thiệt hại nặng nề, lỗi đức công bình và đức ái nữa vì tội trọng phá hủy đức mến trong lòng con người do vi phạm nghiêm trọng luật Thiên Chúa, muốn quay lưng với Thiên Chúa. Nếu muốn hiểu rõ hơn xin tham khảo sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo từ số 2052 đến 2257.

b) Ngoài ra, tội trọng đòi phải có nhận thức đầy đủ và hoàn toàn ưng thuận. Điều này giả thiết người phạm tội phải biết hành vi đó là tội, trái với luật Thiên Chúa.

c) Tội trọng bao hàm một sự ưng thuận có suy nghĩ cặn kẽ để trở thành một lựa chọn cá nhân. (Giáo Lý Công Giáo số 1859 )

Nếu thiếu hiểu biết ngoài ý muốn, người phạm lỗi nặng có thể được giảm hoặc miễn trách nhiệm. Nhưng không ai được coi là không biết đến những nguyên tắc của luân lý đã được ghi khắc trong lương tâm mỗi người. Các thúc đẩy của bản năng, các đam mê, các áp lực bên ngoài, hoặc những rối loạn do bệnh tật, cũng có thể làm cho hành vi phạm lỗi bớt tính cách tự ý và tự do. (Giáo Lý Công Giáo 1860)

Hội đủ những điều kiện nêu trên thì coi như đã phạm tội trọng

Còn phạm tội nhẹ là khi vi phạm luật luân lý trong điều nhẹ, hay lỗi điều nặng nhưng không hoàn toàn hiểu biết hay ưng thuận. Trong trường hợp này bạn vẫn có thể lên rước lễ.

Trong phạm vi trả lời những thắc mắc thì không thể trình bầy cặn kẽ mọi khía cạnh được đồng thời có nhiều hoàn cảnh đa dạng và phức tạp của từng cá nhân nên cần có sự trao đổi với cha giải tội để ngài có thể giúp cách cụ thể được.
gpthanhbinh.org

Hàng Giáo phẩm trong Giáo hội

TRONG GIÁO HỘI CÔNG GIÁO, HÀNG GIÁO PHẨM LÀ AI VÀ CÓ CHỨC NĂNG GÌ?

Hỏixin cha giải thích rõ chức vụ và chức năng của các vị lãnh đạo trong Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ và địa phương.

Trả lời: Giáo Hội  là cơ chế và phẩm trật mà Chúa Kitô đã thiết lập trên nền tảng Tông Đồ với  Sứ Mệnh rao giảng Tin Mừng Cứu Độ  để ”làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con  và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh  em ..” ( Mt 28: 19-20)

Giáo Hội này ”tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phêrô và các giám mục hiệp thông với ngài điều khiển.) ( LG 8)      

Thi hành Sứ Mệnh trên, Giáo Hội có cơ chế  ,Hàng Giáo Phẩm (Hierachy) rất chặt chẽ và hữu hiệu  từ trung ương cho đến địa  phương với các phẩm trật như sau:

 A- Hàng Giáo sĩ (Clergy)

I-   Đức Thánh Cha:

Đứng đầu Hàng Giáo Phẩm gồm  Giáo sĩ  và Tu sĩ là Đức Thánh Cha, vị  Đai Diện (Vicar) duy nhất của Chúa Kitô trên trần gian và là Chủ Chăn của toàn thể  Giáo Hội, với sự công tác, hiệp thông và vâng phục trọn vẹn của hàng Giám Mục trong toàn Giáo Hội. Ngài có quyền thông thường tối cao, sung mãn, trực tiếp và phổ quát trong Giáo Hội, và ngài luôn luôn có thể tự do hành sử quyền ấy. ( x Giáo luật số 331)

Đức Thánh Cha phải là người có chức Giám mục. Do đó, ai được bầu lên ngôi Giáo Hoàng mà chưa có chức Giám mục thì lập tức phải được truyền chức Giám Mục, trước khi đăng quang, chính thức thi hành nhiệm vụ Giáo Hoàng. (x giáo luật số 332 & 1)

Như thế chức Giám Mục là chức thánh cao nhất trong Giáo Hội Công Giáo.

Thứ đến là chức Linh mục và cuối cùng là chức Phó Tế

Đức Thánh Cha cũng không bị giới hạn thời gian phục vụ Giáo Hội ở chức vụ Giáo Hoàng. Nghĩa là ngài có thể phục vụ bao lâu ngài muốn, vì giáo luật không ấn định thời gian phục vu cho Đức Thánh Cha, như  ấn định cho Giám mục phải từ chức khi tròn 75 tuổi. (x giáo luật số 401&1.)

