Các Kinh Cầu Đức Mẹ Pontmain

ducmeĐc M Hin Ra năm 1871 Ti Pontmain, Nưc Pháp

Ngày 4 tháng 8 năm 1870 quân Phổ vượt biên giới tràn vào Pháp và bắt Hoàng đế Napoleon 3 tại trận. Tại Paris, các phe chống đối truất phế vua cách khiếm diện. Ngày 16 tháng 1 năm 1871, quân Phổ tiến tới vùng Brittany, cách Paris khoảng 250 cây số. Các thị trấn Laval và xóm Pontmain chỉ 15 cây số, dân chúng sống trong lo âu phập phồng.

Gần 6 giờ chiều ngày 17 tháng 1 năm 1871, tại nông trại của ông Cesar Barbadette ở xóm Pontmain, thuộc thị xã Laval. Bà Detais tới báo tin anh August Friteau (cùng mẹ khác cha), cho ông Cesar đang giúp hai con là Eugène Barbadette (12 tuổi) và Joseph (10 tuổi) đang làm bài. Eugène chạy ra ngoài nhìn về phía bầu trời có chiến tranh. Bỗng Eugène chợt thấy một phụ nữ đẹp đứng trên nóc nhà, Eugène nghĩ là điềm báo anh mình tử trận, nhưng sau cậu đổi ý nghĩ vì thấy bà đẹp mỉm cười. Cậu gọi mọi người trong nhà ra coi, nhưng Cesar và Detais không thấy gì, chỉ có Joseph trông thấy bà đẹp và cao lớn đứng trên nóc nhà. Hai cậu thích thú trao đổi với nhau về những gì các cậu nhìn thấy.

Eugène tả lại: – Bà có khuôn mặt trái xoan, bà nở một nụ cười tươi trên môi. Bà mặc áo dài xanh dương đậm rộng và không có dây lưng. Trên áo điểm những sao vàng lóng lánh. Chân mang hài cùng màu với áo và có viền kim tuyến. Bà đội khăn choàng màu đen, phủ một phần trên trán, che mái tóc và hai tai phủ xuống qua vai. Trên khăn choàng là chiếc mão vàng cẩm kim cương.

Tiếng nói lạ lùng ấy làm lối xóm để ý. Bà Victoria bảo con đọc kinh rồi nhìn theo, bà cũng vẫn không thấy gì. Bà lùa các con vào nhà, nhưng mắt hai cậu vẫn ngoái nhìn theo. Ăn cơm xong, hai cậu lại chạy ra nhìn, thì bà đẹp vẫn đứng đó. Hai cậu diễn tả:

– Bà đẹp có tầm vóc như Sơ Vitaline.

Bỗng ông Cesar cho gọi Sơ tới. Sơ cũng không thấy gì. Sơ về nhà gọi Jeanne Marie và Francoise Richer (cỡ 11 tuổi) tới mà không cho biết hiện tượng lạ. Hai cô nhỏ này đều đồng thanh nói: – Bà đẹp mặc áo xanh đính những ngôi sao vàng lóng lánh.

Y như hai cậu trai đã nói. Sơ đã nhận ra đó là một thị kiến mà chỉ mấy đứa bé mới nhìn ra. Sơ chạy về báo cho cha sở rồi chạy ra nơi có thị kiến, sơ qùy phập xuống lần hạt. Từ lúc này thị kiến thay đổi lần lần.

Eugène kể: – Một thánh giá đỏ xuất hiện trên áo bà đẹp nơi trái tim. Bà ôm Thánh Giá áp vào ngực. Bà đứng trong một vòng sáng bầu dục và các vì sao bên ngoài vòng sáng bắt đầu di chuyển sắp thành hai hành dưới chân bà đẹp. Lúc này các ngôi sao trên áo cũng thêm nhiều hơn…

– Bà đẹp giơ hai tay lên quá tầm vai, lòng bàn tay hướng ra ngoài. Kế đến một mặt phẳng rộng màu trắng hiện ra dưới chân bà đẹp và bầu sáng hình bầu dục. Bà đẹp đưa tay viết chữ rất đẹp trên nền đó – “Mais priez mes enfants” – Nhưng các con phải cầu nguyện. “Dieu vous exaucera en peu de temps” – Thiên Chúa sớm nhận lời cầu nguyện của các con. Khi câu này hiện lên, Thánh Giá nơi ngực bà đẹp tăng kích thước và Đức Mẹ lấy tay áp Thánh Giá vào ngực. – “Mon fils se lai sse toucher” – Con của mẹ xúc động. Thánh Giá biến đi khi câu này xuất hiện.

Đức Mẹ đưa tay ra và một ngôi sao di chuyển lần lượt thắp sáng 4 cây nến, rồi đến đậu trên mão nơi đầu Đức Mẹ. Sau khi 4 cây nến được thắp sáng, Đức Mẹ hạ tay xuống và hai Thánh Giá nhỏ màu trắng xuất hiện trên hai vai Đức Mẹ. Một tấm khăn voan màu trắng lớn từ từ bay lên che khuất dần dần từ chân Đức Mẹ trở lên, cuối cùng chỉ còn khuôn mặt với nụ cười nhìn xuống các em được thị kiến. Sau cùng mặt Đức Mẹ cũng biến mất.

Thấy các em im lặng, cha sở hỏi: – Các con còn nhìn thấy Đức Mẹ chứ ?

Các em đồng thanh đáp: – Thưa cha, không ạ. Đức Mẹ biến đi rồi.

Mấy ngày sau tin này lan đồn ra khắp nước. Đến chiều ngày 17 tháng 1 năm 1871, quân đội Đức không tiến vào được thị trấn Laval vì tướng Schmidt chỉ huy quân đội Phổ nói:

– Bị Đức Bà không rõ hình hiện lên trên nền trời cản đường tiến quân.

Ngày 2 tháng 2 năm 1875, Đức Giám Mục Wicart, Giáo Phận Laval nói:

– Chúng tôi nhìn nhận rằng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội đã thực sự hiện ra với Eugène, Barbadette, Joseph Barbadette, Francoise Richer, Jeanne Marie Lebosse tại xóm Pontmain. Chúng tôi, hết lòng tùng phục, và phán quyết của Đức Thánh Cha, Trung Tâm kết Hiệp và đầu não của toàn thể Giáo Hội.-     Đại Thánh Đường được khởi đầu xây dựng trên phần đất nông trại của gia đình Barbadette vào năm 1872.

 Các Kinh Cầu Đức Mẹ Pontmain

  1. Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần . Amen 

Hát Kinh Cầu xin Chúa Thánh Thần

1 – Cầu xin Chúa Thánh Thần. Người thương thăm viếng hồn con. Đem xuống cho con hồng ân chan chứa. Trau dồi cho đáng ngôi thánh đường

ĐK : Nguyện xin Chúa Ngôi Ba. Đoái nghe lời con thiết tha. Tình thương mến ấp ủ con ngày đêm. Nhuần thấm xác hồn tràn lan ơn thiêng.

2- Cầu xin Chúa Thánh Thần. Người ban cho trí hồn con. Ơn biết khôn ngoan tìm theo chân lý. Xa điều gian dối luôn trung thành. 

  1. Lời nguyện :

Lạy Đức Mẹ Pontmain, chúng con quây quần bên Mẹ, xin dâng lên Mẹ chuỗi Mân côi hôm nay, để tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho chúng con có Chúa Giêsu và Mẹ, xin Mẹ giúp dẫn đưa mọi người trở về bên Chúa, cứu giúp những người đang đau yếu bệnh tật, những người hấp hối, và mọi nhu cầu hồn xác của mỗi người chúng con. Amen 

  1. Lần chuỗi Mân côi 
  1. Kinh Lạy Nữ Vương

Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành, làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy, thân lạy Mẹ ! Chúng con, con cháu E-và ở chốn khách đầy kêu đến cùng Bà, chúng con ở nơi khóc lóc than thở kêu khẩn Bà thương. Hỡi ôi ! Bà là Chúa bầu chúng con, xin ghé mắt thương xem chúng con. Đến sau khỏi đày, xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ. Ôi khoan thay, nhân thay, dịu thay, Thánh Maria trọn đời đồng trinh. Amen.

Lạy Rất thánh Ðức Mẹ Chúa Trời, xin cầu cho chúng con.

Ðáng chịu lấy những sự Chúa Kitô đã hứa.

5.       Lạy Cha,/ Con một Cha đã sắm sẵn cho chúng con/ phần thưởng cứu rỗi đời đời,/ bởi công Người đã sống,/ đã chết và đã sống lại. Nay chúng con kính nhớ các mầu nhiệm ấy/ trong phép Rất Thánh Môi Khôi Ðức Trinh Nữ Maria,/ thì xin Cha ban cho chúng con được bắt chước gương lành/ tích chứa trong các mầu nhiệm ấy,/ và lãnh phần thưởng hứa ban./ Nhờ Ðức Giêsu Ki-Tô,/ Chúa chúng con.   Amen
  1. Lạy Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, xin bảo vệ chúng con nơi trận chiến và chống lại sự qu quyệt, cùng những cạm bẩy của ma quỷ. Chúng con khẩn cầu xin Chúa hãy trừng phạt chúng. Ôi Tổng Lãnh của đạo binh thiên đàng, qua quyền năng của Thiên Chúa, xin đẩy lui quân Satan vào hỏa ngục và tất cả quỷ thần đang lảng vảng trên thế giới tìm cách làm hư hại các linh hồ Amen.”
  1. CU NGUYỆN THEO Ý ÐỨC THÁNH CHA:

KINH LẠY CHA, KÍNH MỪNG, SÁNG DANH. 

  1. KINH DÂNG MÌNH CHO TRÁI TIM VN SẠCH MẸ MARIA

Lạy Đức Nữ Đồng Trinh Maria, Mẹ Thương Xót, Nữ Vương Trời Đất, Nơi ẩn náu của tội nhân, là những người thuộc về phong trào của Mẹ, chúng con xin dâng mình cho Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ cách riêng. Bằng việc dâng mình này, chúng con chủ yếu sống với Mẹ và nhờ Mẹ, tất cả những bổn phận / chúng con đã lãnh nhận khi chịu phép Rửa tội.

Chúng con thề hứa sẽ trở lại cuộc sống nội tâm, mà Phúc Âm cấp bách đòi hỏi. Việc trở lại này sẽ giải thoát chúng con, khỏi những dính bén vào bản thân, những hòa giải dễ dãi với trần thế, để như Mẹ, chúng con có thể luôn luôn thực hành Thánh Ý Chúa Cha.

Ôi Mẹ rất dịu dàng thương xót, khi phó dâng đời sống và ơn gọi người Kitô hữu cho Mẹ, để sống theo chương trình phần rỗi của Mẹ, trong giờ quyết liệt của thế giới này, chúng con thề hứa sẽ sống theo ý Mẹ, nhất là tinh thần cầu nguyện và đền tạ mới, sốt sắng tham dự Thánh Lễ, và tham gia công việc tông đồ, hằng ngày đọc kinh Mân Côi, sống đời nhiệm nhặt theo Phúc Âm, nêu gương tốt cho mọi người về việc tuân giữ luật Chúa, và thực hành các nhân đức, nhất là nhân đức trong sạch.

Chúng con thề hứa sẽ hiệp nhất với Đức Thánh Cha, với Hàng Giáo Phẩm, và các Linh Mục, để thiết lập hàng rào ngăn chặn sự đối đầu đang lớn mạnh, chống lại Quyền Giáo Huấn của Giáo Hội, đe dọa chính nền tảng Giáo Hội.  Dưới sự che chở của Mẹ, chúng con muốn nên các Tông đồ hiệp nhất, cầu nguyện và yêu mến Đức Thánh Cha, hiện rất cần thiết. Chúng con nài xin Mẹ che chở Ngài cách riêng.Sau hết, chúng con thề hứa sẽ hết sức, dẫn đưa các Linh hồn mà chúng con tiếp xúc về việc sùng kính Mẹ.

Vì ý thức rằng nạn vô thần, đã gây nên đỗ vỡ đức tin cho nhiều người, tội phạm thánh đã xâm nhập vào Đền Thánh Chúa, sự dữ và tội lỗi đang càng ngày càng lan tràn khắp thế giới, với đầy lòng tin tưởng, chúng con cả dám nhìn lên Mẹ, nài xin và trông mong Mẹ, ban ơn phần rỗi cho mọi người. Lạy Đức Nữ Đồng Trinh Maria, Mẹ khoan nhân, thương xót và từ ái. Amen.

9-KINH CẦU CÙNG ĐỨC MẸ PONTMAIN

Ôi, Nữ Trinh Maria rất dịu hiền, khi hiện đến tại Pontmain , Mẹ đã nhắc nhở cho chúng con biết rằng : Sự cầu nguyện rất là quan trọng, Mẹ đã tăng thêm lòng tin cho chúng con, Mẹ đã đem đến cho chúng con sự bình an. Hôm nay, xin Mẹ khấn nhậm lời chúng con cầu khẩn và ban cho tâm hồn chúng con, cho gia đình chúng con, cho đất nước chúng con và cho mọi dân nước, sự bình an là hoa quả của công bằng, chân lý và tình thương. Xin Mẹ làm lớn lên trong tâm hồn chúng con lòng mong ước Sống Tin sâu sắc hơn, không nhận nhượng trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống chúng con, xin Mẹ giúp chúng con luôn cảm thông với kẻ khác và yêu thương họ thật lòng, vì Chúa và trong Chúa . Amen

  1. KINH CỦA CÁC GIA ĐÌNH CẦU CÙNG ĐỨC MẸ

     Lạy Đức Maria, Mẹ của Giáo hội, Mẹ của các gia đình. Noi gương Tổ tiên đã từng sùng kính Mẹ, chúng con xin hiến dâng gia đình chúng con cho Trái tim vô nhiễm Me, xin Mẹ hãy chiếm đoạt chúng con, và cầu Chúa chúc phúc cho mỗi ngày của cuộc sống chúng con, trong mọi niềm vui cũng như khi gặp Thánh giá, xin Mẹ bồi dưỡng niềm tin của chúng con và xin Mẹ giúp đỡ chúng con, để một ngày mai đây chúng con được ở gần Mẹ. Ôi Đấng là Ái nữ của Chúa Cha, Đấng là Mẹ của Con Thiên Chúa, Đấng đã được Thánh Linh thánh hiến, Đấng là Mẹ của Giáo hội. Xin giúp chúng con luôn sống hiệp nhất với Trái tim vô nhiễm của Mẹ bây giờ và mãi mãi . Amen. 

  1. KINH CẦU CHO BỆNH NHÂN

Mẹ Maria, Xin Mẹ hãy ở bên những bệnh nhân trên khắp thế giới, Bên những người đã bất tỉnh vào lúc này và sẽ chết,  Bên những người đang bước vào cơn hấp hối,  

Bên những người đã mất hết hy vọng được khỏi bệnh,  Bên những người đang rên xiết quằn quại trong đau đớn thế xác và tâm hồn, Bên những người không có khả năng để chạy chữa vì thiếu hụt tiền của,

Xin Mẹ hãy ở bên những người rất muốn bước đi mà phải nằm bất động, Những người đáng phải nằm mà phải chổi dậy để làm việc vì đói khát cơ cực và túng bấn,

Xin thương đến những người lăn lộn trên giường không tìm được một thế nghỉ dễ chịu, Những người phải thao thức trắng đêm trường,

Những người bị dằn vặt bởi bao lo âu của gia đinh túng quẫn, Những người mà bệnh tật đã buộc phải từ biệt những ước vọng, những dự tính hằng tha thiết,

Xin Mẹ hãy gần bên những người không tin vào cuộc sống vĩnh cửu,   Những người chỉ biết than thân trách phận,  Những kẻ bực tức và chửi rủa Thiên Chúa,

Những người không được diễm phúc nhận biết Đức Giêsu Kitô, Đấng đã bị bỏi trên Thập giá, và đã lãnh nhận vô vàn khổ đau và cái chết , như họ và cho họ. Amen

  1. HÁT BÀI KÍNH ĐỨC MẸ

NGUỒN CẬY TRÔNGHoàng Vũ

  1. Mẹ ơi bao người lạc bước lưu đầy ngày tháng chơi vơi như thuyền nan giữa khơi, đoàn con xin Mẹ, Mẹ hãy thương tình dìu dắt con thơ qua hiểm nguy cõi trần.

   ÐK: Mẹ nguồn cậy trông, chưa thấy ai xin Mẹ về không, hỡi Mẹ Thiên Chúa, xin hãy lắng nghe con nài van. Mẹ nguồn an vui, ôi Nữ Trinh là nguồn an vui, hết tình kêu khấn, con tin chắc Mẹ thương nhận lời.
   2. Và bao nhiêu người lạc bước trên đời, liều dấn thân đi trong vực sâu tối tăm, đoàn con xin Mẹ rọi ánh huy hoàng, nguồn sáng tin yêu, yêu Mẹ, tin Chúa Trời.
   3. Còn ai chưa về, Mẹ dắt đưa về, thờ Chúa cao sang cũng là Vua các vua, Mẹ ban cho được bền chí trung thành, thờ Chúa Ba Ngôi, ca tụng Mẹ suốt đời.

LINH HỒN TÔI
ĐK: Linh hồn tôi tung hô Chúa, tung hô Chúa (í,a) thần trí tôi mừng vui vời vợi trong Đấng Cứu chuộc tôi. Chúa đã dủ thương đoái nhìn phận hèn tôi tớ. Vì vậy đến muôn đời, sẽ khen tôi đầy ơn, sẽ khen tôi đầy phúc, sẽ khen tôi muôn đời, đến muôn đời, đến muôn đời.

1- Đấng toàn năng đã làm cho tôi những việc cao trọng Danh Người là Thánh. Lượng từ ái trải qua từ đời nọ đến đời kia, hằng bao bọc những ai kính sợ Người.
2- Chúa biểu dương sức mạnh oai phong tiêu diệt tơi bời những phường tự đắc, bọn quyền quý tự kiêu, Ngài triệt hạ khỏi tòa cao và nâng dậy những ai ở khiêm nhường.

