Điều gì tạo nên sự hiệp thông Kitô giáo

Điều gì làm cho tín hữu kitô chúng ta hiệp nhất? Khi nào chúng ta là một gia đình trong đức tin?

Vấn đề quan hệ qua về giữa các giáo hội chúng ta ngày nay là một vấn đề quan trọng, quan trọng và đau đớn. Tôi khá lớn tuổi để có thể nhớ lại một lần khác, thật ra là hai lần khác. Đầu tiên khi còn là một cậu bé lớn lên trước Công đồng Vatican II, việc liên lạc giữa các kitô hữu không phải là công giáo la mã với nhau là chuyện cấm kỵ. Chuyện này không thể có. Một người không theo quy tắc có thể dám liều, nhưng họ sẽ được nhắc nhở nếu chuyện này được biết đến. Rồi mọi sự đã thay đổi. Trong những năm sứ vụ đầu tiên, tôi làm việc ở nhiều giáo phận và trong các dịp đặc biệt như đám cưới, đám tang, các buổi gặp mặt giữa các giáo hội thì việc liên lạc với nhau là phổ biến, ngay cả còn được khuyến khích. Là linh mục chủ sự trong các buổi gặp gỡ này, trong tinh thần tích cực, tôi được phép mời những người không công giáo nhận bí tích Thánh Thể, trong chừng mực đức tin riêng và cảm nhận của họ cho phép.

Rồi thời gian đó đã kết thúc. Trong vòng mười năm, vào giữa những năm 1990, những người trong chúng tôi chủ sự các buổi lễ công giáo la mã được yêu cầu không được mời các người công giáo không theo la mã nhận bí tích Thánh Thể dù trong bất cứ dịp nào. Lý do đưa ra, bí tích Thánh Thể giữa tín hữu chúng ta là một hành vi mật thiết, chúng ta chỉ có thể chia sẻ với nhau, và sự chia sẻ mật thiết này, cũng như trong hôn nhân là phải trung thực và có ý nghĩa, đòi hỏi chúng ta phải hiệp thông với nhau; các khác biệt về giáo điều, giáo hội học, về một số vấn đề đạo đức đơn giản là chúng ta không hiệp thông trọn vẹn. Hơn nữa, lập luận cho rằng nỗi đau không thể nhận được sự hiệp thông với các giáo hội khác sẽ là động lực thúc đẩy chúng ta cố gắng hơn nữa để cùng nhau học hỏi chung quanh giáo điều, giáo hội và đạo đức của chúng ta.

Vậy cần phải nói thêm gì về điều này? Trước hết, đó là sự thật và nó có giá trị của nó, ngoại trừ một ý tưởng được gợi ra, phải loại ra khỏi lập luận và phải được xem xét kỹ lưỡng, cụ thể là phải hiểu khái niệm chúng ta chưa hiệp thông đủ với người khác để chia sẻ bí tích Thánh Thể vì các khác biệt về giáo điều, giáo hội học và một số vấn đề đạo đức.

Là tín hữu kitô, hiệp thông với nhau trong đức tin có nghĩa là gì, ít nhất là đủ hiệp thông để nhận bí tích Thánh Thể ở bàn của người khác? Điều gì tạo nên sự mật thiết đích thực trong đức tin?

Về mặt thần học, rõ ràng bí tích rửa tội làm cho chúng ta cùng ở trong một gia đình. Tất cả tín hữu kitô đều nắm vững điều này và cả Tin Mừng. Thánh Phaolô thừa nhận thêm một phẩm chất liên quan đến việc rước lễ. Tuy nhiên ngoài vấn đề thần học, còn có vấn đề về giáo hội học: nếu cộng đồng kitô hữu chúng ta chia sẻ với nhau qua phép rửa tội, thì chúng ta thuộc về các giáo hội khác nhau và các gia đình sẽ có khuynh hướng ăn riêng trong nhà của họ. Đúng thêm một lần nữa. Nhưng sau đó một câu hỏi khác được đặt ra: khi nào thì chúng ta ăn ở một gia đình khác và khi nào thì không?

Câu hỏi sâu sắc hơn cần đặt ra là, điều gì tạo nên được sự mật thiết trong đức tin và điều gì tạo nên sự mật thiết để biện minh cho việc cùng nhận bí tích Thánh Thể chung, trước hết, không phải là sự liên kết trong giáo điều hay trong giáo hội nhưng trong sự hiệp nhất với Thần Khí. Điều gì làm cho tín hữu kitô chúng ta hiệp nhất? Khi nào chúng ta là một gia đình trong đức tin?