Đức Thánh Cha được hưởng ơn bất khả ngộ (infallibility), tức là được gìn giữ cho khỏi sai lầm khi Ngài dậy dỗ điều gì thuộc phạm vi đức tin hay luân lý. Các Giám mục cũng được hưởng ơn này khi hiệp thông với Đức Thánh Cha để dạy dỗ trong hai pham vi nói trên. (x giáo luật số 749, &1, 2).

Sau hết, Đức Thánh Cha có quyền từ chức, nếu ngài tự ý chọn lựa như vậy  và việc từ chức này  đương nhiên có hiệu lực, không cần được ai phê chuẩn hay  chấp nhận. Đó là trường hợp Đức Thánh Cha Bê-nê đictô XVI từ chức  năm 2012. (x giáo luật số 332, & 1 và 2)

II-  Giám Mục Đoàn (College of Bishops):

Giám mục là người kế vị các Thánh Tông Đồ, được Đức Thánh Cha chọn và bổ nhiệm để cộng tác với Ngài trong sứ mệnh cai quản, dậy dỗ và thánh hóa

Dân Chúa được trao phó cho các ngài coi sóc ở các Giáo hội địa phương tức các Giáo Phận (Dioceses) ở các quốc gia trên toàn thế giới. Các Giám Mục họp lại thành Giám Mục Đoàn, đặt dưới quyền coi sóc của Đức Thánh Cha là Thủ Lãnh và cũng là Giám Mục Roma mà các Giám mục khác phải hiệp thông và vâng phục trọn vẹn.

Để thi hành nhiệm vụ và trách nhiệm, Giám Mục được phân chia thành ba cấp bậc như sau:

1-  Giám mục chính tòa (Diocesan bishop= Ordinary) tức Giám mục cai quản một địa phận hay Giáo phận (Diocese)

2-  Giám mục Phó (Coadjutor) là Giám Mục có quyền kế vị  Giám muc chính tòa khi vi này đột nhiên từ trần hay đến tuổi phải về hưu (x. giáo luật số 403&3)

3- Giám mục Phụ Tá (Auxiliary Bishop) là Giám mục được chọn để phụ giúp Giám mục chính tòa. Giám mục phụ tá không có quyền kế vị như Giám mục Phó, (giáo luật số 403& 1). Muốn kế vị, Giám mục phụ tá  phải được Đức Thánh Cha bổ nhiệm vào chức vụ mới.

Như vậy, các Giám Mục,  tuy khác nhau về địa vị và trách nhiệm, nhưng bằng nhau về chức thánh  cấp Giám mục,  là chức thánh cao nhất của Giáo Hội Công Giáo. Đức Thánh Cha và các Hồng Y (sẽ nói sau) cũng chỉ có chức Giám mục mà thôi, nhưng có địa vị và trách nhiệm lớn  hơn Giám mục coi sóc các Giáo Phận trong toàn Giáo Hội

Khi các Giám mục tròn 75 tuổi,và đang coi Địa Phận hay giữ chức vụ nào  trong Giáo Triều Roma, thì phải xin về hưu ( giáo luật số 401 & 1)

4-Tổng Giám mục (Archbishop): cũng là Giám mục, nhưng được cử để coi sóc một Tổng Giáo Phận (Archdiocese) hay còn gọi là Giáo Tỉnh (Ecclesial Province). Tuỳ theo nhu cầu mục vụ đòi hỏi, Tòa Thánh có thể gom một số Giáo Phận thành Tổng Giáo Phận hay Giáo Tỉnh. Người đứng đầu một Tổng Giáo Phận được  gọi  là Tổng Giám Mục, ngài cũng là Giám mục chính tòa của Địa Phận mình coi sóc.