Dưới Áo Mẹ Từ Bi

1-Mẹ từ bi, ngày nay con đến nép thân dưới áo Mẹ lành che khuất bao u buồn nơi khóc than. Đời con đang sống giữa ba đào trong nguy biến, xin Mẹ dắt dìu con qua khỏi nơi nguy nan.
ĐK: Ôi, Maria! Ôi Mẹ từ bi lân tuất! không sợ ba thù con nép dưới áo Mẹ từ nhân, Mẹ coi con khỏi trước ba thù đang khuây khuất, đưa về Thiên Đàng cùng Mẹ hưởng phúc thanh nhàn.
2-Ôi, Mẹ ơi! đời con bao năm tháng qua kiếp sống phong trần đây đó bao lần tình Mẹ vắng xa, rồi con yếu đuối, ngã trên đường gai dương thế, xin Mẹ dắt dìu con vui bước đi theo Mẹ.
3-Con cầu xin Mẹ ban muôn ơn xuống cho non nước đồng bào con sống an vui tự do ấm no, tình mẹ gieo rắc khắp trên VN yêu dấu, muôn người dân Việt cùng yêu mến nhau trong Mẹ.

KÌA AI

  1. Kìa ai dong duổi đường gió bụi, gánh sầu thương mệt mỏi hai vai. Về đây nấp bóng Sao Mai, về đây quên lãng những ngày truân chuyên.
  2. Kìa ai thiếu vỗ về người mẹ, tháng ngày trôi lặng lẽ cô liêu. Về đây Mẹ sẽ thương yêu, về đây Mẹ sẽ ban nhiều ơn thiêng.
    3. Kìa ai mê mải tìm hoan lạc, những ngày đêm thổn thức băn khoăn. Về đây ngỏ hết tâm can, về đây Mẹ có muôn ngàn yêu thương.
  3. Kìa ai sống mãi trong do dự, kiếp trần gian lữ thứ đau thương. Về đây nấp bóng Trinh Vương, về đây hưởng phúc Thiên đàng yên vui.
  4. Kìa ai cô quả không hy vọng, kiếp trần gian lạc lõng hôm mai. Về đây trông sẽ yên vui, về đây đau đớn chôn vùi mồ quên.
  5. Kìa ai say đắm trong muôn tội, tâm hồn đang lạc lối Thiên cung. Về đây thống hối lỗi chung, về đây Mẹ sẽ rửa lòng sạch trong. 
  1. Kinh Cám ơn và Trông Cy
  2. Con cám ơn Ðức Chúa Trời là Chúa lòng lành vô cùng, chẳng bỏ con, chẳng để con không đời đời mà lại sinh ra con, cho con được làm người, cùng hằng gìn giữ con, hằng che chở con, lại cho Ngôi Hai xuống thế làm Người chuộc tội chịu chết trên cây Thánh Giá vì con, lại cho con được đạo Thánh Ðức Chúa Trời, cùng chịu nhiều ơn nhiều phép Hội Thánh nữa, và đã cho phần xác con ngày hôm nay được mọi sự lành; lại cứu lấy con kẻo phải chết tươi ăn năn tội chẳng kịp. Vậy các Thánh ở trên nước Thiên Ðàng cám ơn Ðức Chúa Trời thể nào, thì con cũng hợp cùng các Thánh mà dâng cho Chúa con cùng cám ơn như vậy. Amen.
  3. Chúng con trông cy rất thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin ch chê ch b lời chúng con nguyện, trong cơn gian nan thiếu thốn, Đức Nữ Đồng Trinh hiển vinh sáng láng.

Thưa: Hng cha chúng con cho khi mi s d. Amen.

– Lạy rất thánh Trái tim Đức Chúa Giêsu.
Thưa: Thương xót chúng con.

–  Lạy Trái tim cực thanh cực tịnh rất thánh Đức Bà Maria.

Thưa: Cu cho chúng con.

–   Lạy ông Thánh Giuse là bạn thanh sạch Đức Bà Maria trọn đời đồng trinh.

Thưa:  Cu cho chúng con.

–   Lạy Các Thánh tử đạo Việt Nam.

       Thưa: Cu cho chúng con.

–    Nữ Vương ban sự bình an.

       –Thưa: Cu cho chúng con.

   –  Chúng con cy vì danh Chúa nhân t, cho các linh hồn được lên chốn nghỉ ngơi.

Thưa: Hng xem thy mt Đc Chúa Tri sáng láng vui vẻ vô cùng. Amen.

– Nhân Danh Cha , và Con, và ThánhThần. Amen

SUY NGM CÁC MU NHIM: 

  1. NĂM S VUI

Th Nht thì ngm:  Thiên Thần truyền tin cho Ðức Bà chịu thai.  Ta hãy xin cho được ở khiêm nhường.

Th hai thì ngm: Ðức Bà đi viếng bà Thánh Isave. Ta hãy xin cho được lòng yêu người.

Th ba thì ngm: Ðức Bà sinh Ðức Chúa Giêsu nơi hang đá. Ta hãy xin cho được lòng khó khăn.

Th bn thì ngm:  Ðức Bà dâng Ðức Chúa Giêsu trong đền thánh. Ta hãy xin cho được vâng lời chịu lụy.

Th năm thì ngm: Ðức Bà tìm được Ðức Chúa Giêsu trong đền thánh. Ta hãy xin cho được giữ nghĩa cùng Chúa luôn. 

  1. NĂM S SÁNG

Th nht thì ngm: Đức Chúa Giêsu chịu Phép Rửa tại sông Gio-đan. Ta hãy xin cho được sống đẹp lòng Đức Chúa Trời.

Th hai thì ngm:  Đức Chúa Giêsu làm phép lạ hóa nước thành rượu tại Cana. Ta hãy xin cho được vững tin vào quyền năng của Đức Chúa Trời.

Th ba thì ngm:  Đức Chúa Giêsu rao giảng Nước Trời và ơn thống hối. Ta hãy xin cho được ơn cải sửa tâm hồn.

Th bn thì  ngm:  Đức Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor. Ta hãy xin cho được lắng nghe Lời Người.

Th năm thì  ngm: Đức Chúa Giêsu lập Phép Thánh Thể. Ta hãy xin cho được siêng năng rước Mình Máu Thánh Người 

  1. NĂM S THƯƠNG

Th nht thì ngm: Ðức Chúa Giêsu lo buồn đỗ mồ hôi máu. Ta hãy xin cho được ăn năn tội nên.

Th hai thì ngm: Ðức Chúa Giêsu chịu đánh đòn. Ta hãy xin cho được hãm mình chịu khó bằng lòng.

Th ba thì ngm: Ðức Chúa Giêsu chịu đội mạo gai. Ta hãy xin cho được chịu mọi sự sỉ nhục bằng lòng.

Th bn thì ngm:  Ðức Chúa Giêsu vác cây thánh giá. Ta hãy xin cho được vác thánh giá theo chân Chúa.

Th năm thì ngm: Ðức Chúa Giêsu chịu chết trên cây thánh giá. Ta hãy xin đóng đinh tính xác thịt vào thánh giá Chúa. 

  1. NĂM S MNG

Th nht thì ngm:  Ðức Chúa Giêsu sống lại.  Ta hãy xin cho được sống lại thật về phần linh hồn.

Th hai thì ngm: Ðức Chúa Giêsu lên trời. Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời.

Th ba thì ngm: Ðức Chúa Thánh Thần hiện xuống. Ta hãy xin cho được lòng đầy dẫy mọi ơn Ðức Chúa Thánh Thần.

Th bn thì  ngm: Ðức Chúa Trời cho Ðức Bà lên trời. Ta hãy xin ơn chết lành trong tay Ðức Mẹ.

Th năm thì ngm: Ðức Chúa Trời thưởng Ðức Mẹ trên trời. Ta hãy xin Ðức Mẹ phù hộ cho ta được thưởng cùng Ðức Mẹ trên nước thiên đàng.

 

Đức Mẹ Pontmain Thánh du ở Hoa Kỳ

Đài Phát thanh Lòng Chúa thương xót xin thông báo về Đức Mẹ Pontmain Thánh du .

Mẹ hiện ra tại Pontmain, nước Pháp năm 1871, và Mẹ dạy cầu nguyện để chấm dứt chiến tranh. Xin vào trang website: radioltxc.org để tìm hiểu thêm.
Đức Mẹ Pontmain Thánh du đã qua Virginia , gia đình nào muốn đón Đức Mẹ, xin gọi cho chị Nguyễn Phượng số phone 703 415 6549 hoặc chị Lan Chi sổ phone 405 973 6348 .

Hiện nay Đức Mẹ đang ở Maryland, xin liên lạc chị Thu Hải 240-602-2658 hay Thanh Hương 240-274-1193

Xin theo dõi thường xuyên để biết hành trình lâu dài của Đức Mẹ đến các tiểu bang khác của Hoa Kỳ

**************************

Đức Bà Hy Vọng Pontmain

4/6/2017 6:57:35 PM

Sau khi hiện ra tại La Salette – Fallavaux, gần làng Corps ngày 19 tháng 9 năm 1846, ngày 17 tháng giêng năm 1871, tức 25 năm sau, Đức Trinh Nữ Maria lại hiện ra tại làng Pontmain, tỉnh Mayenne, vùng tây bắc nước Pháp. Đức Mẹ đã hiện ra trong bối cảnh của cuộc chiến giữa quân Phổ và quân Pháp. Các đạo binh của Pháp thất bại khắp nơi. Thành phố Metz, pháo đài quan trọng nhất của Âu châu, đã bị bao vây hồi tháng 8 năm đó, và vào tháng 10 đã phải đầu hàng quân Phổ.

Thủ đô Paris bị bao vây và dân chúng chết vì đói. Đệ Nhị Đế Quốc đã sụp đổ và các đội quân Phổ và đồng minh chiếm một phần lớn nước Pháp. Ngày 12 tháng giêng năm 1871 quân Phổ có mặt tại thành phố Mans và tiến về phía tây, tức tiến về Mayenne. Dân chúng vô cùng lo sợ vì nhiều chồng con của họ đã tòng quân và không có tin tức gì. Ngoài chiến tranh ra, lại còn có một trận dịch thương hàn và đậu mùa hoành hành, khiến cho người dân rất khổ sở. Trong hoàn cảnh tuyệt vọng ấy họ quay về với tôn giáo và cầu xin Chúa cứu giúp.

duc meĐêm ngày 17 tháng giêng năm 1871 tuyết rơi phủ kín làng Pontmain. Hai chú bé Eugène 12 tuổi và Joseph Barbedette 10 tuổi giúp cha chất các cây kim tước vào trong lẫm. Eugène ra khỏi lẫm để nhìn thời tiết. Chính lúc đó chú bé kêu lên là thấy “một Bà đẹp” hiện ra trên mái nhà đối diện. Bà mặc một chiếc áo có đầy sao nhìn chú bé và mỉm cười, hai tay giang ra. Nghe chú bé kêu dân làng chạy tới coi và các trẻ em khác cũng tuyên bố là chúng trông thấy “Bà đẹp”. Chúng bảo đảm là có một quả cầu hình trái xoan mầu xanh với 4 cây nến tắt đến vây quanh bà. Cha Guérin, cha sở Pontmain, liền tổ chức một buổi canh thức cầu nguyện chung quanh các trẻ em. Trong khi cộng đoàn lần hạt Mân Côi và đọc kinh Magnificat, thì các trẻ em nói rằng có một băng rôn giữa trái cầu hình xoan và mái nhà, trên đó có ghi sứ điệp của Bà đẹp: “Các con hãy cầu nguyện. Thiên Chúa sẽ nhận lời các con trong ít thời gian. Con Ta sẽ để cho mình cảm động”.

** Trong khi cộng đoàn cầu nguyện, thì các trẻ em bỗng trở nên rất buồn. Chúng giải thích rằng gương mặt của Đức Trinh Nữ cũng đã trở nên buồn bã, và một cây thánh giá lớn mầu đỏ có Chúa Giêsu đẫm máu hiện ra trước Mẹ. Trên đỉnh thánh giá có một bảng mầu trắng mang tên Giêsu Kitô. Các trẻ em giải thích rằng bà cầm thánh giá trên tay và giơ nó cho các em, trong khi một ngôi sao thắp sáng lên từng cây nến một, cho tới lúc đó vẫn tắt.

** Sau đó khi cha sở bắt hát thánh thi “Kính chào Mẹ là Sao Biển”, các trẻ em miêu tả rằng thánh giá biến mất, Đức Trinh Nữ lấy lại dáng điệu ban đầu, hai tay giang ra hướng về chúng, có một thánh giá nhỏ mầu trắng nhô lên trên mỗi vai, và cảnh tượng được phủ một mảnh voan trắng trước khi biến mất. “Tất cả đã hết”, các em nói. Khi đó dân làng trở về nhà. Ngày 26 tháng giêng cuộc đình chiến được ký kết với quân Phổ. Vua Phổ được công bố là hoàng đế nước Đức. Dân chúng làng Pontmain và vùng phụ cận coi đó là một ơn của việc Đức Mẹ hiện ra, nhất là vì quân Phổ đã không tiến vào Laval. Thế là các tín hữu tuốn về hành hương Pontmain.

ĐC Casimir Wicart, Giám Mục giáo phận Laval, ra lệnh điều tra các vụ hiện ra. Chính Đức Cha đã đến hỏi bốn trẻ em đã tuyên bố là trông thấy Đức Mẹ: hai anh em Joseph và Eugène Barbedette, Françoise Richer và Jeanne Marie Lebossé. Theo tiến trình thường tình cuộc điều tra tiến hành kỹ lưỡng nhưng nhanh chóng kết thúc ngày mùng 2 tháng 2 năm 1872. ĐC Wicart công nhận tính cách đích thực  việc Đức Mẹ hiện ra và cho phép  tôn sùng Đức Mẹ Pontmain. ĐC tuyên bố như sau: “Chúng tôi xét rằng Đức Trinh Nữ Maria vô nhiễm, Mẹ Thiên Chúa, đã thật sự hiện ra ngày 17 tháng giêng năm 1871 với Eugène và Joseph Barbedette, Françoise Richer và Jeanne Marie Lebossé trong thôn Pontmain”.

Sau khi việc Đức Mẹ hiện ra được giáo quyền công nhận, cha Guérin, cha sở làng Pontmain, bảo đảm việc tiếp đón các tín hữu hành hương cùng với các nữ tu của trường học giáo xứ. Nhưng sau khi ngài qua đời năm 1872, ĐGM mời các cha thừa sai Hiến sinh Đức Mẹ Vô Nhiễm linh hoạt các cuộc hành hương đầu tiên tới Pontmain và giảng trong vùng.

ĐC Wicart đặt viên đá đầu tiên xây vương cung thánh đường Đức Bà Pontmain ngày 18 tháng 6 năm 1873, nhưng ngài qua đời ít lâu sau đó. Các Giám Mục kế vị tiếp tục công trình xây cất, và vương cung thánh đường được đã hoàn thành năm 1890, nhưng vì lúc đó giáo phận Laval không có Giám Mục, nên nhà thờ đã chỉ được Đức Cha Pierre Geay thánh hiến ngày 15 tháng 10 năm 1900. Ngày 21 tháng hai năm 1905 ĐGH Pio X nâng nhà thờ Đức Bà Pontmain lên hàng vương cung thánh đường. Trong các ngày 22 tới 24 tháng 9 năm 1908 nhà thờ được tuyên bố là Vương cung thánh đường “Đức Bà hy vọng Pontmain” trước sự hiện diện của 2 Tổng Giám Mục, 4 Giám Mục, 600 linh mục và 15.000 tín hữu. Năm 1964 các lễ nghi kỷ niệm 75 năm Đức Mẹ hiện ra đã do Đức Sứ Thần Toà Thánh Roncali chủ sự, sau này sẽ là ĐGH Gioan XXIII.

ducme** Vương cung thánh đường có các kính mầu rất đẹp được nhiều chuyên viên khác nhau làm từ năm 1874 tới 1998. Tín hữu có thể suy niệm với các cảnh diễn tả trên các kính mầu. Trong cung thánh nhóm kính mầu thứ nhất có các cảnh: thiên thần Gabriel truyền tin cho Đức Maria, Đức Maria thăm bà Elisabét, Chúa Giêsu sinh ra, các mục đồng thờ lậy Chúa Hài Nhi, các đạo sĩ thờ lậy Chúa Hài Đồng. Nhóm kính mầu thứ hai có các cảnh: dâng Chúa Giêsu vào Đền thở, trốn sang Ai Cập, Chúa Giêsu ở trong Đền thờ năm lên 12 tuổi, tiệc cưới làng Cana. Nhóm kính mầu thứ ba gồm các cảnh: Chúa Giêsu gặp Đức Mẹ trên đường lên núi Sọ, Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với Mẹ Maria, Chúa Thánh Thần hiện xuống, Đức Mẹ ngủ, Đức Mẹ hồn xác lên Trời, Đội triều thiên cho Đức Mẹ. Nhóm kính mầu thứ bốn gồm các cảnh: Sáng thế và cuộc tạo dựng mới, các vua tổ phụ của Chúa Giêsu, Đức Mẹ sinh ra, các thiên thần hát mừng, dâng Đức Mẹ vào Đền thánh, Đức Mẹ và Chúa Hài Nhi, Chúa Kitô vinh quang đang đọc sách, công bố tín điều Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội, ĐC Wicart dâng vương cung thánh đường cho Đức Mẹ, cảnh đặt viên đá đầu tiên.

Các kính mầu trong nhà nguyện Đức Bà gồm các cảnh tả lại cuộc đời thánh Giuse: báo mộng cho Giuse, đám cưới, Chúa Giêsu sinh ra, trốn sang Ai Cập, tìm thấy Chúa Giêsu trong Đền thờ, thánh Giuse canh giữ Thánh Gia, thánh Giuse thợ mộc, thánh Giuse qua đời, đội triều thiên cho thánh Giuse.

Các kính mầu trong nhà nguyện Thánh Thể gồm các cảnh: vua Đavít chơi hạc cầm, Chúa Giêsu và người đàn bà xứ Samaria, Mục Tử Nhân Lành, ông Môshê cho nước vọt ra từ tảng đá, người lính đâm cạnh sườn Chúa Giêsu, Chúa Giêsu cho bà Maria Margarita xem Tim Ngài, tư tế Melkixêđê dâng bánh rượu, thánh Gioan tựa đầu vào ngực Chúa trong bữa Tiệc Ly, hai môn đệ làng Emmaus.