Có lẽ không có bản văn nào rõ hơn là chương 5 của thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Ga-lát. Ngài bắt đầu bằng cho chúng ta biết điều gì không đem lại sự nên một trong Chúa Thánh Thần. Chúng ta không sống trong Thần Khí cũng không kết hiệp với nhau, nếu chúng ta sống trong xung đột, ghen tương, giận hờn, cãi vã, bất đồng, phe phái, ghen tị, thờ ngẫu tượng, theo phù thủy hoặc ngoại tình. Đó là những dấu hiệu không thể sai lầm làm cho chúng ta không hiệp thông với nhau. Nhưng nếu chúng ta sống hiệp thông đích thực, mật thiết trong đức tin, trong cùng một gia đình thì khi đó chúng ta sống trong niềm vui, đức ái, kiên nhẫn, tốt lành, đau khổ, trung thành, dịu dàng và khiết tịnh. Sống bên trong những điều này là những gì tạo nên sự hiệp thông kitô giáo, tạo thành một đơn vị, tạo tình mật thiết với nhau. Các khác biệt về một vài vấn đề liên quan đến giáo điều, giáo hội và đạo đức trên thực tế chỉ là thứ yếu. Điều quan trọng nhất là liệu quả tim chúng ta có đầy lòng bác ái hay giận dữ, tốt lành hay bè phái, bình an hay xung đột, thiếu kiên nhẫn hay khiết tịnh. Chúng ta hiệp thông nhiều hơn, kết hiệp trong đức tin nhiều hơn với người khác giáo phái nhưng có quả tim được nung nấu bởi đức ái, có lòng kiên nhẫn, có lòng tốt hơn là với người trong cùng giáo hội nhưng họ có quả tim giận dữ, ghen tị và phán xét. Sự khác biệt về giáo hội không phải là tiêu chí thực sự.

Điều gì tạo nên sự mật thiết biện minh cho việc rước lễ liên hiệp thông? Tôi không phải là giám mục và quyết định mục vụ về vấn đề này không thuộc thẩm quyền của tôi. Là người con trung thành với giáo hội, tôi tin tưởng Chúa Thánh Thần hoạt động qua những người, qua các văn phòng được ủy thác để đưa ra quyết định này. Tuy nhiên là thần học gia, tôi cũng có một nhiệm vụ phải làm. Công việc của tôi là xem xét các vấn đề này và mang đến các tài liệu thần học và Thánh Kinh.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đường về nhà Cha 3

Bài gẫm 3: ĐỪNG LÃNG PHÍ THỜI GIỜ.

I. Mọi sự qua đi với sự chết.

—–Hỡi bạn! Hình ảnh sự chết nhắc nhở chúng ta một ngày kia chúng ta sẽ trở về tro bụi, vì chúng ta là bụi tro. Hãy bình tâm suy-nghĩ để nhớ kỹ một sự thật: Có thể một ít năm nữa, ít tháng hay ít ngày, ít giờ nữa không chừng, tôi sẽ nằm bất động dưới mồ, như lời than thở của Thánh Gióp:
“Với mồ huyệt, tôi sẽ kêu lên, mày là cha ta, với giòi bọ, mi là mẹ ta, và là chị ta.”(Gióp 17: 14)
II. Cấp tốc hành động.
—–Ở trần gian, đến một ngày nào đó mọi sự sẽ chấm dứt. Nếu chúng ta chết và mất linh hồn đời đời, thì chúng ta sẽ mất tất cả, như lời Thánh Lô-ren-sô Gút-ti-ni-ăng:
“Hãy nhớ rằng nhất định chúng ta sẽ chết.”
—– Một khi đã chết rồi, chúng ta còn ước mong làm gì thêm được nữa? Tốt nhất là hiện giờ còn sống, chúng ta luôn nhớ rằng một ngày kia chúng ta sẽ chết, để làm ngay những gì có thể làm được.
Thánh Bô-na-ven-tu-ra nói:
“Để lái tàu đi đúng đường, thuỷ-thủ phải giữ vững bánh lái. Cũng vậy, muốn có đời sống tốt lành, người ta phải luôn nghĩ đến sự chết.”
Thánh Bê-na-đô cũng nói:
“Hãy nhìn lại những tội-lỗi thời niên thiếu để tự xấu hổ; hãy nhìn lại những lỗi lầm thời thanh xuân để buồn phiền; hãy nhìn đến đời sống bê-tha hiện tại để run sợ và sữa chữa.”
—–Nhìn các ngôi mộ ở nghĩa trang, Thánh Cac-ni-lô Đệ Lê-li tự nói với mình:
“Nếu những người chết ở đây được sống lại, họ sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để được sống đời đời.”
III. Hoa trái cuộc sống.
—–Phần tôi, tôi hiện đang có thời giờ, tôi phải làm gì cho phần rỗi của tôi? Đấng thánh tự vấn lương-tâm với tất cả lòng khiêm-nhường. Phần chúng ta, hỡi bạn đọc, có thể chúng ta phải run sợ, khi nghe Chúa quở trách cây vả:
“Đã ba năm qua, Ta đến tìm nơi cây vả này, mà không thấy một quả nào”
(Luca 13: 7).
—–Chúng ta đã được sống hơn ba năm trên trần gian này, chúng ta đã trổ sinh được những hoa quả nào? Thánh Bê-na-đô nhấn mạnh:
Hãy suy nghĩ kỹ: Chúa không phải chỉ tìm hoa, nhưng Người tìm quả; nghĩa là không phải chỉ có ý muốn và những quyết tâm tốt lành mà thôi, nhưng cần những hoạt-động tốt đẹp nữa.”
—– Hãy lợi-dụng ngay thời giờ hiện tại mà Chúa thương dành cho ta. Đừng chờ đến lúc không còn thì giờ làm việc lành nữa, để nuối tiếc trước mệnh-lệnh cấp thiết của Chúa:
—–Này, thời giờ đã hết, hãy rời khỏi trần gian.” Mau lên đi! đây là thì giờ thuận tiện để làm việc lành. Mau lên đi! những gì qua, là qua luôn.