Tổng Giám Mục có trách nhiệm sau đây:

– theo dõi việc thi hành giáo lý đức tin và kỷ luật Giáo Hội trong Giáo Tỉnh của mình để báo cáo cho Đức Thánh Cha biết về những lạm dụng,hay sai trái nếu có. ( x giáo luật số 435 &1)

– Bổ nhiệm Giám Quản cho Giáo Phận khi Giám Mục chính tòa về hưu hay từ trần trong khi chờ Tòa Thánh bổ nhiệm Giám Mục chính tòa mới. Nhưng Tổng Giám Mục không có quyền hạn gì trên các Giám Mục trong Giáo Tỉnh của mình. Tất cả các Giám Mục, và Tổng Giám Mục đều trực tiếp chịu trách nhiệm trước Đức Thánh Cha mà thôi

–  Khi được bổ nhiệm coi sóc một Tổng Giáo Phận, Tổng Giám mục được Đức Thánh Cha trao cho dây PALLIUM là dấu chỉ quyền hành của Tổng Giám mục và cũng là dây hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã  do

–   Đức Thánh Cha lãnh đạo , thay mặt Chúa Kitô trên trần gian.

–   Nếu Giám mục nào trong Giáo Tỉnh của mình vắng mặt cách bất hợp pháp trong sáu tháng ở Địa Phận mình coi sóc, thì Tổng Giám mục phải thông tri cho Tòa Thánh biết. Nhưng nếu Tổng Giám mục cũng vắng mặt như vậy, thì Giám muc cao niên nhất trong Giáo Tỉnh sẽ thông tri việc này. (x Giáo luật số 395 &4)

–  Tổng Giám Mục được phép đeo dây Pallium trong bất cứ Thánh Đường nào thuộc Giáo Tỉnh của mình (x giáo luật số 437 &1-2)

–   Khi Tổng Giám Mục được thuyên chuyển đến một Giáo Tỉnh khác, thì phải xin lại dây Pallium này.

III- HỒNG Y ĐOÀN (College of Cardinals)

–  Hồng Y được mệnh danh  là “những Hoàng Tử của Giáo Hội = Princes of the Church), được chọn trong hàng Giám Mục trong toàn Giáo Hội với chức năng làm  cố vấn cho Đức Thánh Cha đương kim và là cử tri (Elector) đi bầu Giáo Hoàng  mới cho Giáo Hội khi Giáo Hoàng đương kim qua đời hay tự ý từ chức ( Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI năm 2012)

–  Hồng Y là một tước vi cao (title) chứ không phải là Chức Thánh, nhưng được chọn với  hai chức năng  nói trên vì lợi ích của Giáo Hội.

–  Theo giáo luật hiện hành thì chỉ có các Hồng Y dưới 80 tuổi mới được đi bầu Giáo Hoàng mà thôi. Khi vào Mât hội (Conclave) các Hồng Y cũng đương nhiên là  những ứng viên (potential candidates) có thể  được bầu mặc dù không ra tranh cử.

–  Ngoài Giám mục ra, một vài linh mục cũng có thể được chọn làm Hồng Y. Nhưng sau khi  được chọn, các vị này cũng sẽ được thụ phong Giám mục. Và nếu Hồng Y nào chưa có chức Giám mục mà được bầu làm Giáo Hoàng thì phải được truyền chức Giám Mục  ngay, trước khi đăng quang, do Hồng Y niên trưởng tấn phong. ( x giáo luật số 355& 1)

–  Hồng Y họp lại thành Hồng Y Đoàn (College of Cardinals) do một vị làm niên Trưởng (Dean)

–  Có ba đẳng cấp Hồng Y như sau:

–  1- Hồng Y Giám mục (Cardinal Bíshops) từng là những giám mục đã coi sóc các Địa phận chung quanh Roma, và nay là những Hồng Y thâm niên làm việc trọn thời gian (full time) trong Giáo Triều Roma (Roman Curia)

–  2- Hồng Y Linh mục (Cardinal Priests) là những Hồng Y hiện đang làm việc trong Giáo Triều hay đang coi các Tổng Giáo Phận ở Ý hay ở các quốc gia trên thế giới’

–  3- Hồng Y Phó Tế (Cardinal Deacons)  là những giám mục hiệu tòa (Titular Bishops) tức là không coi sóc địa phận nào và đang làm việc trọn thời gian trong Giáo Triều. (x giáo luật số 350 & 1-2)

–  Khi các Hồng Y trọn 75 tuổi – và diện đang giữ các chức vụ quan trọng trong Giáo Triều, hay coi sóc các Tổng Giáo Phận trên toàn thế giới đều phải xin từ chức và tùy Đức Thánh Cha cho từ chức hay tạm lưu chức thêm môt thời gian nữa.