Các kính mầu của gian ngang vương cung thánh đường phiá nhà nguyện Thánh Thể, gồm các cảnh: kinh cầu Thánh Tâm, cuộc đời Chúa Giêsu, các dụ ngôn trong Phúc Âm, các dấu chỉ hiện ra.

Các kính mầu gian ngang phía nhà nguyên Đức Mẹ, gồm các cảnh: kinh cầu Đức Bà, cuộc đời Chúa Giêsu, các dấu chỉ hiện ra.

Các kính mầu của các nhà nguyện bên cạnh phiá Đông gồm: nhà nguyện Mân Côi, thánh Phêrô, nhà nguyện thánh Phanxicô thành Assisi,

Các kính mầu nhà nguyện bên cạnh phía Tây gồm nhà nguyện thánh Anna, Chúa Kitô vinh quang, nhà nguyện Phong trào Thánh Thể.

Sự kiện Đức Mẹ hiện ra và được giáo quyền công nhận khiến cho làn sóng tín hữu kéo nhau hành hương tới Pontmain gia tăng nhanh chóng. Trong ngày kỷ niệm một năm Đức Mẹ hiện ra ngày 17 tháng giêng năm 1872 đã có 8.000 người hành hương tuốn về Pontmain.

** Năm 1903 các cha dòng Hiến sinh Đức Mẹ Vô Nhiễm bị trục xuất khỏi Pháp sau khi có đường lối chính trị tách biệt các Giáo Hội và Nhà nước. Các cha đã chỉ trở lại Pontmain sau Đệ Nhất Thế Chiến. Trong suốt thời gian này chính cha sở Pontmain lo lắng tiếp đón các khách hành hương. Các tu sĩ Hiến sinh Đức Mẹ Vô Nhiễm hiện vẫn tiếp tục công tác tiếp đón và linh hoạt các đoàn hành hương.

Liên quan tới bốn trẻ em đã được trông thấy Đức Mẹ hiện ra thì hai bé trai Joseph và Eugène sau này vào chủng viện và trở thành cha sở. Françoise Richer trở thành bà quản gia giúp việc cho cha Eugène Barbedette, trong khi Jeanne Lebossé thì vào dòng tu.

Nữ công tước De Pange, con gái công tước De Broglie, kể rằng bà mẹ của bà nghi ngờ không tin việc Đức Mẹ hiện ra. Vì lập gia đình với một nhà chính trị nên bà không tin các hậu quả chính trị, mà xem ra biến cố Đức Mẹ hiện ra đã khơi dậy. Nhưng bà đặc biệt bị đánh động bởi kiểu diễn tả Đức Mẹ. Có dip nói chuyện với cha Eugène Barbedette bà hỏi cha bức tượng nhỏ đó có thực sự giống hình Đức Mẹ cha đã trông thấy không. Dù cha luôn luôn trả lời là giống, nhưng bà không tin, trong khi cô con gái thì tin, và cô viết trong nhật ký của mình: “Chắc chắn là cha Eugène Barbedette chân thành và vô vị lợi, khi ngài nói về thị kiến trên trời đã soi sáng tuổi trẻ của ngài… Ngài đã chỉ là một đứa bé nhà quê nghèo nàn…

Ngài đã chỉ biết đọc một chút, cũng như các đứa trẻ khác đã trông thấy Đức Mẹ như ngài. Chúng đã đánh vần từng chữ một: “Các con hãy cầu nguyện… Thiên Chúa sẽ nhận lời các con trong vòng ít lâu nữa…” Nhưng các trẻ em lưỡng lự trên các chữ tiếp theo và đã đọc “Con Ta mệt mỏi”, điều này xem ra ít rõ ràng và gây gương mù gương xấu cho các người đạo đức đứng chung quanh các trẻ em được thị kiến. Các em đã phải đánh vần nhiều lần trước khi đọc hết cả câu: “Con Ta để cho mình cảm động”…Cho dù xem ra các sự kiện có ngây ngô và ít tin được, nhưng phải thừa nhận rằng cha Barbedette đã cho người ta cảm tưởng là một người hoàn toàn có ý thức và có lý trí, và không có dấu hiệu nào của việc loạn óc”.

Trong các năm 1900 có ai đó đem một tượng Đức Mẹ Pontmain về Libăng, và để tại làng Béchouate. Khi Đức Mẹ hiện ra tại làng này trong các năm 1976 và 2004, bức tượng này, mà bản gốc đã bị lãng quên, được dùng để yểm trợ óc tưởng tượng của tín hữu.

Cha Claude Poussier, giám đốc đền thánh Đức Bà Pontmain, sẽ nhắc lại nguồn gốc bức tượng này, khi ngài đến hành hương tại Béchouate hồi tháng giêng năm 2005. Nhân dịp đó sứ điệp của Đức Bà Pontmain đã được dịch ra tiếng A rập và được khắc trên đền thánh Béchouate như tín hữu hành hương có thể trông thấy hiện nay.

(Linh Tiến Khải, RadioVaticana 05.04.2017)

Quyền Năng Chuỗi Mân Côi

victoyCHƯƠNG IV.  QUYỀN NĂNG CỦA CHUỖI MÂN CÔI

  1. QUYỀN NĂNG CỦA CHUỖI MÂN CÔI TRÊN CON NGƯỜI

Roberta là một kỷ thuật viên chụp hình Xray, là một người mẹ bốn con. Bà là người viết mục “Lại một ngày” cho một tờ báo. Một hôm bà viết bài “lân chuỗi mân côi để gắn bó với nhau”. Cũng giống như cha Peyton đã nói “gia đình nào đọc kinh với nhau sẽ gắn bó với nhau”. Bài viết của bà bắt đầu thế này:

“Tối nay, con gái 8 tuổi của tôi, Laura, và tôi làm một việc khác thường. Mẹ con tôi lần chuỗi mân côi với nhau, từ 7:35 tới 7:55, tuyệt quá. Mẹ con tôi lần chuỗi mùa mừng, và cũng thật vui mừng. Có lúc đang lần chuỗi, mẹ con tôi mĩm cười với nhau. Chúng tôi mĩm cười rồi lại mĩm cười, hai trái tim hòa hợp.

Đã hai ngày rồi, vậy là mẹ con tôi đã lần chuỗi được ba ngày liên tục, chuỗi mân côi gắn bó mẹ con tôi lại với nhau. Tôi cảm tạ và tận hưởng giây phút này. Cầu nguyện giúp chúng ta nhận thức được hiện tại. Những việc chúng ta làm đều có ảnh hưởng đến tương lai, như ăn uống ngủ nghỉ…Quyết định nhỏ cũng có thể có ảnh hưởng lớn như quyết định lớn. Cầu nguyện mở mang trí óc và tư tưởng của chúng ta

Ngày nay mọi gia đình cần có keo dán để dính gia đình lại với nhau. Roberta nói rằng cầu nguyện là loại keo dán gia đình. Mẹ kêu gọi chúng ta lần chuỗi mân côi, vì mẹ muốn gia đình phải gắn bó với nhau như một gia đình.

Tôi thường làm việc động viên cho phong trào lần chuỗi mân côi chống phá thai. Năm ngoái, tháng 5 năm 1989, một người phụ nữ viết bài này:

Kính thưa cha Shamon

Xin Chúa chúc lành cho cha vì cha quảng bá việc lần chuỗi mân côi. Quyền năng của chuỗi mân côi sẽ giúp chùng ta sữa chữa những lầm lạc. Và con nghĩ thật tuyệt vời khi cha quảng bá chuỗi mân côi chống phá thai.

Chuỗi mân côi đã đem con trở lại sau 15 năm. Chuỗi mân côi cũng giúp đem người chồng quá cố người Do Thái của con về công giáo. Chồng con nay đã được yên nghĩ nhưng con rất vui mừng vì chồng con rất yêu mến Đức Mẹ, ông gọi là Mẹ người Do Thái. Chồng con trở lại đạo Công Giáo đúng là một phép lạ. Chuỗi mân côi cúng đem em gái của con trở về với Chua sau 10 năm. Mẹ đã dùng chuỗi mân côi giúp chúng ta suy niệm về cuộc đời của Chúa, để đem chúng ta về với Chúa qua thống hối và Thánh Thể Chúa.

Con đồng ý với cha, chuỗi mân côi là vũ khí chồng phá thai. Vì thế xin Chúa giúp con lần ba chuỗi mỗi tuần để chống phá thai. Ở thành phố Sodus, nhìn ra hồ Ontario, sẽ thấy nhà thờ công giáo cổ kính. ĐGM đầu tiên của New York đặt tên cho nhà thờ là nhà thờ Rose of Lima để tưởng nhớ đến Rose Lummis, người đã tặng toà nhà cho giáo hội địa phương.

Rose theo Chúa ở tuổi 21. Với lòng nhiệt huyết của đức tin mới, cô đã cảm hóa được người mục sư tân giáo trở lại công giáo rồi trở thành linh mục, và là người đứng đầu giáo phận New York. Rose muốn trở thành nữ tu, nhưng sức khỏe không cho phép, cô sau đó là thành viên của nhóm Thánh Tâm Chúa và có khấn. Cô đã dùng hết cuộc đời để giúp đỡ những người khốn khổ

Rose rất yêu mến chuỗi mân côi, cô lần chuỗi mân côi mỗi ngày nơi công cộng vào lúc 3 giờ chiêu. Cuộc đời của cô đầy những cầu chuyện về chuỗi mân côi. Khi cô ao ước có được nhà thờ nhỏ và một linh mục cho khu làng nhỏ ở hồ Erie. Cô đã lần chuỗi mân côi mỗi ngày để cầu nguyện cho việc này. Và điều mà người ta tưởng không thể nào, đã trở thành sự thật. Khu làng ở hồ Erie đã có được một nhà thờ và một linh mục.

Rose không những làm việc ở Canada, cô còn làm việc ở miền nam, trung tâm của cô là ở miền bắc Carolina. Một hôm có một bác sĩ đến bảo cô hãy gởi một linh mục lên núi gặp một bệnh nhân đang hấp hối. Bệnh nhân là người khốn khổ ở nước Anh sang đây để mong được chữa bệnh lao phổi. Vì hôm ấy là chủ nhật, Rose biết rằng cha xứ đang ở Ashervile. Những ngày khác thì Rose biết hầu như không thể liên lạc được với cha. Vì cha đang cởi ngựa đi thăm giáo dân trong vòng 140 dặm xứ của cha. Nhưng chủ nhật, nên Rose đã đánh điện tín gấp cho cha. Cha nhận được điện tín ngày hôm sau và vội vã lên đường tàu lửa và rồi lên núi, nhờ một người trong vùng dẫn đường. Người bác sĩ đã để lại trái thông để chỉ đường lên chỗ người bệnh. Trải qua nhiều dặm đường, họ từ từ lên núi, họ tìm thấy dấu hiệu người bác sĩ để lại. Dấu hiệu dường như bị che khuất trong bụi. họ ngang qua một khu hoang vắng rồi đi xuống dốc, họ tìm được một cái ca-bin hoang dã. Họ mở cửa đi vào nhưng chẳng thấy ai, chỉ thấy hai cái giường xốc xếch trong một căn phòng trống rỗng. Cha xứ thầm nghĩ, chắc ông ta đã qua đời và mọi người đã đem ông ta đi chôn. Cha đi sang một phòng khác rồi reo lên “ Ôi Chúa cứu ông ta, ông ta đây rồi”. Họ tìm thấy người đàn ông khốn khổ. Ruồi bâu đầy trên khuôn mặt hốc hác của ông ta. Ông quá yếu nên chẳng có sức đuổi ruồi nữa. Ông ta nhận ra đó là một linh mục, ông gượng cười chào đón. “Con biết cha thể nào cũng đến”, ông phều phào khóc nhưng rất vui mừng vì biết rằng ông sẽ được lãnh các bí tích trước khi ra đi. Khi cha hỏi ông đã sắn sàng chưa? Ông cố hết sức nói, “con đã sắn sàng và muốn về với Chúa bây giờ” Cha ở lại đến chiều rồi miễn cường ra về.

Buổi sáng người đưa tin đển kịp trước lúc cha lên xe lửa, và báo tin rằng người đàn ông khốn khổ đã được Chúa gọi về tối hôm qua. Cha mượn được một con ngựa và vội vã trở lên núi. Cha đến nơi lức trưa. Những người ở đó nhìn cha tò mò, vì cha cưỡi ngựa không có yên, trông mệt mõi, nóng nực, và dơ dáy. Người đàn bà tiến đến với lời chào thân mật nói rằng “Bỏ ngựa vào chuồng đi rồi con sẽ cho nó ăn rơm”. Rồi bà mời cha vào nhà dùng cơm. Sau buổi cơm, họ đưa cha đến nơi nhà người chết. Họ đã mặc cho ông bộ quần áo đẹp, kính cẩn và thành tâm giống như ông là người thân của họ vậy. Cha rất cảm động, cha nhận thấy những người này rất tốt. Họ có thể chôn người không quen biết này không hòm và có thể dấu hết đồ sở hữu của ông.

Người đàn bà đem đến một túi da đựng đồ sở hữu của người không quen kia. Chẳng có gì cả, chỉ có cuốn sách cũ kỹ của thánh Francisco De Sale, thứ nọ thứ kia… Cha đưa mọi thứ lên cô người nhà xem.  Người đàn bà nói “phải có cái đồng hồ mới đúng, vì ông ta đeo sợi chuyền dây trên cổ, chắc là dây treo đông hồ, và ông quí hóa sợi dây đó lắm. Tôi tìm nhưng chẳng thấy đồng hồ gì cả.”

Cha nói, cho tôi xem sợi dây chuyền xem nào.

Bà đi vào phòng lấy ra cái hôp, rồi cẩn thận mở ra, lấy dợi dây đưa lên. Cha nhìn dợi dây chuyền đen đũi, đó là sâu chuỗi mân côi. Người đàn bà nói “ông ta quí hóa sợi dây này lắm”. Cha cung kính cầm sâu chuỗi mân côi “Hãy chôn sợi dây này với ông ta”. Rồi mọi người đến bên người chết, người đàn bà đeo sâu chuỗi mân côi lên cổ cho ông giống như nó là sợi dây trêo đông hồ vậy.

Tôi rất cảm động khi đọc câu chuyện này. Nó làm tôi thấy Mẹ làm mọi cách mặc cho bao trắc trở để bảo vệ những ai yêu mến chuỗi mân côi. Người đàn ông “Quí hóa nó lắm”, cái sâu chuỗi mân côi của ông. Không biết bao nhiêu lần ông đã cầu nguyện cùng chuỗi mân côi “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi này và trong giờ lâm tử Amen.” Mẹ đã đem linh mục đến để gặp người con này trước trong giờ lâm tử. Thật là một hồng ân. Khi Rose Lummis sắp chết, Delia, người viết về chuyện của Rose nói rằng “ Sâu chuỗi mân côi luôn đồng hành với với bà trong mọi lúc. Rose luôn lấy nó ra trong lúc trên tàu, đi bộ, lái xe… người ta luôn thấy sâu chuỗi giữa những kẻ tay của Rose. Rose luôn luôn lần chuỗi”  Một ngày nọ, bác sĩ Carlos về nhà lúc trời tối. Ông thấy mệt mõi và buồn ngủ, nhưng ông nhớ ra rằng ông chưa lần chuỗi. Ông luôn lần chuỗi mỗi ngày, nên ông đã trung thành bắt đầu lần chuỗi. Một con muỗi cứ vo ve quanh ông là ông phải lo ra nhiều lần.

Như được Mẹ soi sáng vì ông vâng lời và luôn trung thành lần chuỗi, ông bỗng nhận thức được rằng, con muỗi là vật đã lan truyền bệnh sốt rét. Sau này bác sĩ Carlos nỗi tiếng vì khám phá này. Ông đã chứng minh được học thuyết này. Ông đã dẫn đến kết luận điều mà hiều nhà khoa học đã nghiên cứu năm này sang năm khác. Khám phá này đã trải lối cho việc hoàn thành ống Panama.

Một nhạc sĩ người Úc đả nói rằng lúc tôi bị bí không viết được gì, tôi bắt đầu lần chuỗi mân côi. Không lâu sau, đầu óc tôi lai láng những cung nhạc, tôi chỉ ghi lại được có một phần nhỏ thôi

Federick Ozanan, người sáng lập ra hội từ thiện st Vincent De Paul. Lúc còn trẻ ông là người không tin Chúa. Một hôm ông vào một nhà thờ bên Pháp, nhà thờ vằng vẻ chẳng có ai, chỉ có một ông già quì trước bàn thờ lần chuỗi. Ông đến gần ông già này để nhìn rõ mặt thì ông nhận ra ông già đó là giáo sư Ampere của ông. Giáo sư Ampere này rất giởi về toán và vật lý. Giáo sư này đã khám phá ra điện từ và nhiều khám phá khác nữa đễ chúng ta có thể đánh điện tín. Thấy giáo sư Ampere lần chuỗi rất thành tâm làm cho Federick nhận thấy rằng, tôn giáo mà giáo sư Ampere tôn sùng hẳn phải là chân chính. Sau này Federick nói rằng chuỗi mân côi của giáo sư Ampere còn tác động mạnh hơn là những sách vở và giảng thuyết. Federick Ozanan đang được phong chân phước.