LỜI NGUYỆN CẬY TRÔNG.—–Lạy Chúa, phải chăng con là cây vả kia, để đáng nghe những lời khủng-khiếp của Chúa:
“Hãy chặt nó đi; để nó choán đất làm gì!” (Luca 13: 7).
—– Đúng thế, Lạy Chúa, bao năm qua sống trên trần gian, con đã nảy sinh ra không gì khác hơn là những cỏ dại và gai góc tội-lỗi.
—–
Nhưng Chúa không để con phải thất vọng, như lời Chúa đã phán:
“Hãy tìm, sẽ gặp.”
—– Lạy Chúa, con đang khao khát tìm Chúa, và ước mong tìm được những hồng-ân của Chúa. Con đau đớn ăn-năn, vì những xúc-phạm của con đối với Chúa. Ước gì con được chết vì sầu khổ các lỗi lầm của con.

—–Con đã chạy trốn Chúa, nhưng con khao-khát hồng-ân Chúa, do lòng lân-tuất Chúa hơn là do công-nghiệp của con. Từ nay, con không chống lại lời mời gọi của Chúa nữa. Con hiến dâng hoàn toàn xác hồn con cho Chúa, không dành lại điều gì, vì Chúa dâng-hiến mọi sự cho con trên thánh-giá. Con hoàn toàn thuộc về Chúa. Xưa Chúa đã phán:
“Nếu các con lấy danh Ta mà xin sự gì, Ta sẽ ban cho.” (Gioan 14:14).
—– Lạy Chúa Giêsu, tin tưởng vào lời hứa trọng đại của Chúa, xin Chúa ban cho con lòng yêu mến và các hồng-ân của Chúa. Xin cho lửa tình yêu và muôn hồng ân tràn ngập hồn con, nơi mà xưa kia tội lỗi đã ngập tràn.

—– Con cảm tạ Chúa vì muôn hồng-ân Chúa ban. Khi mà con được Chúa soi sáng, đó là dấu chỉ Chúa đã nghe lời con.

—–Lạy Chúa Giêsu, xin lắng nghe lời con. Xin đốt cháy trong con lửa tình yêu của Chúa, để con chỉ ước muốn những gì đẹp lòng Chúa.

—– Lạy Mẹ Maria, đấng thần thế bầu-cử cho con, xin lắng nghe lời con và bầu-cử với Chúa Giêsu cho con.

Tác giả: Thánh An-Phong-Xô Li-go-ri 

 (Phêrô Bùi-Đắc-Hữu, dịch)

Đường về nhà Cha

Bài gẫm 2: THỂ XÁC CON NGƯỜI.

 I. Cuộc sống theo những đòi hỏi thể xác.

Thánh Gio-an Chry-sô-tôm đã nói: “Hỡi các tín hữu, hãy đến các mồ mã, nhìn ngắm tro bụi và thấy rõ!”

Thi thể người qua đới thối nát: xương rơi từng mãnh, như lời Tiên-tri Đa-ni-en: “Tất cả ra như trấu trên sân lúa mùa hè bị gió cuốn đi, không còn dấu vết đâu nữa.” (Đa-ni-en 2: 35).