–   Các Hồng Y, nếu không coi sóc Giáo Phận nào, thì buộc phải cư trú ở Rome. ( x. giáo luật số 356)

IV- Linh mục đoàn và Phó Tế

Linh mục là cộng sự viên đắc lực nhất của Giám mục (co-workers) mình trưc thuộc trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng, dạy dỗ chân lý đức tin và luân lý cùng coi sóc giáo dân ở các giáo xứ (Parishes) được trao phó cho mình phục vụ với tư cách chủ chăn.

Linh mục rất cần thiết và quan trọng cho sứ mệnh của Giáo Hội nói chung, vì là người trực tiếp coi sóc giáo dân thay mặt cho Giám mục Giáo Phận. Nếu không có linh mục, thì sẽ không có Thánh Lễ  hay Bi Tích Thánh Thể và các Bí Tích Hòa giải, Xức dầu bệnh nhân, là những bí tích rất quan quan trọng cho đời sống Kitô Giáo.

Linh mục được phân chia thành linh mục Giáo Phận (Diocesan Priests) hay còn gọi là linh mục Triều, và Linh mục Dòng (Religious Priests) tức Linh muc thuộc một Dòng Tu hay Tu Hội, như Linh mục Dòng Đa Minh, Linh mục Dòng Tên (SJ), Dòng Ngôi Lời ( SVD) .v.v

Linh mục Triều thì trực thuộc Giám mục của một Giáo Phận, còn Linh muc Dòng thì thuộc quyền Bề trên một Dòng tu hay Tu Hội liên hệ. Muốn thi hành sứ vụ linh mục (Priestly ministries) thì linh mục phải được Giám mục trao cho năng quyền (Faculties) để cử hành Thánh Lễ và các bí tích. Nếu vì lý do gì mà năng quyền này bị  rút (suspension) tạm thời hay vĩnh viễn  (hay gọi nôm na là bị treo chén) thì linh mục không được phép cử hành Thánh Lễ và các bí tích, bao lâu không có năng quyền.

Phụ tá linh mục trong sứ vụ  có các Phó tế vĩnh viễn, tức những người đang có vợ con nhưng được chịu chức Phó Tế để  phục vụ trong một giáo xứ. Phó tế được phụ giúp Bàn Thánh, được đọc Phúc Âm và có thể chia sẻ lời Chúa, được rửa tội cho trẻ  em, được chứng hôn phối và chủ sự nghi lễ an táng (Rite of Christian Funerals)

Trên đây là tất cả các chức vụ trong hệ thống Giáo quyền của Hàng Giáo Phẩm Công Giáo. Như thế, không ai có thể làm mục vụ trong Giáo Hội mà lại không thuộc Hàng Giáo Phẩm trên đây.

Cụ thể, không có Giám mục nào mà không thuộc một Giáo Phận để phục vụ  và  về hưu. Không một Linh mục hay Phó tế nào mà không trực thuộc một Giám mục hay Bề Trên một Dòng Tu hay Tu Hội. Nếu không trực thuộc thì sẽ không có năng quyền (Faculties) để thi hành tác vụ linh mục hay Phó tế, dù cho có chức thánh linh mục hay Phó tế.

B Hàng Tu Sĩ ( Religious)

Tu sĩ là những người có ba lời khấn khó nghèo (poverty), độc thân, khiết tịnh (celibacy, chastity) và vâng phục (obedience) và thuộc về một Dòng Tu hay Tu Hội được thành lập hợp pháp (đúng giáo luật) trong Giáo Hội.Thí dụ Dòng ĐaMinh, Dòng Chúa Cứu Thế, Dòng Ngôi Lời (SVD) Dòng Mến Thánh Giá, Tu Hội Tận Hiến, v.v

Mỗi Dòng Tu hay Tu Hội đều có đặc sủng (charism) và linh đạo riêng (spirituality) , nên ai thích linh đạo nào thì gia nhập Dòng hay Tu Hội cổ võ cho linh đạo đó.

Tu sĩ nam có thể học để lãnh chức linh mục và có thể được chọn làm Giám Mục, Hồng Y hay Giáo Hoàng (Đức Thánh Cha đương kim là tu sĩ  Dòng Tên SJ).

 Giáo sĩ (clerics) như Phó tế, Linh mục, Giám mục thì không phải là Tu sĩ và chỉ có hai lời khấn khiết tịnh (độc thân) và vâng phuc mà thôi. Ngược lại Tu Sĩ có thể là giáo sĩ nếu có chức Phó Tế, Linh mục hay Giám mục, và cả Giáo Hoàng nữa.