ĐGM của giáo phận MaryKoll, trong một bức thư gởi cho cha Paul nói rằng chuỗi mân côi đã giúp ngài tồn tại và an ủi ngài trong những ngày trong trại tù Trung Quốc: “Chuỗi mân côi đã nâng đỡ tôi trong suốt 12 năm tù. Tôi chẳng có sách đạo để đọc, cũng chẳng hòng mua được, nên chẳng dâng được thánh lễ cũng chẳng có sách kinh để đọc”

Trong tù, bị thiếu thốn là điều hẳn nhiên. Chẳng có gì ngoài không khí để thở và những bức tường trơ để ngắm thưởng. Thật là thảm thiết, không biết làm gì, chẳng được đi đâu, chỉ là buồn chán vô tận. Trong những tình trạng như thế thì làm gì đây? Đã thành thói quen nên câu trả lời của tôi cũng trở thành automatic, “thì lần chuỗi mân côi”. Có thể lần chuỗi mân côi trên 10 ngón tay, đâu nhất thiết phải có chuỗi hạt. Điều duy nhất cần có để lần chuỗi mân côi là thời gian. Bây giờ thì tôi có vô khối thời gian. Thay vì lo lắng cho mọi người không biết họ ra sao, sao không lần chuỗi mân côi cầu nguyện cho họ. Vật luôn đồng hành với tôi trong mọi nơi là chuỗi mân côi. Nó cho tôi những gì cần thiết nhất. Mười lăm mầu nhiệm mân côi cung cấp cho tôi cái nhìn hoàn toàn về tôn giáo của tôi. Lúc tôi thiếu thốn những phương tiện khác thì tôi quay về với chuỗi mân côi. Chuỗi mân côi luôn giúp tôi trong suốt thời gian trong tù

Một tướng lãnh trong thời chiến tranh thế giới lần thứ nhất tên là Marshall Foch. Mẹ của ông là bạn đồng hành của thánh Benedeth of Lourdes. Bà luôn lần chuỗi mân côi với thánh Benedeth ỏ trong động Massabielle. Bà dậy Marshall rất trung thành yêu mến Mẹ và chuỗi mân côi. Bà nói phải luôn lần chuỗi mân côi mỗi ngày. Đừng bao giờ bỏ lần chuỗi mân côi dù chỉ một ngày. Mỗi buổi tối hai mẹ con lần chuỗi với nhau.

Khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Marshall lãnh đạo đội quân của Pháp, tất cả các chiến công của ông đều rất oanh liệt vì ông rất trung thành lần chuỗi mân côi mỗi ngày. Khi ông chết, chuỗi mân côi đang ở trên tay ông. Trong tờ báo Chủ Nhật, tôi thấy mục về câu chuyện của một linh mục trở lại với ơn gọi. Linh mục này được trở lại với ơn gọi vì nhờ chuỗi mân côi. Cha William đứng trước cộng đồng của mình, và kể về chuyện bị mất đức tin và rồi lại được đức tin…

Ôi quyền năng của chuỗi mân côi, rất uy quyền. Không phải chỉ vì suy niệm về cuộc đời của Chúa trong 15 mầu nhiệm đã thay đổi cuộc đời của chúng ta, nhưng phải cộng thêm vì chuỗi mân côi là kinh nguyện của Mẹ nên Mẹ luôn cầu nguyện cùng chúng ta

Trong mỗi kinh Kính Mừng, chúng ta nói “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời…” Mẹ đã nhận lời và cùng cầu nguyện với chúng ta, vì thế Mẹ đã làm chuỗi mân côi rất uy quyền. Vì thế Mẹ có lần nói với cha Gobbi: “Con đã kêu cầu Mẹ cầu nguyện với con 50 lần. Mẹ đã nghe và cầu nguyện với con, vì thế lời cầu nguyện của con trở thành mạnh mẽ, vì Con của Mẹ không từ chồi Mẹ điều gì.”

Thánh Louis De Montforth viết thế này: Nếu chúng ta trung thành lần chuỗi mân côi sốt sắng mỗi ngày cho đến chết. Thì tôi chắc rằng ngay cả khi chúng ta có tội lỗi nhiều, chúng ta sẽ được vương miện vình quang không bao giờ phai tàn. Ngay cả khi chúng ta hầu như đã hư mất, ngay cả khi một chân của chúng ta đã ở trong địa ngục, ngay cả khi chúng ta đã bán linh hồn cho ma quĩ…không chóng thì chầy chúng ta sẽ được ơn ăn năn trở lại và linh hồn chúng ta được cứu. Nhưng hãy nhớ rõ điều tôi nói: “NẾU CHÚNG TA LẦN CHUỖI MÂN CÔI SỐT SẮNG MỖI NGÀY” Các thánh nói rằng lần chuỗi mân côi mỗi ngày là dấu hiệu được lên thiên đàng. Và những điều mà các thánh viết thì không sai

  1. QUYỀN NĂNG CỦA CHUỖI MÂN CÔI TRÊN CÁC QUỐC GIA

Mẹ luôn lập đi lập lại với chúng ta rằng hòa bình chỉ có thể đến nếu chúng tra trở về với Chúa bằng cách cầu nguyện, mà nhất là cầu nguyện bằng chuỗi mân côi. Nhưng còn rất nhiều người chẳng nghe Mẹ gì cả. Nghĩa là, nghe Mẹ thì hãy lần chuỗi, hành động mạnh hơn mọi lời nói. Mong rằng những điều dưới đây mà Mẹ đã làm ở bên Nhật, Úc, Brazil, Nga, và bên Mỹ, sẽ giúp tất cả mọi người công giáo bắt đầu lần chuỗi mân côi, và nhất là lần chuỗi mân côi cùng cả gia đình.

1)  Mẹ nói ở bên Nhật : Chuỗi mân côi của Hiroshima

Vào lúc 2:45 đêm tháng 8 ngày 6 năm 1945, một trái bom B-29 bắn ra từ quần đảo Tinian và thả trái bom nguyên tử đầu tiên trên đất Nhật. Vào 8 giờ 15 sáng, trái bom đã nỗ tan 8 khu phố từ nhà thờ Jesuit của Đức Mẹ Thiên Triệu ở Hiroshima. Nữa triệu người bị chết. Những gì còn lại trên những khu phố đó chỉ là đen tối, máu me, lửa bỏng, khóc than, lửa cháy, và những gì kinh khủng nhất.

Nhưng nhà thờ Đức Mẹ Thiên Triệu và bốn linh mục ở đó thì lại được bình an. Theo như những nhà chuyên môn nói, thì tất cả bồn người họ phải chết. Họ ở trung tâm bán kính một dặm của nơi trái bom nổ, họ hẳn phải chết. Chín ngày sau, thang 8 ngày 15, Ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời, hòa bình trở lại.

Phép lạ mà họ được sống sót, lòng trung thành của họ đối với Mẹ, nhà thờ của họ được dâng hiến cho Mẹ Thiên Triệu, đã là câu trả lời cho sự sống sót của họ. Không thể nào chỉ là trùng hợp. Điều này đã cho họ thấy quyền năng của Mẹ và chuỗi mân côi. Vì thế họ đã phát huy chiến dịch lần chuỗi mân côi cho hòa bình trên nước Nhật. Hãy nghĩ đến sức mạnh của một dòng sông. Sức mạnh này từ từng giọt nước nhỏ, từ vô số những giọt mưa. Những giọt nước nhỏ này đã làm giòng sông hùng mạnh, nó có thể chở cả con tàu lớn và làm những sa mạc khô khan thành những khu ăn trái…

Cũng thế, chiến dịch lần chuỗi mân côi của vô số người trên toàn thế giới trở thành sức mạnh hòa bình mà không gì có thể cản nỗi

2) Nước Áo (Austria) : Phép lạ nước Nga tháo lui

Vào đoạn kết của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, liên minh đã làm một việc bỉ ổi: Chúng đã nộp giáo hội công giáo vào tay bọn Nga. Dân Áo đã phải chịu Nga đô hộ trong 3 năm. Thế đã đủ rồi, dân Áo muốn bọn Nga ra khỏi nước Áo ngay lập tức. Nhưng nước Áo làm được gì đây, Nước Áo chỉ có 7 triệu dân, trong khi nước Nga có 220 triệu. Nhưng rồi có một linh mục, Pater Petrus, nhớ đến Don John của nước Áo, nhờ quyền năng của chuỗi mân côi đã lãnh đạo quân của ĐGH và đánh đuổi quân Thổ Nhỉ Kỳ khi quân của Thổ Nhỉ Kỳ đông gấp ba. Vì thế, Pater Petrus đã kêu gọi chiến dịch lần chuỗi mân côi cầu cho quân Nga ra khỏi nước Áo. Cha đã yêu cầu bảy trăm ngàn người hứa lần chuỗi mân côi mỗi ngày cầu nguyện cho quân Nga rút lui. Cha được bảy trăm ngàn người hứa lần chuỗi mỗi ngày cầu cho quân Nga ra khỏi nước Áo. Nước Áo đã lần chuỗi mân côi được bảy năm. Rồi vào tháng 5 ngày 13, ngày kỷ niệm Mẹ hiện ra ở Fatima, năm 1955, quân Nga đã ra khỏi nước Áo. Cho đến bây giờ, các nhà chiến tranh quân sư và các lịch sử gia vẫn không hiểu. Tại sao quân Nga rút khỏi nước Áo? Nước Áo là nơi có địa hình chiến lược rất tốt, là cánh cửa đi vào các nước Tây phương, nơi giàu có và tài nguyên phong phú. Họ đều cảm thấy khó hiểu. Al William nghe tôi kể về chuyện này. Ông ta nói với tôi rằng: “Cha có biết không, con là người Áo, ba tháng trước khi Thée Neumann chết, con có đến thăm bà ta. Một trong những câu hỏi con hỏi bà  là “Tại sai quân Nga rút khỏi nước Áo” bà đã nói rằng “Đích thực là vì chiến dich lần chuỗi mân côi của người Áo chúng ta”

Nói một cách khác, Đức Mẹ Mân Côi đã làm điều mà các chiến sĩ tự do Hungary không thể nào làm được trong trận chiến máu lửa của 25 ngàn người. John Cortes, nhà văn sáng suốt và là nhà ngoại giao của thế kỷ thứ 19 đã nói: “Những người lần chuỗi đã chiến đấu cho đất nước còn nhiều hơn các chiến sĩ xa trường. Nếu thế giới càng ngày càng tệ, là vì chúng ta có nhiều chiến sĩ chiến đấu hơn là có chiến sĩ cầu nguyện”

3) Brazil: Sao không dùng cách của dân Cuba

Vào thàng 11 năm 1964, tờ báo Reader Digest có bài viết “Chuyện một đất nước đã tự cứu mình”.  Đất nước đó là Brazil, Vào năm 1961 thì nước Brazil sắp sửa bị cộng sản chiếm lấy giống như nước Cuba vậy. Bạn có biết ai đã ngăn chận được  thảm họa này không? Những người đàn bà Brazil và chuỗi mân côi của họ. “Nếu  không có những người đàn bà và chuỗi mân côi của họ, thì chúng ta đã không thể ngăn nỗi bọn cộng sản” Một nhà lãnh đạo chống lại cách mạng đã nói như thế. Một buổi tối vào giữa năm 1962, Dona đang nghe chương trình chống cộng sản đỏ, bàn luận về mối đe dọa cộng sản đỏ, Dona bỗng quyết định “Chính trị đã trở nên quá nguy hại, không thể nào chỉ để trọng trách này cho các ông…Hơn nữa, ai sẽ là người chịu nhiều nguy hại hơn nếu không phải là phụ nữ chúng ta. Và bà đã thành lập Đội Quân Phụ Nữ vì Dân Chủ. Ỏ Belo, 20 ngàn phụ nữ lần chuỗi đã làm tan buổi họp của phe địch.Ỏ Sao Paulo, 600 phụ nữ lần chuỗi chung… Những người phụ nữ này, họ luôn có chuỗi mân côi trên tay hay trên cổ, đã biết một đoạn 1300 chữ này:  “Đất nước này Chúa đã ban cho chúng ta, một đất nước tráng lệ, đang nguy hại vô cùng. Chúng ta đã để cho những người có tham vọng vô hạn, lại không có đức tin, cũng chẵng ngại làm nguy hại đến con người, làm đỗ vỡ nền kinh tế, phá hủy đi hòa bình, nảy sinh thù hằn và tuyệt vọng. Chúng đã vào đất nước của chúng ta, vào chình phủ, vào quân đội, và vào cả giáo hội nữa.

Đức Mẹ, Mẹ chúng ta, đã bảo vệ chúng ta khỏi những đau khổ của những người phụ nữ tử vì đạo như ở Cuba, như ở Hòa Lan, ở Hungary và những nước khác đang bị làm nô lệ…” Nghe giống như Nước Mỹ của chúng ta, có phải không? Mẹ ở Fatima đã nói nếu chúng ta không vâng lời Mẹ thì những sai lầm của nước Nga sẽ lây lan trên toàn thế giới, ngay cả nước Mỹ. Thật vậy, đã đến nước Mỹ rồi. Có phải đã có người tin vào giết thai nhi, tin rằng đồng tình luyến ái nên được công nhận là một lối sống và là một lựa chọn, tin rằng luật pháp của tòa án tối cao pháp viện nên làm chủ trường học chứ không phải là luật của Chúa, hình ảnh khiêu dâm là… Ai là người bị nguy hại hơn cả nếu không phải là đàn bà? Xin Chúa cho những người phụ nữ trên nước Mỹ này, cũng giống như những người phụ nữ của Brazil, được chủ động trong việc chiếm lại đất nước Mỹ này trong những sai lầm đang bao trùm lấy nó. Và xin cho họ biết dùng loại vũ khí mà Mẹ đã ban cho họ mà người phụ nữ Brazil đã dùng, là chuỗi mân côi. Không những lần chuỗi riêng nhưng lần chuỗi chung trong gia đình, vì lần chuỗi gia đình mới phát huy toàn sức mạnh của chuỗi mân côi.

4) Mẹ kêu gọi ở Nga

a)Vào tháng 10 ngày 13, năm 1960. Hầu hết chúng ta đều biết rằng Nikita Khrushchev đến thăm nước Mỹ và khuyênh khoang rằng chúng sẽ chôn chúng ta, sẽ tiêu diệt chúng ta. Và để làm to chuyện hơn nữa, Nikita đã cởi giầy ra, đập lên bàn rầm rầm trước sự kinh hoàng của cả hội đồng. Điều hắn nói không phải chỉ là khuyênh khoang cho qua chuyện, nhưng Nikita biết rằng các nhà khoa học của chúng đã hoàn thành hạt nhân tên lửa, và tính rằng vào tháng 11 năm 1960 là kỷ niệm 43 năm Đảng Bolshevik, chúng sẽ ra mắt Nikita hạt nhân tên lửa này. Nhưng đã xảy ra điều gì bạn có biết không? ĐGH Gioan 23 đã mở ra bí mật thứ ba của Fatima Mẹ giao cho nữ tu Lucy. ĐGH đã ra lệnh ĐGM của Leiria (Fatima) viết thư cho tất cả các ĐGM trên toàn thế giới, và yêu cầu tất cả tham dự vào cuộc hành hương Fatima trong ngày 12 và ngày 13 tháng 10 để cầu nguyện cho nước Nga trở lại và cầu cho hòa bình thế giới

Trong đem 12 & 13 tháng 10, khoảng một triệu người hành hương ở lại suốt đêm ngoài trời ở Fatima để cầu nguyện trước Thánh Thể Chúa. Tất cả cầu nguyện và chầu Chúa suốt đêm mặc cho mưa rét lạnh đến xương tủy.

Cùng một lúc, có thêm khoảng 300 giáo phận cùng thông công với đêm hành hương Fatima đó. ĐGH Gioan 23 đã ban phép lành đặc biệt cho tất cả những ai tham gia vào đêm hành hương chưa từng có này.   Rồi đây là kết quả. Vào đêm 12 rạng sáng 13 sau sự kiện đập giầy trên bàn, Khusshchev bỗng dưng bỏ qua mọi sự việc, lên máy bay vội vả về Moscow, hủy bỏ mọi cuộc hẹn, tại sao vậy?

Marshall Nedelin, đầu não của vũ khí hạt nhân và nhiều lãnh đạo quốc gia đang chứng kiến lần thử nghiệm cuối cùng của hạt nhân tên lửa trước khi ra mắt Nikita. Khi đã sẵn sàng và đếm số từ 10 đã xuống đến số một, nhưng chẳng thấy tên lửa xuất phát. Sau 15 – 20 phút, Nedelin và những người khác ra khỏi vị trí thì tên lửa bùng nổ giết chết khoảng 300 người. Sự kiện này đã làm Nga bị thụt lùi trong tiến triển vũ khí hạt nhân đến cả 20 năm, và đã ngăn cản mọi dự định của hạt nhân nguyên tử để chôn vùi nước Mỹ. Sự kiện này xảy ra trong đêm mà cả giáo hội công giáo đang quì gối trước Thánh Thể Chúa chung quanh chân của Mẹ, Nữ Hoàng Mân côi, tại Fatima. Mẹ không thích chiến tranh hạt nhân.

  1. b) Vào ngày 13 tháng 5, năm 1984

Vào tháng 5, ngày 13, năm 1984, đám đông lớn chưa từng có đã tụ tập tại Fatima để mừng kỷ niệm ngày Mẹ hiện ra lần đầu tiên tại Fatima. Ngay ngày hôm đó, một vụ nổ lớn phá hủy hai phần ba bề mặt, tàu bè của đoàn tên lửa của Liên Xô, đó là một đoàn tàu tên lửa vĩ đại và hùng mạnh nhất Liên Xô lúc bấy giờ. Theo như tờ Jane’s Defense Weekly  của London, đây là tai họa lớn nhất xảy đến cho Liên Xô từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai.” Đã đủ để chúng ta đặt tất cả niềm tin của chúng ta vào những lời hứa của Mẹ chưa?

  1. c) Tất cả mọi người chắc đã đọc về thảm họa Chernobyl ỏ Ukraine rồi có phải không? Hủy hoại trực tiếp lên đến khoảng 2.7 tỷ đôla. Hủy hoại gián tiếp càng lớn hơn. Hàng ngàn dặm vuông đất nông thôn bị hủy hoại vì bị nhiên liệu ô uế. Nhưng tác dụng lớn lao nhất là tâm linh của người dân Nga

Một nhà văn Nga đã nói rằng Chernbolyl là ngôn ngữ Ukrainain, có nghĩa là “wormwood” (một loại thảo mộc có vị đắng, là thuốc bổ cho nông thôn Nga). Rồi ông thấy rằng trong khải huyền có nói rằng một ngôi sao từ trời rơi xuống làm một phần ba nước ra đắng. Và tên của vì sao đó là “wormwood”

Những trùng hợp huyền bí này giữa thảm họa Chernobyl và từ “wormwood” trong khải huyền đã được truyền đi khắp nước Nga, làm cho Chernobyl bị nhận thức như một thảm họa thiêng liêng. Thảm họa Chernobyl đã tác động đến dân Nga, nhất là khi họ liên tưởng đế người Kito giáo đã đến ngay chính vùng Chernobyl vào năm 998 AD

  1. d) Vào ngày 12 tháng 5, năm 1988

Vào ngày 18 tháng 5, năm 1988, nhà báo đăng tin một vụ nổ đã làm lò nguyên tử hạt nhân duy nhất của Liên Xô bị đóng cửa. Bài báo bắt đầu thế này: “Một vụ nổ lớn đã làm lò nguyên tử hạt nhân duy nhất của Liên Xô bị đóng cửa. Lò này sản xuất bộ phận chính của tên lửa bắn từ xa.” Bản tường trình của Pentagon thông báo rằng, nó xảy ra vào đêm 12 và “đã tiêu hủy nhiều tòa nhà của lò vũ khí Pavlograd” vào khoảng 300 dặm hướng tây nam của thành phố Moscow, Ukraine

Ngay trước đó, vào ngày 3 tháng 5, năm 1988, trên đất nước của chúng ta, tại Nevada, một vụ nổ phá hủy lò sản xuất bộ phận chính của tên lửa SS-24. Thêm một lần nữa, không phải vì chúng ta lần chuỗi mân côi mà Mẹ đã ngăn chận chiến tranh hạt nhân đó sao?

5) Mẹ kêu gọi dân Mỹ chúng ta

Chúa luôn thích nghi với những hạn hẹp của chúng ta. Trong Christmas dầu tiên, để nói chuyện với những mục đồng, Chúa đã dùng các thiên thần. Để nói chuyện với những nhà thông thái, Chúa đã dùng ngôi sao, để nói chuyện với dân Mỹ của chúng ta, Chúa đã dùng công cụ thông thường của chúng ta, tờ Tuần Báo, tờ Tin Trong Tuần… Vào ngày 12 tháng 6 năm 1989, trong tờ Tuần Báo, có câu chuyện về nước Mỹ giúp các nước bạn về bom nguyên tử. Luật pháp Mỹ cấm tiết lộ tin tức nhạy với các nước khác. Các nhà khoa học Mỹ đả bóp méo luật này dưới danh nghĩa “huấn luyện hờ”

Ví dụ, lúc Pháp đang muốn sản xuất những đầu nổ tên lửa, Mỹ nói cho Pháp biết làm sao để đầu nổ nóng hay lạnh. Nếu Pháp nói “Chúng tôi đã thử rồi nhưng không được”. Mỹ nói “còn cách khác nữa.” Pháp nói “Còn cách nào nữa”, rồi Mỹ loại suy từng câu Pháp đưa ra, cho tới khi Pháp nói đúng. Trong tờ ra tháng 6 ngày 12, tờ Tuần Báo đăng tấm hình Pháp thử bom nguyên tử trên biển Pacific. Bên dưới tấm hình này là câu “Cách nào? Pháp thử trên đảo Pacific của Mururoa?  Trong một tấm hình, chúng ta có thể thấy rõ ràng Chúa chịu nạn và cả Mẹ nữa. Ảnh tượng Chúa chịu nạn là trong lửa đõ của bom. Nhưng bên phải trong ánh sáng trắng (của khói bom) là ảnh tượng Mẹ. Mẹ ở đó như để trả lời câu hỏi “Còn cách nào nữa?”. Câu trả lời của Mẹ là “Phải đó các con, còn cách khác, không phải là chiến tranh nguyên tử. Là cách của Mẹ, là lần chuỗi mân côi

Trong vật lý, chúng ta đã học rằng lửa xanh nóng hơn lửa đỏ. Mẹ ở trong khói lửa trắng để đối nghịch với ngọn lửa đỏ hung dữ của hình nấm bom nổ. Đó là cách Mẹ nói. Cũng như xưa Mẹ đã nói ở Fatima khi mặt trời quay và nhảy nhót ngày 13 tháng 10 năm 1917: “Chúa uy quyền hơn tất cả bom nguyên tử. Các con muốn hòa bình? Hòa bình trong tay Mẹ chứ không phải trong bom nguyên tử hay hạt nhân. Đúng là còn cách khác, cách của Mẹ, chuỗi mân côi.

Trong tờ Tin Tức Mỹ và Thông Tin Thế Giới (Tháng 8 ngày 7 năm 1989), cũng tấm hình đó lại được đăng với bài viết “Ngày tàn của nước Mỹ” với hàng chữ bên dưới: “Nước Mỹ có bí mật để được sống sót nếu chiến tranh hạt nhân xảy ra” Mẹ tếu lâm lắm có phải không? Hình như Mẹ đang nói: “Còn cách khác để sống sót, đó là cách cầu nguyện, cầu nguyện chuỗi mân côi.”

Vào tháng 8 ngày 14, năm 1989, một khoa học gia của Nhật đem dụng cụ của ông đến Mễ Du để đo năng lực phóng xạ. Năng lực phóng xạ đọc ở bậc số 10, thì cũng không cao lắm. Rồi Mẹ xuất hiện lúc 10:30 tối, lúc đó công cụ của ông đọc được năng lực phóng xạ là 300, tương đương với trung tâm của bom nguyên tử.

Lại một lần nữa, Mẹ như đang nói Mẹ có nhiều năng lượng hơn là bom nguyên tử. Các con dân Mỹ đã đặt niềm tin quá nhiều vào những thứ này. Các con nghĩ bom là câu trả lời của các con sao? Kỹ thuật là câu trả lời của các con sao? Không phải đâu. Các con đặt niềm tin vào quả bom, thì quả bom sẽ hủy diệt các con. Còn cách khác, là Mẹ đây. Các con đặt niềm tin vào Mẹ, Mẹ sẽ đem đến hòa bình.

Vào ngày 13 tháng 10 năm 1988, ngày kỹ niệm Mẹ hiện ra lần cuối cùng ở Fatima, qua cha Gobbi, Mẹ đã nhắc nhở các linh mục của Mẹ ở Fatima bằng cách lập lại nhiều lần thông điệp này “Mẹ là Nữ Hoàng Mân Côi và Mẹ chúc lành cho các con bằng dấu hiệu chiến thắng này. Dấu hiệu chiến thắng của Mẹ là chuỗi mân côi. Mẹ đã hứa ở Fatima, rồi Mẹ lập lại lần nữa 71 năm sau.

Hãy thường xuyên lần chuỗi mân côi thì con rồng đỏ hung hăng kia sẽ bị xích lại rồi những hành động của nó cũng bị hạn chế hơn bao giờ hết. Rồi đoạn cuối là nó bị bất lực vô hại. Phép lạ của Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ sẽ được biểu dương trước tất cả mọi người.

Chuỗi mân côi của Mẹ sẽ được biểu dương nữa khi cộng sản Đông Châu Âu bị tan rã. Chẵng còn lời nào hơn để diễn tả được hiện tượng này. Không phải quân đội cũng không phải các chính trị gia đã làm được điều này, mà là triệu triệu người đã đáp lại lời kêu gọi của Mẹ ở Fatima, ở Mễ Du, và khắp nơi trên thế giới. Ai làm nên được những điều đó? Chỉ là những người bình thường và những hy sinh của họ, cầu nguyện và lần chuỗi mân côi.

CHUỖI MÂN CÔI  VŨ KHÍ CHỐNG CHIẾN TRANH  (VŨ KHÍ CHỐNG PHÁ THAI)

Vũ khí mạnh mẽ nhất chống lại phá thai là cầu nguyện, đặc biệt là chuỗi mân côi, một mình hay với đám đông. Chuỗi mân côi có thể cứu sống và thay đổi con người. Chuỗi mân côi là cách cầu nguyện của những người chống phá thai

Vấn đề phá thai không chỉ là vấn đề pháp lí, mà còn là vấn đề luân lí. Chúng ta phải nên vâng lời Chúa hơn là vâng lời con người. Vấn đề phá thai sẽ được giải quyết nếu chúng ta quay về với Chúa. Chỉ có Chúa mới giải quyết được vấn đề phá thai. Và Chúa sẽ giải quyết nếu chúng ta cầu xin Chúa

Trong hai năm qua tôi kêu gọi chiến dịch lần chuỗi mân côi xin mọi người hứa bỏ ra một tiếng trong tuần để lần ba chuỗi để chấm dứt phá thai. Được nhiều người ủng hộ, và thành công cũng kha khá đấy. Tôi muốn tiếp tục nâng cao chiến dịch của tôi thêm nữa “lần chuỗi mân côi cho hòa bình”

Chuỗi mân côi là vũ khí rất tuyệt vời. Ở vịnh Lepanto vào năm 1571 chuỗi mân côi đã làm chìm tàu. Vào năm 1955, chuỗi mân côi đã đuổi Nga ra khỏi nước Áo là nước công giáo. Vào năm 1962, nó đã ngăn cản cộng sản xâm lược nước Brazil. Năm 1980 chuỗi mân côi đã được ghi nhận là cuộc chiến tranh không đổ máu đã đuổi Macos ra khỏi Philippine. Chuỗi mân côi là vũ khí đem lại hòa bình cho thế giới. (Mẹ đã nói như thế ở Fatima)

Để thay đổi xu hướng tội lỗi trên đất Mỹ và trên toàn thế giới, chúng ta cần dâng Chúa chuỗi mân côi. Nếu 10% dân Mỹ hứa lần chuỗi mân côi thường xuyên, thì ma quĩ sẽ bị đạp đầu trên nước Mỹ và trên toàn thế giới

Xin hãy tham gia lần chuỗi thường xuyên, hứa lần chuỗi một tiếng mỗi tuần, được 3 chuỗi mân côi.  Lần chuỗi mân côi mỗi ngày để được hòa bình trên thế giới. “Mẹ muốn các con lần chuỗi thường xuyên…để được ơn và được Chúa thương xót cho cả thế giới” (Mẹ nói với cha Gobbi vào tháng 6 ngày 10, năm 1987

Cầu nguyện không có lưỡi dao hay lưỡi kiếm – Cũng chẳng có lưỡi lê hung tàn Chẳng dọa giết chóc một ai – Gọn như tươm nhưng— Khi mọi thứ đều vô dụng, chỉ có cầu nguyện là hữu dụng

Tầm Quan Trọng của Việc Lần Chuỗi Mai Khôi

Cha Gabriel Amorth, là nhà trừ quỷ chính thức tại Vatican viết rằng: Một hôm, một bạn đồng nghiệp của ngài trong một nghi thức trừ quỷ đã nghe qủy nói: “Mỗi Kinh Kính Mừng cũng như một đòn mạnh đánh vào đầu tôi.  Nếu Kitô hữu biết được quyền năng của Kinh Mai Khôi như thể nào thì đời tôi sẽ tàn.”      Bí ẩn có sức công phá mạnh và hữu hiệu của Kinh Mai Khôi là tính chất vừa khẩu nguyện vừa tâm nguyện của kinh ấy.  Kinh này được dâng lên Thiên Chúa Cha, lên Đức Nữ Đồng Trinh và lên Ba Ngôi Thiên Chúa, mà trọng tâm suy gẫm là Đức Kitô.

Tôi xin bổ túc vào phần trên đây như sau:  “Xin các bạn vui lòng đọc rõ ràng và mạch lạc từng lời một của kinh Mai Khôi.  Đừng quá bám sát và ‘dẫm chân lên nhau’ như xô đẩy lời nói của kẻ khác.  Nếu bạn đang ở “bên đáp” thì đừng cướp lời “bên xướng”, hay “bên xướng” đừng cướp lời “bên đáp”.  Nên nhớ rằng chúng ta đang nói chuyện với Mẹ mình, và cướp lời kẻ khác đang nói thì quả là bất lịch sự. Trong trường hợp đọc kinh chung thì chỉ có hai người nói mà thôi – một người xướng và một bên đáp. Mỗi người đang nói chuyện với Mẹ mình và đang chú ý lắng nghe lời Mẹ đáp lại trong lòng họ, khi họ nghiền ngẫm cảnh tượng trước mắt và đang diễn dịch và hoán chuyển vào cuôc sống của họ theo như mầu nhiệm họ đang nguyện gẫm. Hãy phổ biến sâu rộng lời kinh trừ tà đầy quyền năng này, kinh Mai Khôi  gồm kinh Lạy Cha là Lời Kinh Toàn Bích, đọc 5 lần kèm với những kinh đầy quyền lực mà Đức Mẹ cầu chung với chúng ta khi ta đọc 53 kinh Kính Mừng. Chúa Cha Hằng Hữu đã mặc khải cho nhóm chúng tôi biết qua trung gian một người thị kiến bạn tôi khi chúng tôi đọc kinh Mai Khôi như sau: “Khi các con cầu ‘Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội... thì Rất Thánh Đức Mẹ lập tức đến bên và cầu nguyện với các conMẹ không đến một mình.  Mẹ đem theo cả đoàn, chứ không phải chỉ một hay hai thiên thần mà thôi, vì Mẹ là Nữ Vương các Thiên thần nên các cơ binh thiên thần cùng đến với Mẹ. Hai thánh tâm Chúa Giêsu và Mẹ Maria luôn kết hiệp và không thể tách rời, và Đức Giêsu không thể tách rời khỏi Thiên Chúa Ba Ngôì, nên Ngài cùng đến với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Và ở đâu có Thiên Chúa Ba Ngôi thì ở đó có hết thảy tạo vật, và các con được bao bọc trong một vẻ đẹp và ánh sáng mà các con không thể nào tưởng tượng được ở đời này đâu.

Mẹ các con đến với tư cách là Đức Bà Ban Ơn với hai bàn tay mở rộng. Từ tay Mẹ tỏa ra hào quang xuyên thấu thân xác các con qua, chữa lành và đổ đầy ơn sủng vào tâm hồn các con.  Đây là sản nghiệp đổ xuống từ trái tim Chúa Giêsu trên Thập Giá vào bình chứa tinh tuyền duy nhất vào thời điểm đó, là Mẹ các con, sẵn sàng đón nhận những ơn trọng đại như vậy mà các con được thừa hưởng khi viên bách quan đâm thủng Thánh Tâm Ngài.

Vậy khi các con cầu Kinh Mai Khôi mà cảm thấy buồn ngủ, thì chỉ cần đọc một kinh Kính Mừng thôi cũng đủ và các con sẽ nhận được phần của các con trong kho tàng ân sủng ấy.

“Tuy vậy, muốn làm kẻ bầu cử hữu hiệu thì phải tỉnh táo và chú trọng đến lời kinh khi các con suy gẫm. ‘Ai đến Marmora và đọc kinh Mai Khôi thì Satan không thể đụng chạm vào họ được. Có gì đáng ngạc nhiên khi thấy bất cứ ai cầu nguyện kinh Mai Khôi từ trái tim cho người khác đều được chúc phúc, được che chở và có sức mạnh như vậy không?” Amen .

⇒   Xem lại từ chương 1

Cuộc Chiến Giữa Giáo Hội và Ma Quỷ

Hội Tam Điểm

Phá Hủy Đạo Công Giáo

Liên Hiệp Quốc là Chính Phủ Toàn Cầu

Những Dấu Hiệu Ma Quỷ

Thiên Chúa Hỗ Trợ Giáo Hội

Mẹ Hiện Ra Tại Lộ Đức

Bí Mật Fatima

Mẹ Hiện Ra Lần Thứ 4

 

Bí Mật Fatima

BÍ MẬT THỨ NHẤT:

Ðức Bà cho chúng con thấy một biển cả lửa hồng dường như ở dưới mặt đất. Chìm ngập trong lửa này là quỷ dữ và các linh hồn dưới hình thể con người, giống như những cục than hồng trong suốt, đen đủi hoặc xám xịt.

BÍ MẬT THỨ HAI:

“Chúng con đã thấy hoả ngục, nơi mà các linh hồn tội lỗi đáng thương đi vào. Ðể cứu vớt họ, Thiên Chúa muốn thiết lập trên thế giới việc sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm. Nếu điều Mẹ nói với các con được thực hiện, nhiều linh hồn sẽ được cứu và sẽ có hoà bình. Chiến tranh sẽ kết thúc: nhưng nếu dân chúng không ngừng xúc phạm đến Thiên Chúa, một cuộc chiến tranh tồi tệ sẽ xảy ra trong triều Giáo hoàng của đức Piô XI.

Khi chúng con thấy một đêm tối được chiếu sáng bởi một ánh sáng chưa từng biết, chúng con hãy biết rằng đó là dấu chỉ lớn lao mà Thiên Chúa ban cho các con để biết rằng Người sắp trừng phạt thế gian vì những tội ác của nó, bằng chiến tranh, đói kém, và những bách hại đối với Hội Thánh và Ðức Thánh Cha.

Ðể tránh điều này, Mẹ sẽ xin hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ, và Hiệp thông đền tạ vào ngày Thứ Bảy đầu tháng. Nếu lời cầu xin của Mẹ được chấp nhận, Nước Nga sẽ hoán cải, và sẽ có hoà bình; nếu không, nó sẽ phổ biến những lầm lạc trên khắp thế giới, gây nên những chiến tranh và bách hại cho Hội Thánh. Những kẻ lành sẽ bị giết hại; Ðức Thánh Cha sẽ đau khổ nhiều; nhiều quốc gia sẽ bị tiêu diệt. Cuối cùng, Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ sẽ toàn thắng. Ðức Thánh Cha sẽ hiến dâng Nước Nga cho Mẹ, và nó sẽ được hoán cải, và một giai đoạn hoà bình sẽ được ban cho thế giới”.

me-fatima

BI MẬT THỨ BA:

  • Sau hai phần mà con đã giải thích, phía bên trái của Ðức Bà và cao hơn một ít, chúng con đã thấy một Thiên thần cầm một thanh gươm bằng lửa nơi tay trái; nó lấp lánh và phát ra những tia lửa dường như sẽ đốt cháy thế gian; nhưng chúng tắt ngúm khi chạm đến ánh quang chiếu toả từ tay phải của Ðức Bà hướng về trần gian: chỉ về trái đất bằng tay phải, Thiên thần lớn tiếng thốt lên: ‘Ðền tội, Ðền tội, Ðền tội!’. Và chúng con thấy trong một luồng sáng lớn là Thiên Chúa: ‘một cái gì tương tự như cách người ta xuất hiện trong một tấm gương khi người ta đi ngang qua’ một Giám mục bận đồ trắng ‘chúng con có cảm nhận đó chính là Ðức Thánh Cha’. Các Giám mục, các Linh mục, các tu sĩ nam nữ khác leo lên một ngọn núi dốc thẳng, trên đỉnh núi có một Thánh giá lớn làm bằng thân cây thô nhám như thể của một cây bần với vỏ cây; trước khi đến đó, Ðức Thánh Cha đi qua một thành phố lớn, một nửa bị tàn phá và một nửa rung chuyển, với bước chân nghiêng ngả, buồn khổ vì đau đớn và ưu phiền, ngài cầu nguyện cho các linh hồn của những thân xác ngài gặp trên đường; khi đã lên đỉnh núi, quỳ dưới chân Thánh giá lớn, ngài đã bị một nhóm lính giết hại bằng đạn và mũi tên, và cùng một cách thức như thế các Giám mục, Linh mục, tu sĩ nam nữ khác, và các người giáo dân thuộc mọi giai cấp và địa vị xã hội khác nhau lần lượt bị giết hại. Bên dưới hai cánh tay của Thánh giá có hai Thiên thần, mỗi vị cầm trong tay một chiếc bình bằng pha lê, trong đó các ngài hứng máu của các vị Tử đạo và với máu đó các ngài rảy trên các linh hồn đang tiến về Thiên Chúa.

Những thập niên cuối thế kỷ 19 và hai thập niên đầu thế kỷ 20 là thời kỳ đen tối và cũng đặc biệt nhất trong lịch sử quốc gia và dân tộc Bồ Đào Nha. Quốc gia này vốn theo thể chế quân chủ và hầu như toàn tòng Công Giáo, cho tới những năm 1890-1899 và thập kỷ đầu thế kỷ 20, Bồ Đào Nha là một quốc gia quân chủ và mộ đạo gắn liền với Giáo Hội Công Giáo. Thống kê nói vào thời gian này có lúc cứ 9 người thì 2 người là linh mục hoặc tu sĩ.

  • Từ những năm cuối thế kỷ 19, các lực lượng chống hoàng gia và giáo hội bắt đầu thành hình. Năm 1900, các lực lượng này kết hợp với nhau trong chủ trương “vị vua cuối cùng sẽ bị treo cổ cùng với ruột gan của vị linh mục cuối cùng.” Năm 1908, vua Charles I và hoàng thái tử bị ám sát. Năm 1910 vua Manuel I trốn sang Anh Quốc, và chính thể cộng hòa cách mạng cầm quyền. Chính quyền này theo chủ trương Marxist, vô thần, xã hội, tự do tư tưởng. Chính quyền mới đã cai trị dựa trên căn bản khủng bố tàn bạo và gây sợ hãi.
  • Thống kê cho thấy trong các năm 1911-1916, ít nhất 17 ngàn linh mục, tu sĩ nam nữ bị giết, hoặc riêng rẽ hoặc tập thể. Đôi khi ruột gan và đầu của người bị giết bị treo vào cây sào đem riễu ngoài đường phố để khủng bố tinh thần các linh mục, tu sĩ, còn sót lại. Tất cả các thánh đường đều bị đóng cửa hoặc tiêu hủy. Không một ai dám đi dự Thánh Lễ, cả kinh Mân Côi cũng không dám cầu nguyện công khai. Ảnh tượng Chúa, Đức Mẹ và các thánh bị chà đạp giữa đường phố. Sự sợ hãi thống trị – và tôn giáo như đã chết. Trong khi đó Thế Chiến I, một trong những đại ác họa của nhân loại, xảy ra tại Âu Châu.

THIÊN THẦN DỌN ĐƯỜNG

  • Năm 1915, Lucia dos Santos, một cô bé mập mạp, 8 tuổi, thuộc xóm Aljustrel, giáo sứ Fatima, cùng với hai chị em cô Maria Rosa và Teresa Matias và cô Maria Justino thuộc xóm Velha, đang chăn cừu tại núi Cabeco. Ăn trưa xong, bốn cô đọc kinh Mân Côi theo truyền thống yêu mến Đức Mẹ tại miền Fatima. Chính lúc đó các cô thấy một bóng người trắng hơn tuyết bay là là trên ngọn cây trong thung lũng phía dưới chân các cô. Riêng Lucia thấy bóng dáng này ba lần, nhưng không biết là gì.
  • Đến năm 1916, bóng trắng này chính là thiên thần ba lần hiện ra với Lucia, và hai em họ là Jacinta và Francisco Marto. Lần thứ nhất khi ba chị em đang chăn cừu cho gia đình tại Chousa Velha. Thiên thần hiện ra với các em trong hang đá nơi các em ăn trưa và đọc kinh Mân Côi xong. Thiên thần nói với các em:
  • “Các bé đừng sợ. Tôi là Thiên Thần Hòa Bình. Mời các bé cầu nguyện chung với tôi.”

thien-than-hoa-binh

  • Nói xong, thiên thần quì sấp mình tới khi trán chạm đất. Các bé cũng bắt chước thiên thần trong tư thế phủ phục đó. Khi đó thiên thần dâng lời nguyện:
  • “Lạy Thiên Chúa, con tin, con thờ lạy, con trông cậy, và con yêu mến Chúa. Con tha thiết xin Chúa tha thứ cho những kẻ không tin, không thờ lạy, không cậy trông, và không yêu mến Chúa.”
  • Sau khi dâng ba lần lời nguyện này, thiên thần nói với các bé: “Các bé hãy cầu nguyện như vậy. Thánh Tâm Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria lắng nghe lời các bé cầu nguyện.”
  • Thiên thần hiện ra lần thứ hai với các bé tại núi Cabeco, trên đường các bé dẫn đàn cừu về nhà khoảng 9 hoặc 10 giờ sáng vì trời quá nóng. Thiên thần hỏi: “Các bé đang làm gì thế? Các bé hãy cầu nguyện, cầu nguyện thiệt nhiều! Thánh Tâm Chúa Giêsu và Đức Maria yêu thương các bé. Các bé hãy liên tục dâng lời cầu nguyện và hy sinh lên Thiên Chúa Tối Cao.”
  • Lucia hỏi: “Làm cách nào chúng con dâng được các hy sinh?”
  • Thiên thần đáp: “Các bé hy sinh trong bất cứ điều gì có thể, và dâng lên Thiên Chúa làm của lễ đền tạ vì tội lỗi xúc phạm đến Thiên Chúa và làm của lễ cầu xin cho người tội lỗi ăn năn trở lại. Bằng cách này, các bé xin được hòa bình cho quê hương các bé. Tôi là Thiên Thần bảo vệ, Thiên Thần của nước Bồ Đào Nha. Trên hết, các bé hãy tiếp nhận và vâng chịu những đau khổ Chúa sẽ gởi đến cho các bé.”
  • Thiên thần hiện ra lần thứ ba vào mùa thu năm 1916. Cũng chính tại hốc đá núi Cabeco, ba chị em mục tử đọc kinh Mân Côi và lời cầu nguyện Thiên Thần dạy xong. Thiên thần hiện ra, trong tay cầm Chén Thánh, và trên Chén Thánh, Thiên Thần cầm Bánh Thánh. Từ Bánh Thánh những Giọt Máu chảy vào trong Chén Thánh. Để Chén Thánh và Bánh Thánh trên không trung, Thiên Thần quì sấp mình xuống đất, đọc ba lần lời cầu nguyện sau đây: Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Linh, con thờ lạy Chúa thẳm sâu và dâng lên Chúa Thân Xác, Máu và Linh Hồn Cực Châu Báu và Thiên Tính của Chúa Giêsu Kitô, hiện diện trong các Nhà Chầu trên khắp thế giới, để đền tạ những tội xúc phạm, những tội bất kính và hững hờ chính Chúa Giêsu Kitô phải chịu. Nhờ công nghiệp vô cùng Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu và công nghiệp vô cùng Đức Maria, con nài xin Chúa thánh hóa các người tội lỗi khốn nạn.”
  • Thiên Thần đứng dậy, cầm Chén Thánh và Bánh Thánh, đặt Bánh Thánh vào lưỡi Lucia. Thiên Thần cho Jacinta và Francisco uống Máu Thánh. Khi phân phát Mình và Máu Thánh Chúa cho ba bé, Thiên Thần nói: “Các em hãy ăn Mình và uống Máu Thánh Chúa Giêsu Kitô bị loài người xúc phạm kinh khủng. Các bé hãy làm việc đền tạ vì tội lỗi nhân loại và an ủi Thiên Chúa của các bé.”

Thiên Thần lại sấp mình xuống đất đọc chung với các bé ba lần lời nguyện: “Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh …” Sau đó Thiên Thần biến đi.

  • ĐỨC MẸ HIỆN RA LẦN THỨ NHẤT Chúa Nhật, 13 tháng 5, 1917, sau khi đọc kinh Mân Côi, ba chị em Lucia, Jacinta và Francisco, đang chơi vui ở sườn đồi Cova da Iria, Fatima, bất chợp các bé thấy làn ánh sáng lạ như chớp. Ba chị em bàn nhau gom cừu định dẫn về vì sợ bão. Khi gần tới cây sồi lớn, các bé thấy một làn chớp sáng hơn nữa từ cây sồi phát ra. Lucia, Jacinta và Francisco dừng chân nhìn lên và thấy một Vị Phụ Nữ xinh đẹp đứng trên đỉnh cây sồi. Người nói: “Các con đừng sợ. Mẹ không làm hại các con đâu.”
  • Các bé lặng lẽ ngây ngất chiêm ngưỡng Đấng Hiện Ra.
  • Sau một lúc chiêm ngưỡng say sưa, Lucia mạnh dạn hỏi: “Thưa Bà, Bà từ đâu tới?”
  • Vị Phụ Nữ từ ái trả lời:  “Mẹ từ thiên đàng đến.”
  • Cô bé hỏi tiếp: “Và Bà muốn chúng con làm gì?”
  • Người đáp: “Mẹ đến xin cả ba các con đến đây sáu tháng liên tiếp, vào ngày 13 mỗi tháng, cũng giờ này. Khi đó Mẹ sẽ cho các con biết Mẹ là Ai, và Mẹ muốn điều gì. Sau đó Mẹ sẽ trở lại đây lần thứ bảy.”
  • Được khích lệ, Lucia hỏi thêm: “Con có được lên thiên đàng không?”
  • “Có, con sẽ được lên thiên đàng.”
  • “Còn Jacinta?”
  • “Có.”
  • “Còn Francisco?”
  • “Nó cũng được lên thiên đàng, nhưng nó phải đọc rất nhiều kinh Mân Côi.”
  • Lucia hỏi về người bạn mới qua đời: “Chị Maria das Neves có ở trên thiên đàng không?”
  • “Có.”
  • “Còn Amelia?”
  • “Cô đó sẽ phải ở luyện ngục cho tới tận thế.”
  • Sau khi trả lời các câu hỏi của Lucia, Đức Mẹ đưa ra lời yêu cầu quan trọng: “Các con có vui lòng tận hiến cho Thiên Chúa và chịu các đau khổ Chúa muốn gởi đến cho các con, để đền tạ tội lỗi xúc phạm đến Thiên Chúa và van xin cho các kẻ tội lỗi ăn năn trở lại không?”
  • Lucia thấy lời yêu cầu này tương tự lời yêu cầu của Thiên Thần lúc trước, và tin rằng hai em họ cũng đồng ý, cô đáp: “Thưa Bà, chúng con vui lòng.”

Các bé xúc động, và quì xuống sốt sắng dâng lời nguyện thiên thần dạy: “Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh, con thờ lạy Chúa. Lạy Chúa, con yêu mến Chúa trong Phép Thánh Thể.” Lúc sau, Đức Mẹ nói:  “Các con hãy đọc kinh Mân Côi hàng ngày để xin hòa bình và chấm dứt chiến tranh.”  Tới đây Đức Mẹ biến đi. 

ĐỨC MẸ HIỆN RA LẦN THỨ HAI

  • Ngày 13 tháng 6, 1917, Lucia, Jacinta và Francisco không dẫn đàn cừu đi chăn, mà lên đồi Cova da Iria với nhiều người đi theo. Mọi người đọc kinh Mân Côi, nhưng lâu quá không thấy Đức Mẹ tới. Mọi người chia trí, các bé cũng đứng lên một lúc. Lucia lại yêu cầu mọi người cầu nguyện kinh Mân Côi, khi người ta muốn đọc kinh cầu, Lucia nói: “không đủ giờ đọc kinh cầu đâu.” Ngay sau đó Lucia mừng rỡ reo lên: “Jacinta à, kìa Đức Mẹ tới ! Tia sáng vừa mới lóe lên.” Lập tức người ta thấy ba bé trong tình trạng xuất thần.
  • Sau một lúc im lặng chiêm ngưỡng, Lucia hỏi: “Thưa Bà, Bà muốn con làm gì?”
  • Đức Mẹ nói: “Mẹ muốn các con đến đây ngày 13 tháng tới, và Mẹ muốn các con đọc kinh Mân Côi hàng ngày.”
  • Sau đó Đức Mẹ vui vẻ nói: “Mẹ muốn các con học chữ. Rồi Mẹ sẽ nói cho các con biết Mẹ muốn gì.”
  • Nhớ đến những ơn người ta nhờ Lucia chuyển lên Đức Mẹ, cô nói: “Có một người tật nguyền xin Đức Mẹ chữa anh ta.”
  • Đức Mẹ đáp: “Con hãy nói cho anh ấy biết nếu anh ta ăn năn thống hối, anh ta sẽ được chữa lành trong vòng một năm.”
  • Lucia sung sướng vì được Đức Mẹ nhận lời, đã xin: “Con muốn xin Đức Mẹ đưa chúng con về thiên đàng.”
  • Đức Mẹ trả lời: “Được, chẳng bao lâu nữa Mẹ sẽ đưa Jacinta và Francisco về thiên đàng, nhưng con phải ở lại thế gian lâu hơn. Chúa Giêsu muốn dùng con làm cho thế giới biết và kính yêu Mẹ. Chúa Giêsu muốn thiết lập trên khắp thế giới việc kính yêu Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ. Mẹ hứa ban ơn rỗi linh hồn. Những linh hồn này sẽ được Thiên Chúa yêu thương như những bông hoa Mẹ trang hoàng Thánh Ngai Thiên Chúa.”
  • “Con sẽ phải ở lại thế gian lâu hơn” như lưỡi kiếm xuyên thấu trái tim thơ ngây của Lucia.
  • Cô bé hỏi: “Con phải ở lại thế gian này một mình sao?”
  • Đức Mẹ trả lời: “Không, con à. Có phải điều này làm cho con đau khổ lắm không? Con đừng nản lòng. Mẹ sẽ không bao giờ bỏ rơi con đâu. Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ sẽ là nơi con náu ẩn và là đường đưa con tới Thiên Chúa.”
  • Khi nói lời này, Đức Mẹ mở rộng hai bàn tay và ánh sáng từ bàn tay Đức Mẹ tỏa ra bao bọc các bé.
  • Mải mê chiêm ngưỡng Đức Mẹ, các bé thấy Người đưa chuỗi tràng hạt ra như thể nài nỉ các bé nhận và ấp xâu chuỗi vào trái tim. Kế đó các bé bị thu hút bởi Trái Tim bị những mũi gai lớn đâm thấu mọi phía. Các bé hiểu rằng đang chiêm ngưỡng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria bị xúc phạm vì tội lỗi loài người, và Trái Tim này mong được đền tạ.
  • Đến đây, Đức Mẹ biến đi. Lucia kêu lên: “Nhìn kìa, Nếu các ông bà muốn thấy Đức Mẹ. Người ra đi kia kìa! Đức Mẹ đi kia kìa!”

ĐỨC MẸ HIỆN RA LẦN THỨ BA HỎA NGỤC, CHIẾN TRANH VÀ TRÁI TIM VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI MẸ MARIA

  • Ngày 13 tháng 7, 1917, Lucia, Jacinta và Francisco có rất nhiều người cùng đi lên đồi Cova da Iria. Tới nơi, Lucia xướng và mọi người đáp kinh Mân Côi. Đọc kinh xong, Lucia đứng lên, nhìn về hướng đông, từ đó Đức Mẹ thường đi tới. Lập tức Lucia la lên bảo mọi người đang dùng dù che nắng giữa trưa: “Xin các ông bà gấp dù lại! Các ông bà hãy gấp dù lại! Đức Mẹ đã tới rồi đó!”
  • Các bé vui sướng chiêm ngưỡng Đức Mẹ. Lúc sau, Lucia hỏi Đức Mẹ: “Thưa Đức Mẹ, hôm nay Đức Mẹ muốn chúng con làm gì?”
  • Mẹ muốn các con trở lại đây ngày 13 tháng tới và tiếp tục đọc kinh Mân Côi hàng này dâng kính Đức Mẹ Mân Côi, để xin được hòa bình cho thế giới và chấm dứt chiến tranh, vì chỉ một mình Mẹ mới cứu giúp được các con.”
  • Lucia nói tiếp: “Thưa Bà, con muốn xin Bà cho chúng con biết Bà là Ai. Và xin Bà làm phép lạ để mọi nguời tin Bà đã hiện ra với chúng con.”
  • Vắn tắt Đức Mẹ loan báo quyết định của Người: “Các con hãy tiếp tục đến đây mỗi tháng. Đến tháng 10, Mẹ sẽ nói cho các con biết Mẹ là Ai và Mẹ muốn gì. Và Mẹ sẽ làm một phép lạ mọi người đều thấy và phải tin.”
  • Lucia xin Đức Mẹ chữa lành một số người, và Đức Mẹ hứa chữa cho một số nếu những người đó đọc kinh Mân Côi.
  • Sau đó Đức Mẹ nói:  “Các con hãy hy sinh bản thân các con cho các kẻ tội lỗi, và năng nhắc lại, nhất là sau mỗi lần các con làm việc hy sinh cho kẻ tội lỗi: ‘Lạy Chúa Giêsu, chính vì lòng yêu mến Chúa, xin cho các kẻ tội lỗi ăn năn thống hối, và để đền tạ những tội lỗi xúc phạm đến Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria’.”
  • Khi nói những lời này, Đức Mẹ mở rộng hai bàn tay như dáng điệu của linh mục khi chúc: “Chúa ở cùng anh chị em” trong Thánh Lễ. Lập tức Lucia kêu lên kinh sợ. Chỉ những người ở gần các bé nhất nghe được tiếng kêu này. Nhưng tất cả những người có thể nhìn được mặt các bé đều thấy rõ thình lình sắc diện các bé biểu lộ vẻ kinh hoàng và đau khổ. Vì khi Đức Mẹ mở hai bàn tay ra, những tia sáng phản chiếu từ tay Đức Mẹ như xuyên qua trái đất, và hỏa ngục mở ra trước cặp mắt kinh hoàng của các bé. Rúng động toàn thân, các bé ngước mắt lên cầu khẩn. Bằng giọng hết sức nhân từ xót thương Đức Mẹ nói:
  • Các con đã nhìn thấy hỏa ngục, nơi linh hồn những kẻ tội lỗi phải tới. Để cứu các linh hồn đó, Thiên Chúa muốn thiết lập khắp thế giới việc sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ.
  • “Nếu nhân loại thi hành điều Mẹ dạy, nhiều linh hồn sẽ được cứu vớt và sẽ có hòa bình.
  • Chiến tranh này sắp chấm dứt, nhưng nếu loài người không thôi xúc phạm đến Thiên Chúa, một chiến tranh khốc liệt hơn sẽ bùng nổ trong triều đại Đức Thánh Cha Piô XI. Khi nào các con thấy một đêm bừng sáng do làn ánh sáng lạ, các con biết đó là dấu Thiên Chúa cho biết Người sắp phạt thế giới vì tội ác của nhân loại bằng chiến tranh, đói khát, bắt bớ Giáo Hội và Đức Thánh Cha.
  • “Để ngăn cản điều này, Mẹ đến yêu cầu dâng hiến nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ, và rước Lễ đền tạ các ngày thứ Bảy đầu tháng.
  • “Nếu người ta tuân theo những lời Mẹ yêu cầu, nước Nga sẽ trở lại và sẽ có hòa bình. Nếu không, nước Nga sẽ gieo rắc tai ương khắp thế giới, xúi giục chiến tranh, đàn áp Giáo Hội, những người lành sẽ tử đạo, Đức Thánh Cha sẽ phải đau khổ nhiều, nhiều quốc gia sẽ bị xóa trên bản đồ. 
  • Sau cùng, Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ sẽ vinh thắng. Đức Thánh Cha sẽ dâng nước Nga cho Mẹ và nước đó sẽ trở lại, và một thời gian hòa bình sẽ được ban cho thế giới. “Ở Bồ Đào Nha, đức tin sẽ mãi mãi được duy trì.”
  • Vì những lý do không tiết lộ, Đức Mẹ muốn thị kiến về hỏa ngục và lời tiên tri khủng khiếp về tai họa của thế giới phải được giữ kín. Đức Mẹ bảo các bé:
  • “Các con đừng nói điều này với bất cứ ai. Tuy nhiên các con có thế nói cho Francisco biết” (Francisco được thấy Đức Mẹ, nhưng không nghe được các lời Đức Mẹ nói).
  • Ngưng một lúc, Đức Mẹ nói tiếp: “Khi các con đọc kinh Mân Côi, sau mỗi mầu nhiệm, các con hãy dâng lời nguyện:
  • ‘Lạy Chúa Giêsu, xin tha thứ tội lỗi chúng con, xin cứu chúng con khỏi hỏa ngục, xin hướng dẫn mọi linh hồn lên thiên đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn’.”

Đọc thêm các chương khác

Cuộc Chiến Giữa Giáo Hội và Ma Quỷ

Hội Tam Điểm

Phá Hủy Đạo Công Giáo

Liên Hiệp Quốc là Chính Phủ Toàn Cầu

Những Dấu Hiệu Ma Quỷ

Thiên Chúa Hỗ Trợ Giáo Hội

Mẹ Hiện Ra Tại Lộ Đức

Mẹ Hiện Ra Lần Thứ 4

Quyền Năng Chuỗi Mân Côi

Mẹ Hiện Ra Tại Lộ Đức

lo-duc

 Ngày 11 tháng 02 năm 1858, một ngày mùa đông lạnh cóng, ba cô gái xanh xao gầy guộc, áo quần tả tơi, đi kiếm củi. Ba cô là Bernadette Soubirous, cô thứ hai là Toinette, em của Bernadette, cô thứ ba là Jeanne Abadie. Bernadette Maria Soubirous sinh ngày 7 tháng 1 năm 1844, là con đầu lòng trong 8 người con của ông bà Francois và Louise Soubirous. Ông Francois làm việc tại xưởng cưa Boly và gia đình ngụ tại đây. Khi Bernadette tám tuổi, mắt trái của ông Francois bị hư, và hai năm sau ông bị mất việc, gia đình phải rời khỏi trại cưa. Gia đình ông Francois được một người bà con làm nghề đục đá cho tá túc ở tầng trệt của xưởng đục đá, nơi này ẩm thấp ướt át, và gia đình sống trong cảnh nghèo nàn cùng cực. Bernadette 14 tuổi vẫn chưa biết chữ. Ba cô tới chỏm Massabielle, nơi có chỗ lõm vào như hang động, trước cửa hang Massabielle lúc đó có vài bụi cây và một cụm hồng dại khô gần chết. Bernadette Soubirous, lớn tuổi nhất trong ba cô, tới đó kiếm củi. Khi hai cô kia tới cửa hang Massabielle để tìm cô, hai cô thấy Bernadette đang quì trước cửa hang, mắt nhìn lên. Hai cô chạy tới bên Bernadette và thấy cô bất động, mắt mở lớn ngó trân trân. Hai cô lay Bernadette nhưng không thể nào làm cô nhúc nhích, cả đến lay chuyển cánh tay cô cũng không được.

Hai cô la lên vì sợ. Khi tỉnh lại, Bernadette nói cho hai cô kia biết sự việc xảy ra.Thoạt tiên Bernadette thấy một bóng sáng mà cô đã thấy hai lần trước kia. Lần này một Vị Phụ Nữ đẹp mặc y phục trắng hiện ra trong bóng sáng. Vị Phụ Nữ gật đầu chào Bernadette, đồng thời đưa hai cánh tay ra, trên cánh tay phải có chuỗi Mân Côi.

Vị phụ Nữ mỉm cười dịu dàng, và như thể ra dấu gọi Bernadette tới gần hơn, nhưng cô bé sợ, không đáp lời và muốn bỏ chạy. Sau đó Bernadette bình tĩnh lại và lấy xâu chuỗi ra cầu nguyện kinh Mân Côi. Trong khi Bernadette cầu nguyện kinh Mân Côi, Vị Phụ Nữ cũng lần từng hạt theo, môi không mấp máy, nhưng cúi đầu khi Bernadette đọc kinh Sáng Danh.

  • Trong khi lần chuỗi, Bernadette nhìn rõ Đấng Hiện Ra hơn. Vị Phụ Nữ mặc áo dài trắng xuống tới chân, chỉ để lộ những ngón chân.
  • Áo dài có cổ cao và cột bằng một dây băng mầu trắng.

Tấm khăn choàng mầu trắng phủ trên đầu qua vai, qua hai cánh tay, xuống gần tới gấu áo dài. Trên mỗi bàn chân của Vị Phụ Nữ có một bông hồng mầu vàng. Khăn thắt lưng mầu xanh dương, thả xuống tới đầu gối. Xâu chuỗi, dây vàng, hạt trắng lớn và kết cách khoảng rộng hơn chuỗi thường. Vị Phụ Nữ rất trẻ và đứng trong vầng hào quang.

  • Khi Bernadette cầu nguyện xong năm chục kinh Mân Côi, Vị Phụ Nữ mỉm cười chào cô, rồi biến đi.
  • Trên đường về, Bernadette gặp một cô em khác và kể lại cho cô này nghe việc cô đã thấy Vị Phụ Nữ đẹp tuyệt vời đứng trong bầu ánh sáng. Cô em này nói cho bà mẹ biết. Cô Jeanne Abadie chạy khắp xóm kháo rằng Bernadette được thị kiến và phát khùng. Cha mẹ của Bernadette bực mình vì những chuyện đó và cấm Bernadette không được tới hang Massabielle nữa. Khi xưng tội chiều hôm sau, Bernadette nói chuyện này với cha giải tội và xin ngài tường trình với cha sở là cha Peyramale, nhưng ngài bỏ qua.
  • Chúa Nhật 14 tháng 2, 1858, Bernadette xin được cha của cô cho phép tới Massabielle với hai cô cùng đi hôm trước và một số người khác. Có tất cả hai mươi người, trong đó có bảy người lớn, đi theo. Lần này Bernadette đem theo nước thánh. Bernadette quì cầu nguyện tại nơi cô đã quì lần trước, có hai người quì hai bên. Khi Bernadette và mọi người cầu nguyện xong chục kinh Mân Côi thứ nhất, Vị Phụ Nữ tuyệt đẹp hiện ra. Bernadette rảy nước thánh lên Vị Phụ Nữ, và nói:
  • “Nếu Người từ Thiên Chúa mà đến, thì xin ở lại!”
  • Vị Phụ Nữ mỉm cười. Lúc này Jeanne Abadie leo lên phía trên hang đá, vô tình làm lăn một cục đá lớn xuống ngay sát bên Bernadette. Nhưng Bernadette không hay biết gì vì cô đã bất động trong tình trạng xuất thần.

Hai cô kia không làm cách nào cho Bernadette tỉnh lại khiến người khác sợ. Một số người chạy tới xưởng cưa nhờ người đưa Bernadette tới đó. Họ khiêng Bernadette tới xưởng cưa, trong khi đi đường cô vẫn đăm đăm nhìn và mỉm cười với thứ gì mà không ai khác ngoài cô có thể thấy, và cô bé dần dần tỉnh lại.

  • Tại nhà máy cưa, người ta hỏi Bernadette thấy gì tại hang đá Massabielle. Cô bé đáp:
  • “Tôi thấy một Vị Phụ Nữ đẹp tuyệt vời, Người có chuỗi Mân Côi ở cánh tay phải, và hai bàn tay chắp trước ngực.”
  • Jeanne Abadie lại loan truyền khắp xóm về thị kiến này khiến bà mẹ của Bernadette hết sức tức giận và lo âu về tình trạng điên khùng của cô và cấm cô trở lại Massabielle. Nhờ một bà nhà giầu can thiệp, ngày hôm sau (16-2-1858) cô được trở lại Massbielle.
  • Sớm ngày thứ Ba (16-2-1858), Bernadette trở lại hang Massabielle, có nhiều người đi theo, những người này cầm trong tay chuỗi Mân Côi để xua trừ ma quỉ. Trong số này có bà Millet, bà này đem theo cây nến phép, giấy, bút và lọ mực để Bernadette xin Vị Phụ Nữ viết cho biết tên của Người. Bernadette quì xuống và lại xuất thần. Một lúc sau cô tỉnh lại và người ta hỏi cô: “tên của Vị Phụ Nữ đó là gì?” như bà Miller đã nhặn cô hỏi. Bernadette đáp: “Cháu đã hỏi, nhưng Người nói điều đó không cần thiết” và
  • Người hỏi cháu: “Con có vui lòng đến đây mười lăm (15) ngày không? Mẹ không hứa làm cho con hạnh phúc ở trần gian này, nhưng ở đời sau.” Bernadette đã trung thành thực hiện lời hứa với Vị Phụ Nữ:
  • “Được cha mẹ con cho phép, con sẽ tới.”
  • Ngày càng đông người đi theo Bernadette mỗi lần cô tới hang đá Massabielle.
  • Vị Phụ Nữ hiện ra lần thứ bốn vào ngày thứ Sáu, 19 tháng 2, 1858. Bà Millet đi theo và quì bên Bernadette kể rằng khi Vị Phụ Nữ hiện ra thì nụ cười của cô trở nên tươi tắn và sắc diện thay đổi. Cô chào Đấng Hiện Ra bằng tay và cúi đầu. Cuộc thị kiến lâu chừng ba mươi phút, và khi thị kiến chấm dứt, Bernadette mệt nhoài ngã vào vòng tay của bà mẹ. Trên đường trở lại phố Petits-Fossés, Bernadette cho biết đôi chút tại sao đôi lúc buổi thị kiến có vẻ khác thường: “Bất chợt những tiếng la lớn phát ra từ GAVE, xé tan bầu không khí yên tĩnh của Massabielle. Chúng ‘ẩu đả, chửi rủa nhau, tựa như tiếng la thét của đám đông đang cãi lộn nhau’. Một tiếng nói, lớn lấn át những tiếng nói khác, gầm lên: ‘Ra khỏi đây! … Ra khỏi đây đi!’.” Bernadette nghĩ rằng lời nguyền rủa đó không ám chỉ vào cô, mà là xúc phạm trực tiếp Đấng Trong Ánh Sáng đang đứng trên cây tầm xuân. Đấng Hiện Ra liếc nhìn về phía ồn ào đó, và lập tức chúng nín tiếng. Về sau Bernadette cho biết Satan lồng lộn tức giận vì chúng nhìn nhận chúng bị đánh bại, vì tại Massabielle nhiều người tội lỗi ăn năn cải hối.
  • Ngày 20 tháng 3 năm 1858 là lần thị kiến thứ năm. Sau khi Bernadette bắt đầu cầu nguyện kinh Mân Côi, Vị Phụ Nữ hiện ra. Trong lần này, Người kiên nhẫn dạy Bernadette từng tiếng từng tiếng của lời cầu nguyện mà cô dùng trong mỗi thị kiến và hằng ngày suốt đời cô, nhưng không người nào khác biết nội dung.
  • Đấng Hiện Ra đến với Bernadette tại Massabielle lần thứ sáu vào Chúa Nhật I Mùa Chay, ngày 21 tháng 2, 1858. Hôm nay rất đông người đến Massabielle, có quân đội, cảnh sát, cả thị trưởng của Terbes cũng hiện diện để quan sát, nhưng không có hành động gì. Bác sĩ Dozous cũng hiện diện.
  • Ngay khi tới hang đá, Bernadette quì xuống, lấy xâu chuỗi ra cầu nguyện kinh Mân Côi. Không lâu sau đó, sắc diện cô thay đổi, cho biết cô đang diện kiến Đấng Hiện Ra. Bác sĩ Dozous ở sát bên Bernadette để theo dõi diễn tiến và trắc nghiệm nhịp tim vàhơi thở của cô, và thấy nhịp tim của cô đều hòa, hơi thở nhẹ nhàng. Khi bác sĩ Dozous buông cánh tay Bernadette ra, cô tiến lên một chút về phía nóc hang đá. Một chút sau đó, sắc diện của Bernadette thay đổi lúc thì hết sức hân hoan sung sướng, lúc thì buồn: hai hàng nước mắt chảy dài xuống hai bên má. Đấng Hiện Ra biến đi sau khi Bernadette lần xong chuỗi Mân Côi, và cô dần dần tỉnh lại. Bác sĩ Dozous hỏi tại nước mắt của cô tuôn rơi sau những nụ cười sung sướng.
  • Bernadette nói: “Vị Phụ Nữ không nhìn con mà nhìn ra xa, qua đầu con, một lúc. Rồi, Người lại nhìn con, khi con hỏi Người điều gì làm Người đau buồn, Người nói với con: ‘Con hãy cầu xin Thiên Chúa cho những người tội lỗi.’ Con lại được thấy nét mặt nhân từ của Người, và Người biến đi.”
  • Bernadette được thị kiến lần thứ bảy vào thứ Ba, 23 tháng 12, 1858. Lần này có rất đông người tới Massabielle. Những người đàn ông đã mở nón, quì gối, khi họ thấy nét mặt Bernadette thay đổi tức là Vị Phụ Nữ đã tới. Trong thị kiến này, Bernadette được Đấng Hiện Ra ký thác ba bí mật và dạy một lời cầu nguyện, mà Bernadette giữ kín không hề tiết lộ. Tuy nhiên Bernadette nói cô được Đấng Hiện Ra cho biết cô sẽ sớm lìa bỏ trần thế. Chắc là điều này không nằm trong ba bí mật nói trên.
  • Lần thị kiến thứ tám vào ngày 24 tháng 2 năm 1858. Khi Bernadette ngây ngất vừa đứng lên vừa khóc, nước mắt đầm đìa, nắm chặt chuỗi Mân Côi trong hai bàn tay, và hình như muốn nói với đám đông. Thực vậy, những người ở kề bên Bernadette nghe được tiếng cô nói trong ngất trí:
  • “Hãy ăn năn thống hối! … Hãy ăn năn thống hối! …. Hãy ăn năn thống hối!”
  • Ngày hôm nay có tới 400 hoặc 500 người đến Massabielle với Bernadette và họ xúc động vì những gì họ nhìn và cảm thấy.
  • Lần thị kiến thứ chín xảy ra ngày 25 hoặc 26 tháng 2, 1858. Hôm nay Bernadette đến hang Massabielle rất sớm, trước rạng đông, và Đấng Hiện Ra đến chỉ ngay sau khi Bernadette chưa hết một mầu nhiệm Mân Côi. Đấng Hiện Ra bảo cô:
  • Con hãy đi uống nước suối và rửa mặt con trong đó.”
  • Bernadette đang quì bỗng chỗi dậy, nhưng vẫn trong tình trạng xuất thần. Trước tiên cô quay lưng lại hang đá, nhìn về hướng GAVE DE PAU. Cô quay lại nhìn Đấng Hiện Ra, nhưng không ai khác nhìn thấy, như để xin chỉ dẫn. Cô lại bắt đầu bước đi, nhưng lần này đi vào trong hang đá một chút. Cô quì xuống một chỗ đất khô và bới đất bằng hai bàn tay. Lập tức một ít nước pha bùn phun lên trong chỗ đất trũng cô vừa mới bới. Bernadette vốc một chút nước đó thoa lên mặt, rồi bứt và ăn một vài cọng cỏ dọc theo rãnh nước bùn đó. Cô đứng lên bước đi ra ngoài hang, mặt còn dính bùn, miệng còn nhai cỏ. Một số người cho rằng cô điên và hô hào giữ cô. Bernadette được đưa tới một ngôi nhà ở phố Petites-Fosses trong thị trấn. Trước khi tới ngôi nhà này, Bernadette nói:
  • “Vị Phụ Nữ bảo con đào bới chỗ đất khô đó, uống nước và rửa mặt ở dòng suối, ăn những cọng cỏ con thấy mọc ở đó.”
  • Chiều hôm đó, người ta tới hang đá Massabielle và thấy một dòng suối chảy từ hang đá xuống Gave De Pau, dòng suối càng lúc càng rộng. Nhiều bệnh tật được chữa lành nhờ nước từ suối hang đá Massabielle ngay từ ngày đầu xuất hiện. Tại Lourdes có một người tên Louis Bouriette, được giới y khoa xác nhận, mắc bệnh nan y về mắt, ông sắp bị mù. Ông Louis xin người ta lấy cho ông một ít nước ở suối Massabielle. Ông rửa cặp mắt gần đui của ông bằng nước suối đó và mắt lại được sáng, sự kiện này được vị bác sĩ tại địa phương xác nhận. Nhiều phép lạ khác xảy ra tiếp theo. Người ta náo loạn vì tranh nhau lấy nước suối đến độ cảnh sát và quân đội phải giữ trật tự.
  • Sáng sớm hôm sau, bà Jeanne Crassus, bị bại một tay đã mười năm, ngâm bàn tay bị bại của bà trong suối một lúc, rồi rút bàn tay lên thì bàn tay bà trở lại bình thường.
  • Bernadette thị kiến Đấng Hiện Ra lần thứ mười, ngày 27 tháng 2, 1858, lúc quá 6g30 sáng. Ngay khi Bernadette tới và quì xuống, mọi người đều im lặng. Lúc sau người ta thấy Bernadette trong tình trạng xuất thần, nhiều lần sụp xuống hôn đất. Về sau chị cho biết Đấng Hiện Ra bảo chị: “hôn đất để đền bù cho những kẻ tội lỗi.”
  • Và Đấng Hiện Ra trao cho chị sứ mệnh khác nữa:
  • “Con hãy đi xin các linh mục xây dựng một thánh đường tại đây.”
  • Bernadette thi hành sứ mệnh, báo cho cha Peyramale lời yêu cầu của Đấng Hiện Ra: “Con hãy đi xin các linh mục xây dựng một thánh đường tại đây.” Sau khi cha Peyramale chất vấn Bernadette xong, chị đứng lên, cúi chào cáo biệt cha.
  • Bernadette tới hang đá Massabielle đón Đấng Hiện Ra, lần thứ mười một, khoảng trước 7 giờ sáng Chúa Nhật, 28-2-1858. Lúc đó đã có độ chừng hai ngàn người hiện diện với cả một đại đội lính giữ trật tự, đám đông đã tới đây từ 3 hoặc 4 giờ sáng, bất chấp mưa lớn và lạnh cóng. Bernadette xuất thần sau khi đọc hết ba mầu nhiệm Kinh Mân Côi. Bất chợt, cô cố gắng đi bằng đầu gối, đứng lên, lại quì xuống đi bằng đầu gối, một hình thức làm việc phạt xác đền tạ mà Đấng Hiện Ra bảo cô. Trong lần thị kiến này, Bernadette trình lên Đấng Hiện Ra yêu cầu của cha Peyramale: “Xin Đấng Hiện Ra cho biết phương danh của Người, và xin Người chứng minh sự hiện diện của Người bằng cách làm cho cây tầm xuân nở rộ hoa tức thì.”
  • Trên đường về, Bernadette tới nhà cha sở báo cho ngài biết cô đã thi hành lệnh của cha, nhưng Vị Phụ Nữ chỉ mỉm cười.
  • Bernadette và gia đình là đối tượng của chất vấn, hăm dọa của chính quyền, nhất là từ sau lần thị kiến từ mười một trở đi. Dân chúng đã tin rằng Đấng Hiện Ra chính là Đức Trinh Nữ Maria.
  • Bernadette đọc kinh Mân Côi khi quì tại hang đá và nói:
  • Đấng Hiện Ra yêu cầu cầu nguyện cho các người tội lỗi.”
  • Vậy thì hỏi rằng Đấng Hiện Ra có thể là ai khác ngoài Đức Mẹ?
  • Nhiều người nói họ thấy Đức Trinh Nữ tại hang đá và nghe tiếng nói từ đâu đó. Nhiều trẻ nhỏ ngất trí.
  • Thứ Hai, 1 tháng 3, 1858, Bernadette tới Massabielle, có cha mẹ đi theo. Tại đó đã có khoảng 1300 người và có cả cảnh sát hiện diện.
  • Và chúng ta nghe lời ông Estrade, hiện diện trong buổi thị kiến thứ mười hai này kể lại: “Bernadette, vừa mới từ mỏm đá trở lại, quì xuống và lấy trong túi ra xâu chuỗi như mọi khi, ngay khi cô lại ngước mắt lên bụi cây, nét mặt cô buồn bã … Cô hết sức đưa xâu chuỗi lên … Ngưng một chút cô bỏ xâu chuỗi vào túi. Rồi lấy ra xâu chuỗi khác và đưa lên cao như lần trước. Vẻ đau buồn trên nét mặt cô biến mất. Cô cúi đầu, mỉm cười vàlại bắt đầu đọc kinh Mân Côi.”
  • Về sau Bernadette kể lại rằng: “Trên đường tới Massabielle, một bà đưa cho con xâu chuỗi của bà (xâu chuỗi đẹp mắc tiền) và yêu cầu con dùng khi lần hạt ở hang đá. Con hứa với bà ấy và đã dùng xâu chuỗi đó.
  • Nhưng Đức Mẹ hỏi con: ‘Xâu chuỗi của con đâu?’
  • Con đáp: ‘ở trong túi của con.’   Đức Mẹ nói: ‘Đưa cho Mẹ coi.’
  • Con đưa tay vào túi lấy xâu chuỗi của con ra và đưa lên cao cho Đức Mẹ coi. Đức Mẹ bảo con:
  • ‘Con hãy dùng xâu chuỗi đó’; và con dùng để cầu nguyện ngay.”
  • Sau thị kiến, Bernadette trở lại chuyển tới cha Peyramale thông điệp của Đấng Hiện Ra. Cô nói: “Vị Phụ Nữ bảo con rằng Người muốn dân chúng rước kiệu tới hang đá …” Cha Peyramale lại hỏi tên của Vị Phụ Nữ là gì. Bernadette đáp rằng cô không biết. Và cha Peyramale nặng lời chỉ trích cô.