Hỡi người thuộc dòng dõi quí-tộc, quí ngài được gọi vào đời. Bao người ước ao được địa-vị của quí ngài, nhưng hiện giờ quí ngài ở đâu? Vào phòng, quí ngài không còn ở đó nữa. Áo quần, vật dụng đã được phân chia cho người khác. Muốn thấy quí ngài chỉ còn cách ra nghĩa-địa. Hình-hài đẹp đẽ thuở nào ở đâu, mà nay vỏn-vẹn chỉ còn một nắm xương tàn nằm yên trong lòng đất.

Lạy Chúa, thể xác quí ngài đã được nếm đủ mùi cao-lương mĩ-vị, mặc đủ các thứ gấm-vóc lụa-là, kẻ hầu người hạ, nhưng mọi thứ đó hiện giờ còn ích gì!

II. Cuộc sống biết hãm dẹp thể xác.

Lạy các Thánh, các Ngài thật khôn ngoan vì biết hãm dẹp thể xác để tỏ lòng mến Chúa, vì chỉ một mình Chúa đáng mến yêu ngay ở trần thế. Bây giờ xương các Ngài được lưu giữ và tôn-kính ở trong các hộp bằng vàng, hồn thiêng xinh đẹp các Ngài đang sống trong hạnh-phúc chan hòa, chờ ngày thế mạt, hồn các Ngài hợp với xác để hát mừng Chúa trong đoàn người chiến-thắng khải-hoàn, vì đã chịu đau khổ với Chúa Giê-su tử-nạn suốt đời. Yêu thể xác thật sự là bắt nó hãm dẹp những gì bất chính để được hạnh-phúc đời đời, là biết từ bỏ những thú vui tội-lỗi, vì nó làm cho ta đau khổ ở cuộc sống vĩnh-viễn đời sau.

LỜI NGUYỆN MẾN YÊU.

Lạy Chúa, thể xác con đã bao phen làm mất lòng Chúa sẽ làm mồi cho giòi bọ. Con không đau buồn vì thể xác này sẽ hư nát, trái lại con đau đớn vì con đã dùng thể xác xúc-phạm đến Chúa.

Con không thất vọng vì lượng từ-bi hải-hà của Chúa, vì Chúa hằng chờ đợi con, hằng tha thứ cho con. “Chúa hằng chờ đợi để tha-thứ gia-ân cho các ngươi.” (I-sai-a 30 : 18)

Chúa sẵn sàng tha thứ, nếu con biết hối-cải. Lạy Chúa rộng lượng từ-bi, con hết lòng ăn-năn vì đã bao phen xúc phạm đến Chúa. Như Thánh Catharina Gênoa, con xin thưa với Chúa: “Lạy Chúa Giêsu, con sẽ không phạm tội nữa, không bao giờ con dám phạm tội nữa.”

Không bao giờ con dám lợi-dụng lòng kiên-nhẫn chờ đợi của Chúa. Lạy Chúa, Chúa chết tất-tưởi trên Thánh-giá vì lòng yêu con. Sao con dám chờ đợi đến phút chót mới đáp lại lòng thương yêu của Chúa.

Con không dám đợi đến giờ chết mới hôn ẳm Chúa. Ngay từ bây giờ, từ giờ phút này, con xin trở lại với Chúa.

Đã bao năm con sống ở trần gian xa cách tình yêu Chúa. Xin Chúa chiếu-dõi ánh sáng trên con và ban sức mạnh cho con, để con yêu Chúa suốt cuộc đời còn lại của con.

Con sẽ không chờ đến giờ chết mới yêu Chúa, nhưng ngay từ giờ phút này con xin yêu Chúa, con hôn ẳm Chúa, con kết-hợp chặt chẽ với Chúa và thề-hứa sẽ không bao giờ con dám xa lìa Chúa.

Lạy Mẹ trinh-khiết vẹn tuyền, xin Mẹ thắt-chặt con với Chúa Giêsu, con Mẹ, để đừng bao giờ con xa lìa Người.

(Sách dọn mình chết lành)

Tác giả: Thánh An-Phong-Xô Li-go-ri

(Phêrô Bùi-Đắc-Hữu, dịch)

…….

Cuộc đời Môsê

Carlo Maria Martini[1]

Dẫn nhập: Trong các bài sau đây, chúng ta sẽ cùng nhau suy tư và chiêm niệm về “Cuộc đời Môsê”. Cuộc đời của ông là một hành trình đức tin, cuộc đời chúng ta cũng vậy. Hơn nữa, chiêm niệm cuộc đời Môsê sẽ giúp chúng ta chiêm niệm cuộc Vượt Qua của Đức Giêsu, của Giáo Hội và của mỗi người chúng ta.