Tu sĩ  của các Dòng Tu và Tu Hội  đều  thuộc quyền coi sóc tối cao của Đức Thánh Cha, và hoạt động trong khuôn khổ giáo luật, và luật Dòng  cho phép. Nhưng khi làm việc trong một Giáo Phận thì Dòng Tu hay tu sĩ của Dòng đó  phải có phép của Giám mục liên hệ.

Tóm lại, tất cả các vị trong Hàng Giáo Phẩm và Tu sĩ đều lãnh trách nhiệm từ các Bề Trên liên hệ, trừ Đức Thánh Cha được Hồng Y Đoàn bầu lên cách hợp lệ  và lãnh trách nhiệm từ chức vụ được bầu này để thay mặt Chúa Kitô chăn dắt đoàn chiên của Người cho đến ngày hết nhiệm vụ vì từ trần hay tự ý từ chức. (cụ thể là Đức THánh Cha Bê-nê đich-tô XVI đã tự ý  từ chức năm 2012)

Chúng ta cùng cầu xin cho các vị  lãnh đạo Trong Hàng Giáo Phẩm (giáo sĩ và Tu sĩ)  được sung mãn ơn Chúa để chu toàn trách nhiệm của mình trong toàn Giáo Hội.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn, Doctor of Ministry 

Câu hỏi Giáo lý thường gặp

Phần 1

CÂU HỎI SỐ 1: HỌC GÌ KHÓ NHẤT?

TRẢ LỜI: HỌC LÀM NGƯỜI là khó nhất (Người văn minh lịch sự, người có lương tâm, người Trung-Hiếu, người con Chúa…)

CÂU HỎI SỐ 2: MA QUỶ  Thiên Chúa có dựng nên ma quỉ không ? 

TRẢ LỜI:  – Chúa tốt lành và Ngài chỉ dựng nên những gì tốt lành. – Ma quỉ là do Thiên Thần lạm dụng tự do mà ra, nghĩa là Chúa không dựng nên ma quỉ.

CÂU HỎI SỐ 3: ĐỨC MẸ LÀM PHÉP LẠ Đức Mẹ có làm phép lạ không? Tại sao?

TRẢ LỜI: – Đức Mẹ không làm phép lạ vì Đức Mẹ là con người. Chỉ có Thiên Chúa mới có quyền năng để làm phép lạ. – Chúa làm phép lạ để vinh danh Đức Mẹ…chứ không phải Đức Mẹ làm phép lạ.

CÂU HỎI SỐ 4: TRUYỀN PHÉP Khi Linh mục Truyện phép thì giáo dân nhìn Mình Thánh hay cúi đầu? Tại sao?

TRẢ LỜI: 1. Nhìn lên để chiêm ngưỡng Mình Thánh Chúa và để biểu lộ lòng tin. 2. Cúi đầu khi Chủ tế cúi đầu hay bái gối để biểu lộ sự tôn thờ.

CÂU HỎI SỐ 5: CHÀU THÁNH THẺ Trong giờ chầu Thánh Thể, khi chủ tế nâng cao hào quang có Mình Thánh Chúa thì giáo dân nhìn lên hay cúi đầu?

TRẢ LỜI: Giáo dân nhìn lên để chiêm ngắm, để tuyên xưng niềm tin vào Mình Thánh Chúa (giống như khi Truyền phép)

CÂU HỎI SỐ 6: BUỘC TIN PHÉP LẠ KHÔNG ? Giáo Hội có buộc tin các phép lạ mà khoa học bó tay như tin các điều trong kinh Tin kính không? (Ví dụ 70 phép lạ ở Lộ Đức đã được Giáo Hội công nhận theo xét nghiệm của khoa học trong 2.000 hồ sơ rút từ 30.000 ơn lạ)

TRẢ LỜI: Thưa không. Giáo Hội chỉ dạy chúng ta tin những điều đã ghi trong kinh Tin kính mà thôi. Với những chuyện khác thì Giáo Hội để tự do tin hay không tin. Do đó, chúng ta đừng nhẹ dạ tin đủ thứ phép lạ rồi loan truyền quá đáng.