Về sau Bernadette nhờ bà Dominiquette Cazenave dẫn trở lại gặp cha sở, và được cha bình tĩnh nghe. Lần này Bernadette nhắc lại lời Đấng Hiện Ra về yêu cầu mới và nhắc lại yêu cầu trước là các linh mục xây một thánh đường tại Massabielle. Cha sở hứa xây một thánh đường lớn tại đó nếu Bernadette xin được phương danh của Đấng Hiện Ra. Ngài nói:

  • “Con hãy nói với Người sai con đến đây, như con khẳng định, rằng nếu Người muốn cha tin con, Người phải làm cho bụi tầm xuân trổ bông; nếu Đức Trinh Nữ muốn có cuộc rước kiệu, Người phải nói với Đức Giám Mục chứ không nói với cha.”
  • Trong thị kiến Đức Mẹ hiện ra lần thứ mười hai, chúng ta lưu ý tới một chi tiết là Đức Mẹ bảo Bernadette dùng xâu chuỗi giá 2 xu (cents) của cô và khuyến cáo cô giữ xâu chuỗi đó vì là kho tàng quí báu của cô. Đây cũng là bài học về lòng khiêm nhượng, yêu mến đức thanh bần, vì Thiên Chúa ghê tởm sự khoe khoang phô trương ngay cả trong việc đạo đức.
  • Đức Mẹ hiện ra tại Massabielle lần thứ mười ba vào ngày 2 tháng 3, 1858. Hôm nay khi Bernadette tới Massabielle thì đã có đông người hiện diện. Thị kiến lâu chừng nửa giờ. Sau thị kiến, Bernadette đi cùng với hai bà cô/dì là Basile và Bernarde tới nhà cha sở. Cha Peyramale lớn tiếng hỏi Bernadette: “Mi vẫn tới Massabielle hả! Mi trở lại đây làm gì?”
  • Bernadette nói với ngài: “Vị Phụ Nữ nói với con ‘Người muốn dân chúng đi rước đến hang đá’.”
  • Cha sở lại hỏi: “Thế phương danh của Vị Phụ Nữ là gì?”
  • Bernadette nói:”Thưa cha, con không biết. Người không muốn cho biết.”
  • Sau lời đối thoại này, cha Peyramale lớn tiếng nói nặng Bernadette. Nhưng cô và hai bà cô/dì bình tĩnh chào cáo lui.
  • Sau đó Bernadette gặp bà Dominiquette Cazenave và nài nỉ bà dẫn cô tới cha sở lần nữa. Lần này, cha sở bình tĩnh tiếp Bernadette và cô nhắc lại hai yêu cầu của Đấng Hiện Ra. Cha sở bảo cô:
  • “Con hãy hỏi Vị Phụ Nữ phương danh Người là gì, và khi chúng ta biết phương danh Người, chúng ta sẽ xây dâng Người một nhà nguyện. Không phải nhỏ, mà là nhà nguyện thiệt lớn.”
  • Ngài nói tiếp:
  • “Con hãy nói với Vị Phụ Nữ, Người phái con, như con xác nhận,rằng nếu Người muốn cha tin con, Người phải làm cho bụi tầm xuân trổ hoa; nếu Đức Trinh Nữ muốn có đám rước, Người phải nói với đức giám mục chứ không phải nói với cha.” Đức Mẹ hiện ra lần thứ mười bốn, ngày 3 tháng 3, 1858. Khi Bernadette tới Massabielle lúc 7 giờ sáng, đã có khoảng ba ngàn người chờ sẵn, nhưng Đức Mẹ không hiện ra. Bernadette đi về. Đến 8g30, Bernadette được ông chú/cậu, ông André Sajous, dẫn đi đường tắt tới Massabielle. Khi tới nơi, như thường lệ, cô lấy xâu chuỗi ra và cầu nguyện kinh Mân Côi, Đức Mẹ hiện ra chỉ ít phút sau. Về sau, Bernadette nhắc lại lời Đức Mẹ nói với cô lúc 8g30 về lý do Đức Mẹ không hiện ra lúc 7 giờ:
  • “Con không thấy Mẹ lúc sáng nay, vì có một số người muốn xem con trông như thế nào khi Mẹ hiện diện tại đây, nhưng những người đó không xứng đáng vì họ đã ngủ đêm tại hang đá và làm ô uế hang đá.”
  • Trong lần thị kiến lúc 8g30 ngày 3-3-1858, Đức Mẹ cũng bảo Bernadette nhắc lại với cha sở các yêu cầu của Người. Lần này cha sở tiếp Bernadette cách khoan từ. Ngài hỏi:
  • “Con đến nói cho cha biết điều gì đây? … Vị Phụ Nữ nói gì với con?”  Bernadette nói:
  • “Người mỉm cười khi con nói với Người rằng cha xin Người làm phép lạ. Con xin Người làm cho bụi hồng, ở gần Người, nở hoa; Người mỉm cười. Nhưng Người muốn có nguyện đường.”
  • Cha Peyramale hỏi:
  • “Con có tiền để xây nhà nguyện đó không?”
  • “Con không có.”
  • “Cha cũng chẳng có! Con hãy xin Vị Phụ Nữ cho con một số tiền.”
  • Đến đây Bernadette cáo từ ra về.
  • Ngày 4 tháng 3, 1858, là hẹn Đức Mẹ hiện ra lần thứ mười lăm. Từ 11 giờ khuya đêm trước, chính quyền đã kiểm soát khu vực Massabielle. Lúc 5g sáng đã có những toán cảnh sát đến khu vực. Phái đoàn các bác sĩ y khoa tới nhà để thẩm vấn Bernadette. Khoảng 7 giờ, Bernadette tới hang đá thì đã có khoảng hai mươi ngàn người chờ sẵn.
  • Ngay khi tới nơi, Bernadette quì xuống cầu nguyện kinh Mân Côi như thường lệ, và cô chỉ mới đọc xong kinh Kính Mừng thứ ba trong mầu nhiệm thứ hai, thì mắt cô nhìn xoáy vào phía trên bụi tầm xuân. Đức Mẹ hiện ra và Bernadette tiếp tục cầu nguyện. Khi lần chuỗi xong, ba lần Bernadette đưa tay lên làm dấu Thánh Giá đều không thể đưa tay lên được, mãi lần thứ bốn mới được. Về sau cô nói lại lý do: “Vì tới lúc đó Đức Mẹ mới lần chuỗi xong và làm dấu Thánh Giá.” Bernadette đứng lên và người chị/em họ đi theo vào trong hang đá, chị đứng đó, mắt vẫn gắn vào đối tượng vô hình trước mặt. Về sau chị nói: “Lúc đó Đức Mẹ tới gần chị, có thể đưa tay ra chạm vào Đức Mẹ.”
  • Sau thị kiến, Bernadette đứng lên ra đi mà không nói với ai lời nào. Chị đi thẳng tới gặp cha sở để nhắc lại với cha về hai yêu cầu của Đức Mẹ. Cha đáp:
  • “Con hãy xin Vị Phụ Nữ diễm tuyệt cho biết phương danh Người … Nếu cha biết rằng chính là Đức Trinh Nữ, cha sẽ tiến hành mọi điều Người muốn, nhưng một lần nữa, vì cha không biết, cha không làm gì được. … Người có bảo con trở lại đó nữa không?”
  • “Thưa cha, không ạ.”
  • “Người có nói với con rằng Người sẽ không bao giờ trở lại nữa không?”
  • “Thưa cha, Người không nói điều đó.”
  • “Vậy, nếu Người trở lại, con xin Người cho con biết phương danh Người.”
  • Các ngày từ 5 đến 24 tháng 3, 1858, Bernadette không cảm thấy muốn đến hang đá Massabielle. Trong hai mươi ngày này, biết bao là bàn thảo và nghi vấn đặt ra. Nhưng Bernadette vẫn vô tư như trước ngày và trong những ngày Đức Mẹ hiện ra. Chính quyền và giáo quyền theo dõi, nhận định và dự liệu.
  • Mặc dầu Bernadette vắng mặt, từ ngày 5-3-1858 trở đi, ngày nào cũng có những đoàn các thiếu niên và người lớn đi thành đoàn rước tới hang đá cầu nguyện. Người ta đặt những biểu hiệu tôn giáo và những hòm tiền dâng cúng trong hang đá mà số tiền thu được hằng ngày được ký thác nơi cha Peyramale.
  • Ngày Lễ Truyền Tin, 25-3-1858, Bernadette thức giấc và cảm thấy hết sức ước ao tới hang đá. Nhưng cha mẹ cô bắt cô chờ đợi tới 5 giờ sáng để cả gia đình cùng đi, và lần này Đức Mẹ hiện ra (Đức Mẹ hiện ra lần thứ mười sáu). Bernadette kể lại:
  • “Người đứng đó, lặng lẽ mỉm cười và nhìn đám đông y hệt một hiền mẫu âu yếm nhìn đàn con của Người. Khi tôi quì trước mặt Người, tôi xin Người tha lỗi cho sự chậm trễ của tôi. Người vẫn nhân từ ra dấu cho tôi biết không cần phải xin lỗi. Kế đó tôi nói với Người lòng tôi yêu mến và tưởng nhớ Người, và tôi sung sướng biết chừng nào được gặp lại Người. Sau khi đã nói hết nỗi lòng của tôi, tôi bắt đầu cầu nguyện kinh Mân Côi.”
  • Khi bầu ánh sáng hình bầu dục di chuyển từ bụi tầm xuân xuống gần đến đất và ngừng lại phía dưới vòm cửa hang đá. Lập tức Bernadette đứng dậy đi về phía Đấng Hiện Ra. Cô đứng đó, tay cầm ngọn nến cháy. Lúc này Bernadette nhất định tìm biết phương danh của Vị Phụ Nữ. Bernadette hỏi tới ba lần. Lời Bernadette: “Thưa Bà, xin Bà vui lòng cho con biết Bà là ai?”
  • “Đấng Hiện Ra” bắt đầu mỉm cười.
  • Nhưng Bernadette nhắc lại câu hỏi lần thứ ba.
  • “Đấng Hiện Ra, tới lúc này vẫn chắp tay, mở hai tay ra và hạ thấp xuống như trong ảnh Đức Bà Hay Làm Phép Lạ, xâu chuỗi tuột xuống đến cổ tay: chính là lúc Người chúc lành cho địa cầu được cứu chuộc. Sau cùng, Người ngước mắt lên trời, theo dáng điệu chúc tụng Magnificat, Người nói ra điều bí mật của Người: ‘MẸ LÀ ĐẤNG VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI.’ Kế đó, Đức Mẹ mỉm cười và biến đi.”
  • Mệnh Lệnh Ðức Mẹ Fatima:
  • Năm 1917, khi hiện ra với ba trẻ nhỏ ở Fatima, Ðức Mẹ đã truyền dạy phải thực hiện 3 mệnh lệnh Fatima để cứu nhân loại và cứu các linh hồn khỏi lửa luyện ngục. Nếu người ta thực thi những mệnh lệnh này thì thế giới sẽ có hòa bình. Ba Mệnh lệnh là:
  1. Ăn năn đền tội, và cải thiện đời sống
  2. Tôn sùng Trái Tim vẹn sạch Ðức Mẹ
  3. Lần Chuỗi Mân côi

Đọc thêm các chương khác

Cuộc Chiến Giữa Giáo Hội và Ma Quỷ

Hội Tam Điểm

Phá Hủy Đạo Công Giáo

Liên Hiệp Quốc là Chính Phủ Toàn Cầu

Những Dấu Hiệu Ma Quỷ

Thiên Chúa Hỗ Trợ Giáo Hội

Bí Mật Fatima

Mẹ Hiện Ra Lần Thứ 4

Quyền Năng Chuỗi Mân Côi