Nhờ những bài suy niệm, chúng ta sẽ gặt hái thêm kiến thức phong phú về Kinh Thánh, đặc biệt là sách Xuất Hành, vì tác giả, Đức Hồng Y Martini, là một nhà chú giải kinh thánh lỗi lạc, mặc dù “Cuộc đời Môsê” được sắp xếp theo trình tự tuần Linh Thao theo thánh Inhaxiô.

                                                               Linh mục Mỹ Sơn, Long Xuyên

BÀI NĂM (PHẦN I)

MÔSÊ, TÔI TỚ THIÊN CHÚA

“Bà Mi-ri-am và ông A-ha-ron phản đối ông Mô-sê về người đàn bà xứ Cút mà ông đã lấy, vì ông đã lấy một người đàn bà xứ Cút làm vợ. Họ nói: “ĐỨC CHÚA chỉ phán với một mình Mô-sê sao? Người đã chẳng phán với cả chúng ta nữa ư?” Và ĐỨC CHÚA nghe được. Ông Mô-sê là người hiền lành nhất đời. Đột nhiên ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê, ông A-ha-ron và bà Mi-ri-am: “Cả ba hãy đi ra Lều Hội Ngộ!” Và ba người đã ra. ĐỨC CHÚA ngự xuống giữa đám mây và dừng lại ở cửa Lều. Người gọi ông A-ha-ron và bà Mi-ri-am, và hai người đi ra. Người phán: “Hãy nghe Ta nói đây !

Nếu trong các ngươi có ai là ngôn sứ, thì Ta, ĐỨC CHÚA, Ta sẽ tỏ mình ra cho nó trong thị kiến, hoặc sẽ phán với nó trong giấc mộng. Nhưng với Mô-sê tôi tớ Ta thì khác: tất cả nhà Ta, Ta đã trao cho nó. Ta nói với nó trực diện, nhãn tiền, chứ không nói bí ẩn, và hình dáng ĐỨC CHÚA, nó được ngắm nhìn. Vậy tại sao các ngươi không sợ nói động đến Mô-sê, tôi tớ Ta?”

ĐỨC CHÚA nổi cơn thịnh nộ với họ mà bỏ đi. Khi mây bốc lên khỏi Lều, thì bà Mi-ri-am bị cùi, mốc thếch như tuyết ; ông A-ha-ron quay nhìn bà Mi-ri-am, thì kìa bà đã bị cùi”. (Dân số 12, 1-10).

– Trong sách dân số (12, 7), Môsê được gọi là tôi tớ Thiên Chúa “Nhưng với Môsê tôi tớ Ta thì khác; tất cả nhà Ta, Ta đã trao cho nó”. Danh hiệu này được lập lại trong Đệ Nhị Luật 34, 5 “Ông Môsê, tôi tớ Thiên Chúa, qua đời tại đó, trong đất Mô-áp, theo lệnh của Giavê.”

– Xh 19, 3-8 & 19,16 – 20,4: Môsê phục vụ Lời Chúa.

– Thơ gởi các tín hữu Do Thái 3,5 cũng lập lại lời trong Dân số: “Ông Mô-sê đã trung thành khi thi hành chức vụ đối với toàn thể nhà Thiên Chúa, với tư cách là tôi tớ để làm chứng về các điều Thiên Chúa sẽ phán truyền”.

Đây là một danh hiệu cao quí. Tất cả mọi việc Môsê đã làm cho dân Israel, làm ông xứng đáng được gọi là Tôi Tớ Thiên Chúa. Chúng ta cũng vậy. Cuộc đời chúng ta có một mục đích là sống làm sao để xứng đáng được gọi là Tôi Tớ Thiên Chúa.

+ Xin ơn: Khiêm tốn phục vụ như Môsê.

+ Hiến dâng trọn vẹn để phục vụ Chúa và anh em như Môsê và như Chúa Giêsu.

+ Phục vụ mọi người không loại trừ ai và phục vụ đúng nhu cầu.

A. VIỆC PHỤC VỤ CỦA MÔSÊ

Khi Thiên Chúa gọi ông nơi bụi gai cháy đỏ, có lẽ Môsê vẫn tưởng mình sẽ dẫn dắt dân Israel như một Pharaô oai hùng, dù gặp nhiều khó khăn, thử thách. Ông nghĩ mình sẽ dẫn dắt dân bằng phủ việt của một vị vua bách chiến bách thắng. Nhưng trong thực tế, những việc ông làm lại là những việc phục vụ hết sức khiêm tốn, hết sức bình thường.

1. Phục vụ “nước và bánh”

Sách Xh 15, 22-24 thuật lại lời than trách của dân về nước uống: “Ông Mô-sê cho dân Ít-ra-en nhổ trại rời Biển Sậy. Họ ra khỏi đó, tiến vào sa mạc Sua. Họ đi ba ngày trong sa mạc mà không tìm ra nước. Nhưng khi tới Ma-ra, họ không thể uống được nước ở Ma-ra, vì nước đó đắng. Bởi thế, người ta gọi nơi ấy là Ma-ra. Dân kêu trách ông Mô-sê, họ nói: “Chúng tôi sẽ lấy gì mà uống?”

Chương 16, 2-3 lại là lời than trách về bánh: “Trong sa mạc, toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en kêu trách ông Mô-sê và ông A-ha-ron. Con cái Ít-ra-en nói với các ông: “Phải chi chúng tôi chết bởi tay ĐỨC CHÚA trên đất Ai-cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thoả thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây!”

Những lời than trách này làm cho Môsê hiểu rằng trước khi thoả mãn những khát vọng cao siêu, ông cần thoả mãn những nhu cầu cơ bản của dân ông. Có lẽ, những ảo tưởng như một Pharaô vĩ đại bị tan vỡ nơi ông. Giờ đây, từ ngai toà vinh quang cao ngất của một thủ lãnh vĩ đại, ông bước xuống để trở thành người cung cấp bánh, thịt và nước cho dân. Ông hiểu rõ không thể điều khiển một dân tộc mà không lo lắng đến những nhu cầu cụ thể của họ.

2. Phục vụ vì trách nhiệm

Bản chất việc phục vụ của Môsê là gì?

Sách Đệ nhị luật thuật lại lời than vãn của Môsê: “Làm sao một mình tôi gánh được những phiền hà, yêu sách và tranh tụng của anh em?” (12,1). Môsê cảm thấy mệt mỏi vì trọng trách gánh vác anh em mình. Họ chất lên đôi vai ông những gánh rất nặng. Gánh nặng đó có thể là những lầm lỗi, những khó khăn, những tan vỡ ảo mộng hằng ngày của họ. Ông học cách vác lấy những gánh nặng này và lúc ấy, ông nhận ra mình cần được người khác giúp đỡ.

Khi đã trải qua nhiều năm kinh nghiệm trong việc phục vụ, chúng ta sẽ hiểu sâu xa điều nền tảng này: phục vụ trước hết là hiểu rõ nhu cầu những người ta phục vụ và đồng thời người mà ta phục vụ như thế nào thì chấp nhận họ như vậy. (không chỉ phục vụ những người tốt, hợp ý ta, những người đồng chí hướng, hạp tính tình, những người dễ chịu, hoặc những người ta cho là đáng phục vụ, v.v. mà là tất cả mọi người, nhất là những người tội lỗi, cứng cỏi, nghèo hèn, khó thương, v.v.)

3. Phục vụ bằng sự “an ủi”

Sách Xh 14, 13-14: “Ông Mô-sê nói với dân: “Đừng sợ! Cứ đứng vững, rồi anh em sẽ thấy việc ĐỨC CHÚA làm hôm nay để cứu thoát anh em: những người Ai-cập anh em thấy hôm nay, không bao giờ anh em thấy lại nữa. ĐỨC CHÚA sẽ chiến đấu cho anh em. Anh em chỉ có việc ngồi yên.” Thật thú vị khi câu kế tiếp trong sách Xuất hành cho biết chính Môsê cũng run sợ không kém gì dân chúng. Chính ông cũng không biết phải làm gì vào giờ phút đó, nhưng ông vẫn giúp đỡ người khác, khích lệ họ.

Ông không chỉ làm và phục vụ vì trách nhiệm. Còn một điều gì đó sâu xa hơn. Môsê biết chỉ rõ mục đích và thành công trong việc thúc giục người khác đạt mục đích ấy. Phẩm chất ơn gọi phục vụ của ông ngày một gia tăng vì ông biết và quan tâm đến những nhu cầu sâu xa của dân vào những lúc họ cần được khích lệ, cổ vũ nhất.


[1] Các bài suy niệm phỏng dịch từ “Vie de Moise, vie de Jesus et existence pascale”, Éd. St.-Augustin-St-Maurice, Suisse, 1994

Một số phép lạ nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ Fatima

Ngày 13 tháng 5 năm nay kỷ niệm đúng 100 năm ngày Đức Mẹ Maria hiện ra lần đầu tiên với ba em bé mục đồng tại Fatima. Từ một làng quê nghèo hẻo lánh, Fatima đã được cả thế giới biết đến. Từ cây sồi năm xưa ấy, ngày nay đã có một đền thờ to lớn, quảng trường rộng rãi, mỗi năm đón tiếp hàng triệu người đến với Mẹ Maria tại đây. Trong nhiều lý do lôi kéo các tín hữu hành hương đến Fatima, chắc chắn không thể thiếu lý do xin Mẹ cầu khẩn Chúa, ban ơn chữa lành bệnh. Nhiều bệnh nhân với những căn bệnh trầm trọng, y khoa không thể chữa khỏi, đã được lành bệnh cách lạ lùng mà khoa học không thể giải thích được. Sau đây chúng tôi xin thuật lại một số vụ khỏi bệnh lạ thường và được xem như các phép lạ nhờ lời cầu khẩn của Mẹ Fatima.

– Joaquim Duarte Oliveira là một người Bồ đào nha, sinh sống tại thủ đô Lisbon. Ông bị ung thư và nằm liệt giường từ 8 năm. Ông đã được các bác sĩ chuyên khoa xuất sắc nhất Bồ đào nha chữa trị, nhưng sau bao nỗ lực, kết quả vẫn là con số không. Như một nỗ lực cuối cùng, vào tháng 10 năm 1927, vợ của ông đã phó dâng ông cho Mẹ Fatima và khi đưa cho ông vài giọt nước thánh, bà đã khấn hứa với Đức Mẹ, mà chồng bà không biết. Trên gối của ông, bà đặt một số báo “Tiếng nói Fatima”, trong đó có kể lại cuộc khỏi bệnh kỳ diệu của bác sĩ Agacio Ribeiro. Cảm thấy tò mò, ông Joaquim bắt đầu đọc tờ báo đó. Sau khi đọc bài báo, ông cảm thấy niềm tin của mình và lòng hy vọng nơi Mẹ Maria được gia tăng. Bất ngờ, ông bắt đầu cầu nguyện với Mẹ Fatima để xin được lành bệnh, như Mẹ đã chữa lành cho bác sĩ Ribeiro. Ngay chính lúc ấy, ông cảm thấy được biến đổi hoàn toàn, được chữa lành hoàn toàn và từ ngày hôm sau, ông sống cuộc sống bình thường như lúc chưa bị bệnh. Một tháng sau, ông đã cùng với gia đình đi đến Fatima tạ ơn Đức Mẹ.

– Bác sĩ Agacio da Silva Ribeiro đã kể lại việc mình được chữa lành như sau: “Vào chiều ngày 9 tháng 3 năm 1926, khi tôi đang lái chiếc motô với tốc độ thật lớn, thì một chiếc lốp xe văng ra khỏi niềng bánh xe. Tôi bị ngã xuống và bị gãy một chân, gãy xương đòn, xương bàn chân, các vết thương bầm dập nát. Tôi nghĩ đến vợ các con của tôi đang chờ tôi ở nhà. Chỉ còn 300 hay 400 mét nữa là tôi đã về tới nhà. Tôi đã khấn cầu Đức Mẹ Fatima và chờ chết. Nhưng tôi cảm thấy là đầu óc mình vẫn hoàn toàn minh mẫn và tôi cầu nguyện xin Đức Trinh nữ cứu tôi. Khi nhận được tin báo tai nạn xảy ra, vợ tôi đã chạy đi và với lòng đầy tin tưởng, bà quỳ gối trên đường khấn cầu Đức Mẹ cứu giúp tôi. Tôi cảm thấy đau đớn khủng khiếp. Khi vợ tôi cùng với các bạn đến, họ chuyển tôi đến phòng khám, rồi sau đó đến bệnh viện đại học Coimbra. Ở đây tôi được chữa trị; tôi và các bạn của tôi đã ngạc nhiên vô cùng, vì tôi không bị sốt và không bị nhiễm trùng tí nào. Thú thật là sự kiện này khoa học không giải thích được; tôi không thể ngăn mình gọi đó là phép lạ! Tôi đã tin là mình may mắn nếu có thể sống sót ngay cả nếu bị cắt bỏ một chân, nhưng ngược lại, tôi thấy mình được cứu sống lành lặn, còn nguyên vẹn đôi chân và không phải đi khập khiểng, không gặp tí khó khăn nào. Tôi hoàn toàn tin rằng chỉ có nhờ sự can thiệp của Đức Mẹ Fatima tôi mới được cứu sống.

– Emilia Martins, 42 tuổi, sinh tại Santiago, đã nằm liệt giường 6 năm, hầu như không thể nhúc nhích được. Thêm vào đó, bao tử của bà không thể nhận được thức ăn nào. Tràn đầy niềm tin, bà Emilia muốn đi đến Fatima, nhưng vì quá nghèo nên bà không thể thực hiện lòng mong ước. Một số giáo dân có lòng sùng kính Đức Mẹ đã góp tiền thuê một chiếc xe hơi và Emilia đã có thể đi cùng một y tá và hai người em đến Fatima. Trên đường đi đến Fatima, tình trạng của bà Emilia trở nên tệ hơn. Khi đến Oporto, Emilia được nhận lãnh các bí tích sau cùng. Tuy nhiên, sau đó bà đã có thể tiếp tục cuộc hành trình. Khi đến Fatima, bà được đưa vào bệnh viện. Trong thời gian nằm ở đây, vài lần bà bị mất ý thức, tim ngừng đập và ngừng thở và có một lần bác sĩ tuyên bố bà đã chết. Nhờ có máy móc trợ giúp, tim của bà đã có thể đập trở lại. Người ta quyết định đưa bà đến lãnh phép lành dành cho các bệnh nhân. Vừa khi nhận được phép lành, bệnh nhân tỉnh dậy như vừa ngủ một giấc, mở đôi mắt, từ từ hồi tỉnh, lấy lại ý thức. Bà cảm nhận một sự khỏe khoắn và la lên: “Tôi được chữa lành rồi!”. … “Ngợi khen và cảm tạ Đức Mẹ Maria”. Bác sĩ điều trị đã viết giấy xác nhận bà được chữa lành hoàn toàn, trong đó ông xác định rằng sự việc xảy ra trong thoáng chốc và do đó nó không thể giải thích được theo y khoa.

– Carmina da Conceiçao là một thiếu nữ 17 tuổi, sống ở Lisbon. Cô bị lao nặng và biến chứng từ 5 tháng trời, phải nằm trên giường vì những cơn đau đớn hành hạ cả thân xác cô. Các bác sĩ chuyên khoa chữa trị cho cô đã mất hết hy vọng về việc cô sẽ được chữa lành. Tuy nhiên, sau khi được cha xứ an ủi về tinh thần, cô bất ngờ tin tưởng và hy vọng vào Đức Mẹ Fatima: chỉ nhờ lời khấn cầu của Mẹ, cô mới có thể được chữa lành, và vì thế, Carmina đã xin được đưa đến Fatima. Mẹ của cô đã thực hành yêu cầu của cô. Ngày 2 tháng 6 năm 1931, thiếu nữ bệnh nhân được đặt trên ghế nằm và đưa đến Fatima. Trong chuyến hành trình kéo dài 10 tiếng đồng hồ, cô đã liên tục ho ra máu. Khi vừa đến Fatima, cô được đưa đến bệnh viện và ngày hôm sau, cô nghe Thánh lễ và lãnh nhận phép lành. Carmina trò chuyện với một linh mục và cho biết cô sẵn sàng đón nhận thánh ý của Chúa và của Đức Trinh nữ Maria. Ngay lập tức, Carmina bất ngờ cảm thấy khỏe hơn; cô đứng dậy và với sự ngạc nhiên, la lớn về phép lạ, trong khi nhiều người chạy đến vui mừng vì phép lạ. Bác sĩ Pereira, một vài giờ trước đó đã xác định chắc chắn về tình trạng trầm trọng của bệnh nhân, đã tuyên bố: “Đó là một phép lạ; một bệnh nhân đến đây phải nằm trên giường, giờ đây tự đi lại được.” Carmina trở về gia đình trong tình trạng được chữa lành hoàn toàn.

– Assunta da Lanca Palma, 36 tuổi, từ năm 1925 bị bệnh gan, bị vàng da và đau đớn. Từ năm 1935, các dấu hiệu nặng hơn bắt đầu xuất hiện. Dù cho các bác sĩ chuyên khoa cố gắng chạy chữa, tình trạng của Assunta trở nên nặng hơn. Chứng ung thư làm cho cô bị ho ra máu nặng nề. Ngày 12 tháng 1 năm 1941, Assunta ho ra máu quá nặng đến nỗi tất cả nghĩ là cô sắp chết. Cô được nhận các bí tích sau cùng. Cô muốn được tham gia vào chuyến hành hương của giáo phận, đến Fatima vào tháng 5, bởi vì cô đã đặt tất cả hy vọng được chữa lành nơi Mẹ Fatima. Sau khi nhận lãnh phép lành và Mình Thánh Chúa do Đức giám mục giáo phận Leira ban, cô cảm thấy như có một luồng điện giật và tất cả sự đau đớn trước đó đều biến mất. Cô nhảy lên, vẫy tay mừng rỡ. Trên hành trình trở về nhà, bác sĩ của chuyến hành hương nói là tình trạng của cô rất là tốt. Từ ngày được chữa lành, sức khỏe của cô luôn tốt. (Papaboys 05/2017)

Hồng Thủy