CÂU HỎI SỐ 7: NGƯỜI LƯƠNG RỬA TỘI ĐƯỢC KHÔNG ? Trong trường hợp khẩn cấp, y tá ngoại giáo rửa tội đúng nghi thức công giáo có được không? (Đổ nước và đọc “Cô rửa em, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần)

TRẢ LỜI: – Thưa được. Điều đó cho chúng ta thấy rửa tội cho em bé là điều rất quan trọng: Cha mẹ, ông bà, mọi người đều có thể rửa tội cho em bé trong trường hợp nguy tử để em trở nên con cái Chúa và hưởng nước Thiên đàng… – Đồng thời chúng ta cũng hiểu rằng chúng ta chỉ là dụng cụ của Chúa, chính Chúa mới có quyền xóa tội

CÂU HỎI SỐ 8: CÓ THƯA AMEN SAU LỜI RỬA TỘI KHÔNG? Sau câu đọc rửa tội “Tôi rửa em, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” ta có thưa Amen không? Tại sao?

TRẢ LỜI: – Đây là công thức Chúa Giê-su truyền cho các Tông đồ phải thi hành. – Đây không phải là lời cầu xin nên không cần thưa Amen (Amen thường có nghĩa là “Ước được như vậy”) – Nếu lỡ thưa Amen thì cũng không sao vì không có luật xác định.

CÂU HỎI SỐ 9: SUY NIỆM VỀ ĐỨC MẸ TRONG GIỜ CHÀU ĐƯỢC KHÔNG ? Trong giờ chầu Thánh Thể, ta có suy niệm về Đức Mẹ, thánh Giu-se, thánh bổn mạng…không? Tại sao? 

TRẢ LỜI: Thưa: Giờ chầu Thánh Thể là giờ cầu nguyện với Chúa Giê-su nên suy niệm về Đức Mẹ, thánh Giu-se hay thánh bổn mạng thì không ổn.

CÂU HỎI SỐ 10: LÀN CHUỖI TRONG GIỜ CHÀU ĐƯỢC KHÔNG ? Trong giờ chầu Thánh Thể, có được lần chuỗi không?

TRẢ LỜI: Ngày 15-1-1997, Thánh Bộ Phụng tự trong số 2287/96/L đã trả lời một thắc mắc, trong đó Thánh bộ nói rõ ràng là được phép công khai lần chuỗi Mân Côi trong giờ chầu Mình Thánh Chúa. Tài liệu nói trên cũng nói đến các động cơ đằng sau việc đọc kinh như thế. .

Chúng tôi có thể nói thêm rằng không có gì mâu thuẫn trong việc lần chuỗi Mân Côi trước phép Thánh Thể. Mặc dù chuỗi Mân Côi bề ngoài là một kinh nguyện kính Đức Mẹ, nó cũng tập trung một cách sâu sắc vào Chúa Kitô, qua việc chiêm ngắm các mầu nhiệm. Do đó, thật là có ý nghĩa khi trong năm sự sáng”, do Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô || đặt ra, có việc thiết lập Bí Tích Thánh Thể.

(Lm. McNamara)

Ý Nghĩa Lễ Đức Mẹ Maria Hồn Xác Lên Trời

Nói về Mẹ, viết về Mẹ là một hạnh phúc lớn lao. Tiếng Mẹ sao dịu êm, sao mát dịu đến thế. Mẹ trần thế đã là một tặng phẩm quí giá. Mẹ thiêng liêng lại càng cao quí hơn thế nữa. Mẹ có tên là Maria. Tiếng nói ngắn gọn, nhưng bao trùm, gói trọn tất cả. Giáo Hội mừng lễ Ðức Mẹ lên trời. Trong niềm hân hoan của ngày lễ Mẹ, ta thử suy nghĩ về:

-Tại sao Maria hồn xác lên trời ?

-Maria hồn xác lên trời có ý nghĩa gì cho ta ?

I. TẠI SAO MARIA HỒN XÁC LÊN TRỜI ?

Người nữ trong sách Khải Huyền trích đọc hôm nay, tiên trưng cho Mẹ Maria. Ðức trinh nữ Maria ngay từ giây phút ban đầu đã được Thiên Chúa bảo toàn, gìn giữ và tuyển chọn. Nên, tâm hồn và thể xác của Mẹ luôn thuộc về Thiên Chúa, không mang vết tỳ ố, không nhuốm tội lỗi, tâm hồn tinh trong, thánh thiện, tinh tuyền, xứng đáng là đền thờ cho Chúa Thánh Thần ngự trị.

Thiên Chúa đã yêu thương Mẹ, đã tuyển chọn Mẹ làm Mẹ Thiên Chúa, làm Mẹ Ðấng cứu thế Giêsu. Hậu quả của tước vị làm Mẹ Thiên Chúa: Maria đã được chọn lựa riêng, được đặc ân vô nhiễm nguyên tội. Thân xác và tâm hồn của Mẹ đã được dành riêng cho Thiên Chúa. Con Mẹ cưu mang trong cung lòng là do bởi phép Chúa Thánh Thần. Mẹ sinh con mà vẫn còn tinh khiết vẹn tuyền. Ðó là đặc ân chỉ có một không ai trong lịch sử cứu rỗi, Thiên Chúa dành riêng cho Mẹ và chỉ có mình Mẹ được ơn cao quí ấy. Hình ảnh người nữ thánh Gioan diễn tả: mình mặc áo mặt trời, chân đạp vầng trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao là hình ảnh của chính Mẹ Maria và Giáo Hội Chúa Kitô.

Ảnh cùng dòng

Maria là hình ảnh vẹn toàn nhất của Giáo Hội ngày mai, là bình minh của Giáo Hội khải hoàn. Bài ca Magnificat mà Ðức Mẹ cất cao giọnng trong Tin Mừng Lc 1, 39-56 là lời cảm tạ viên mãn Thiên Chúa dành cho Maria. Chính niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa đã khiến Maria trở nên vững mạnh và đáng được chúc tụng muôn đời. Sự tinh ròng của thể xác và tâm hồn khiến Maria được đặc ân riêng biệt.

Maia đã biến phút giây tuyệt vời khi sứ thần Gabrien truyền tin cho Mẹ và lời xin vâng của Mẹ đã biến giây phút hiện tại ấy trở thành niềm vui vĩnh cửu, trở thành hạnh phúc trường tồn vì chính phút giây ấy đã thay đổi cuộc đời của Mẹ cách hoàn hảo nhất. Ðó là giờ của ơn cứu độ. Sự vô tì tích của tâm hồn và thể xác của Mẹ, đã được Thiên Chúa chúc phúc cho hồn xác Maria về trời hưởng vinh quang vĩnh cửu với Thiên Chúa Ba Ngôi và triều thần thánh trên trời.

II.MARIA HỒN XÁC LÊN TRỜI CÓ Ý NGHĨA GÌ CHO TA ?

Ngày ó/11/1950, Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã long trọng tuyên bố tín điều Ðức Maria hồn xác về trời. Ðây là biến cố lịch sử trong lịch sử cứu độ và mặc nhiên xác nhận niềm tin Kitô giáo vào con người tinh trong, Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ Maria, niềm tin này đã bàng bạc trong Giáo Hội từ nhiều thế kỷ qua.

Tín điều ấy có giá trị vĩnh viễn và tuyên bố cho mọi người rằng Maria có liên hệ mật thiết với nhân loại, với mọi người chúng ta. Nhờ sự tinh ròng, vô tì tích của tâm hồn và thể xác của Maria, mọi người có lòng tin được hưởng nhờ đặc ân cứu độ của Thiên Chúa và tin vào sự giải thoát tội lỗi, Thiên Chúa dành cho Mẹ Maria cũng chính là tin vào Ðức Kitô đã chết và sống lại cho phần rỗi mọi người.

Maria đã lên trời cả hồn lẫn xác.

Maria đã được diện đối diện với Thiên Chúa. Maria lên trời là hình ảnh của Giáo Hội khải hoàn và vinh quang của thập giá là vinh quang của Mẹ. Tin vào thập giá sẽ được ơn cứu độ. Vì thế, tin vào Ðức Kitô đã giải thoát Mẹ khỏi sự chết của tội lỗi, tức là tin vào sự bất diệt của tâm hồn và thể xác Thiên Chúa dành cho Maria, cũng như cho nhân loại và cho Giáo Hội khải hoàn.

Xin Chúa ban cho chúng con lòng tin sâu xa để chúng con tin mai ngày chúng con cũng được sống lại hiển vinh.

Xin Mẹ Maria hồn xác lên trời chuyển thay cầu giúp cho chúng con để chúng con biết xa lánh tội lỗi và sống kết hợp với Chúa luôn mãi .

Xin Mẹ ban cho chúng con biết mau mắn nói lời xin vâng tuân theo thánh ý Chúa trong đời sống của chúng con .

Lm.Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT