Tôi Đã Gặp Linh Hồn Về Từ Luyện Tội

Đây là câu chuyện của một linh hồn hiện về từ Lửa Luyện Tội, xin cống hiến bạn đọc vì Lửa Luyện Tội có thật. Đức Mẹ khi hiện ra ở Mễ du, Mẹ đã cho Vicka, Jacob thấy Thiên Đàng, Lửa Luyện Tội, và Hỏa Ngục. Các linh hồn bị giam trong Lửa Luyện Tội để được thanh tẩy trước khi về Thiên Đàng cũng có thật. Trong lịch sử Giáo Hội, Chúa đã nhiều lần cho phép các linh hồn hiện về với người trần thế mục đích xin người sống giúp đỡ để họ mau chóng thoát khỏi cảnh đọa đày và mau được về hưởng nhan Thánh Chúa.

Trong Phúc Âm, LC 12,59, có nhắc đến: “Tôi bảo cho anh biết: anh sẽ không ra khỏi đó trước khi trả hết đồng xu cuối cùng .” Và 1COR: 3, 13-15 “Nhưng công việc của mỗi người sẽ được phơi bày ra ánh sáng. Thật thế, ngày của Chúa sẽ cho thấy công việc đó, vì ngày ấy tỏ rạng trong lửa; chính lửa này sẽ thử nghiệm giá trị công việc của mỗi người.”

Giúp đỡ các linh hồn là việc phải làm. Giúp người là giúp mình. Chúa đã chằng nói: “Khi các con làm một việc gì cho ai là các con làm cho chính bản thân Ta.” đó sao? Giúp đỡ họ có nhiều cách, chằng hạn như lần hạt Mân Côi, Thánh Lễ, ăn chay, hãm mình, bố thí v..v.. Xin lễ cho các linh hồn là việc làm cao quí nhất, vì chỉ có Máu Cực Thánh Chúa Giêsu mới xóa bỏ được mọi hình phạt cho họ.

Song song với những lời cầu nguyện và các việc lành phúc đức; còn một phương thức khác không kém phần quan trọng để giúp đỡ họ là những ‘ƠN XÁ’ của Giáo Hội ban cho chúng ta. Chúng ta có thể dùng những ơn xá này giúp đỡ họ. Chỉ có chúng ta, những người còn sống trên thế gian mới có khả năng giúp đỡ các linh hồn bởi vì họ không thể giúp họ được, nhưng họ có thể cầu nguyện rất đắc lực cho chúng ta. Hơn thế nữa khi về thiên đàng họ sẽ trả ơn cho chúng ta bằng cách cầu nguyện cho chúng ta đến muôn đời.

Có hai loại ơn xá là: Tiểu xá và đại xá. Tiểu xá thì tha một phần. Đại xá tha hết. Chúng ta có thể dùng những ơn xá này cho mình hoặc nhường lại cho các linh hồn. Những ơn xá là kho tàng vô giá có thể đền bù sự công chính của Thiên Chúa trong đặc ân thương xót của Ngài cho những ai có lòng tin và chuyên cần làm việc để lãnh nhận những ơn xá. Có nhiều người không hiểu biết mấy về giá trị và đặc tính của ơn xá nên đã thờ ơ trước những kho tàng vô giá này.

Cha Schouppe, Dòng Tên đã kể lại một câu chuyện trong cuốn lửa luyện tội: “Chân phước Mary ở Quito, trong lúc ngất trí đã được thấy ở giữa một khoảng trống vĩ đại có một cái bàn to lớn mênh mông được bao phủ với những ngọc ngà, châu báu, kim cương, vàng bạc…Cùng lúc đó bà nghe được tiếng nói, ‘Những châu báu này là của mọi người, ai cũng có thể tới lấy, bao nhiêu cũng được tùy họ mong muốn,’ Chúa cho bà biết rằng, rừng châu báu này là biểu tượng của những ơn xá. Ơn xá giúp chúng ta giầu có phong phú về phần tâm linh, muốn bao nhiêu tùy thuộc ở chúng ta.
Những linh hồn trong tình trạng đầy ơn sủng sẽ giúp đỡ các linh hồn một cách đắc lực hơn. Nếu chúng ta không biết dùng những ơn xá này đúng chỗ thì thật đáng tiếc. Còn một điều đáng lưu ý nữa là những lời cầu nguyện, những đau khổ bệnh tật dâng lên Chúa vì lòng yêu mến Chúa và thương yêu tha nhân trong cuộc sống hằng ngày sẽ giúp chúng ta lãnh nhận thêm công trạng đời sau, sẽ tăng thêm ơn sủng cho chúng ta. Chúng ta càng bác ái bao nhiêu thì chúng ta càng sống gần Chúa bấy nhiêu vì đó là thể hiện lòng mến Chúa yêu người. Hãy xót thương để được Chúa thương xót, có như vậy chúng ta sẽ bớt được những khổ hình đời sau.  

Bây giờ kính mời bạn đọc theo dõi câu chuyện sau đây.

“Đó là ngày Thứ Hai, năm 1996, trước lễ Noel. Tôi đang ngồi tại văn phòng soạn lại xấp báo cáo, chợt nhớ ra phải đi xưng tội. Có lẽ đã hơn một tháng rồi tôi chưa tới tòa giải tội. Tôi bắt đầu xét mình và tự hỏi sao kỳ này lại để lâu quá như vậy, vì càng để lâu thì càng ngại ngùng và khó khăn hơn. Tôi lấy viết ghi lại những tội đã phạm và coi lại vài lần xem có quên hay bỏ xót tội nào không?

Tôi lái xe tới thánh đường gần đó. Đậu xe vô bãi và bước vô nhà thờ nhưng thật ngạc nhiên khi chỉ thấy chỉ có chừng 25 người ngồi chờ xưng tội mà thôi. Tôi kiếm một chỗ ngồi ở đàng sau và bắt đầu đọc Kinh Ăn Tội. Bất chợt một người đàn ông chạc 70 tuổi đang ngồi trong góc đối diện bật tiếng khóc thật lớn. Tôi nghĩ, chắc có điều gì đau khổ xảy ra cho ông nên ông mới khóc lóc đau đớn như vậy. Tôi lại nghĩ, có lẽ những người ở đây đang cầu nguyện cho ông. Người đàn ông đau khổ kia vẫn cúi gầm mặt khóc không ngừng.

Các linh mục bước vô tòa giải tội. Tôi cũng vô xếp hàng chờ xưng tội. Lúc đó, tôi không có thì giờ để coi lại mảnh giấy kê khai tội lỗi nữa, tôi đành cầm miếng giấy vô tòa cáo giải, bởi vì tôi không muốn quên hay bỏ xót một tội nào. Sau khi xưng tội xong, tôi đọc Kinh Ăn Năn Tội một lần nữa và đọc kinh đền tội. Tôi quì trước nhà tạm để cám ơn Chúa cho sự thứ tha của Ngài. Sau đó ra về, tôi nhận thấy rằng người đàn ông ngồi khóc khi nãy đã ra ngoài trước tôi. Tôi lấy nước thánh làm dấu rồi bước ra cửa nhưng hình như ông ta đang giữ cửa và chờ tôi.

Khi ra khỏi cửa, tôi hỏi ông:

– Ông không có gì chứ?

Ông trả lời, “Không có gì.”

Tôi hỏi tên ông. Ông nói: “Tôi tên John.”

John bước chậm rãi hầu như không có vẻ gì vội vã cả.

Tôi lại hỏi: “Ông ở gần đây không?”

Ông dừng lại trước khi trả lời:

– Không, tôi từ Lửa Luyện Tội tới đây.

Trong tíc tắc, tôi đứng lại không bước đi được nữa và nhìn ông sửng sốt:

 – Thấy ông giống như những người thường thôi.

Tôi tiếp: “Ồ mà tại sao ông lại lên đây đi nhà thờ?”

 Ông dừng lại nói: “Thiên Chúa tốt lành đã cho phép tôi tới đây viếng Chúa Giêsu trong nhà tạm. Khi các người tới dự thánh lễ thì chúng tôi cũng tới dự thánh lễ cùng với các Thiên Thần Bản Mệnh, và thường thì có những ghế trống cho chúng tôi, những chỗ trống đó luôn luôn đầy những linh hồn như chúng tôi, và các Thiên Thần thì bay lơ lửng phía trên đầu chúng tôi, cũng giống như Thiên Thần bản mệnh của các người vậy. Giây phút đó trong nhà thờ đầy kín những vinh quang, huy hoàng của Thiên Chúa.”

 – Tại sao ông khóc trong nhà thờ?

 Ông trả lời: “Đó là những giọt nước mắt vui mừng lẫn đau khổ. Vui vì chúng tôi được vinh dự chúc tụng Ngài trong Thánh Thể; còn đau khổ vì những gì mình đã xúc phạm tới lòng nhân lành và tình yêu của Thiên Chúa.”

 – Ông đau khổ nhiều không?

 – Có chứ, nhưng tôi vui mừng vì được đền tội mình, và trông đợi ngày giờ được hưởng nhan Thánh Chúa trên Thiên Đàng. Thiên Thần Bản Mệnh đã giúp tôi trả lời những câu hỏi của ông. Trong Lửa Luyện Tội chúng tôi không có quyền cầu nguyện cho mình nhưng được phép cầu nguyện cho gia đình thân quyến, và cho tất cả những phần tử trong Giáo Hội trên hoàn vũ.  

– Lửa Luyện Tội như thế nào?

– Tất cả có 13 tầng. Tầng thứ 13 là tầng chót và gần địa ngục; địa ngục ở giữa trái đất. Đó là nơi được gọi là ‘Phòng giam công lý’. Những tầng dưới trong Lửa Luyện Tội là những tầng vô cùng đau đớn, và những linh hồn ở trong tầng này đều phải đền tội lâu năm mới được lên tới những tầng giữa.

Ở tầng giữa, các linh hồn đền tội cho những tội đặc biệt hay bỏ sót. Họ cũng đau khổ rất nhiều nhưng không bằng những tầng dưới. Tôi dã ở dưới Lửa Luyện Tội 15 năm nay và tôi đang trông đợi được lên tầng thứ năm bởi vì Đức Mẹ thường tới thăm các linh hồn trên năm tầng trên. Khi Đức Mẹ tới, tất cả những đau đớn đều ngưng vì sự hiện diện của Mẹ.

Tầng trên cùng là tầng các linh hồn không còn đau khổ nữa, họ chỉ cầu nguyện và chờ ngày về Thiên Đàng. Tầng thứ tư, Chúa Giêsu hỏi các linh hồn nếu họ muốn ở lại tầng đó để cứu người thân của họ trên trái đất. Khi họ đã chịu đau khổ đủ, cầu nguyện đủ thì họ về Thiên Đàng thẳng không cần phải đi qua ba tầng trên nữa.

 Khi ông đi xưng tội với tấm lòng ăn n ăn đau đớn, Thiên Chúa tha tội cho ông nhưng còn những vết nhơ trong hồn thì phải được tẩy sạch bằng cách ăn chay, cầu nguyện, đền tội, hy sinh, hãm mình. Thật sự những việc này dễ dàng hơn nếu làm được trên trái đất. Trong Lửa Luyện Tội sẽ phải đau đớn hơn nhiều và mất nhiều năm để thanh tẩy.

Tôi là một người buôn bán khi còn sống cũng giống như ông vậy. Nghề nghiệp của tôi đã choán hết cuộc sống của tôi nên tôi chểnh mảng về đức tin và sự cầu nguyện, và nếu không phải vì Lòng Thương Xót Chúa; và bằng những lời cầu nguyện, hy sinh, đền tội, hãm mình, thánh lễ của người giúp việc đã làm cho tôi thì tôi đã mất linh hồn từ lâu rồi. Khi tôi chết, bà ta đã xin thánh lễ an táng cho tôi, và xin cho tôi 30 thánh lễ liên tục trong một tháng (Gregorian Masses).

Tôi cũng đã có mặt dự trong lễ an táng đó. Phải, Thiên Chúa cho phép các linh hồn được dự các đám tang của họ. Thiên Chúa vô cùng tốt lành nhưng buồn thay, ngày nay con cái không còn nhớ làm lễ an táng cho cha mẹ cũng như những người thân của họ nữa. Họ đã đổ đi biết bao ơn sủng dành cho thân quyến của họ, những ơn sủng vô giá và những an ủi lớn lao đáng lý những người thân của họ được hưởng.  

Trong Lửa Luyện Tội, linh hồn con người cũng giống như thân xác, với đầu mình, chân tay…Ông có thể thấy được, ngửi được, và cảm được nóng lạnh, đau đớn còn bén nhậy hơn thân xác nữa. Thiên Thần Bản Mệnh của tôi bảo tôi nói cho ông biết là khi một người đến trước tòa phán xét đối diện với Thiên Chúa, linh hồn đó thấy rõ các tội lỗi mình, những tội mà họ xúc phạm tới Chúa. Lúc đó là lúc Thiên Chúa xét sử công minh. Ngài sẽ lấy những kinh nguyện, thánh lễ người ta dành cho linh hồn đó, và ngay lúc đó linh hồn ấy sẽ biết mình phải đền tội ở tầng nào trong Lửa Luyện Tội.

 Những người tự kết liễu đời mình hay nhờ kẻ khác kết liễu đời mình là một sự sai lầm, vì chỉ có Thiên Chúa mói có quyền quyết định mạng sống con người. Kẻ nào cướp quyền Thiên Chúa sẽ phải đau đớn và đền tội rất lâu. Tất cả những đau khổ đời này là một cách đền tội, thanh tẩy linh hồn mình cho cuộc sống đời sau.

 Thiên Thần Bản Mệnh bảo tôi nói cho ông biết: “Chúng tôi đến nhà thờ và thấy tất cả những gì xảy ra nơi đây. Mọi người nên ăn mặc cho đàng hoàng đứng đắn trước mặt Thiên Chúa. Thánh Đường là nhà của Chúa, là nơi cầu nguyện, chúng ta phải tỏ vẻ tôn kính đối với Thiên Chúa, không nên nói chuyện, cười cợt trong nhà thờ, tốt nhất khi muốn nói chuyện thì nên ra ngoài. Những cách ăn mặc không đứng đắn hoặc thiếu tôn kính trong nhà thờ cần phải đi xưng tội và đền tội xứng đáng. Những người che kín đầu trước mặt Thiên Chúa sẽ được phần thưởng đời sau.”

Chúng tôi đi bộ chừng vài dãy nhà và đến một lối vào của một nghĩa trang Công Giáo. John nói: “Những gì ông học được ngày hôm nay là do Thiên Chúa ban cho ông vì một lý do nào đó. Một trong những lý do đó là Nước Thánh và Chuỗi Mân Côi.” Ông nói xong, bước vô nghĩa trang rồi biến mất trước con mắt của tôi.

Tôi nói: “Tôi sẽ cầu nguyện cho ông, John.”

Tôi đi bộ về lại nhà thờ, bước vô trong và tạ ơn Chúa về những gì vừa xảy ra. Tôi lần hạt để tạ ơn Chúa và đồng thời cầu nguyện cho linh hồn ông.

Khi còn nhỏ, mẹ tôi thường hay dẫn đến nghĩa trang. Bà luôn luôn đem theo nước thánh khi đi thăm mộ những người thân hoặc bạn bè, rồi đọc một Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng và cầu cho kẻ chết. Rồi bà lấy nước thánh rẩy trên mộ phần người quá cố. Bà bảo tôi, những linh hồn trong Lửa Luyện Tội sẽ được an ủi rất nhiều với nước thánh này. Bà cũng thường hay làm vậy ở nhà mỗi tối cho các linh hồn, cách riếng cho những linh hồn người thân của bà. Những năm sau này, trong sự tưởng nhớ mẹ tôi, tôi cũng làm những việc đó như mẹ tôi đã làm, và tôi cũng lần hạt cầu nguyện cho các linh hồn trong Lửa Luyện Tội.

Sau cuộc gặp gỡ lạ lùng này, tôi làm một cái hẹn cới một linh mục và xưng tất cả những tội lỗi tôi đã phạm trong đời để biết chắc rằng tất cả tội lỗi của tôi đều được tha thứ. Sau đó, tôi đi xưng tội mỗi tuần một lần hoặc hai tuần một lần. Tôi viếng Thánh Thể và bắt đầu dâng tất cả những công việc làm, những đớn đau, bệnh tật, buồn bực, chán nản, ngay cả việc lái xe của tôi cho Trái Tim Cực Thánh Cúa Giêsu, với Chúa Giêsu va trong Chúa Giêsu qua Trái Tim Vẹn Sách Mẹ Maria lên Chúa Cha để đền bù tội lỗi mình.

R.E.T. Cindy O
Dịch:Thuận Hà

Bức Thư Từ Hỏa Ngục.  

TƯỜNG THUẬT CÂU CHUYỆN
 
Người ta tìm thấy, trong các sách vở, giấy tờ của 1 nữ tu đã qua đời, sau mấy năm sống trong tu viện tại nước Đức, một  “ Tập Bút Ký”, viết bằng tiếng Đức, trong đó có ghi lại một câu chuyện lạ lùng về một bức thư, mệnh danh là Bức Thư Từ Hỏa Ngục.  
 
          Tên tuổi và lý lịch các nhân vật trong câu chuyện, cũng như tên những nơi xảy ra, đều được giữ kín. Những nhà xuất bản tài liệu kỳ lạ này, lo ngại nếu phổ biến đầy đủ tên họ, có thể làm thương tổn đến danh dự của gia đình có người đã sa Hỏa Ngục.
 
          Các tên như Annette hay Claire  trong bức thư này chỉ là tên tạm dùng để thay thế.
          Tài liệu quý giá này, có thể xem là 1 mặc khải về đời sau, Thiên Chúa gửi đến cho mỗi người chúng ta.
 
NGUỒN GỐC CÂU CHUYỆN
 
Annette và Claire là hai cô bạn thân, làm chung tại một hãng buôn. Họ chỉ quen biết nhau từ lúc làm chung một sở, nên đối xử với nhau như hai bạn gái đồng nghiệp.
 
Gia đình của Claire là 1 gia đình rất đạo đức, vì vậy cô giữ được lòng sùng đạo, và sống cuộc sống của một Ki-tô hữu tốt lành.
Trái lại, gia đình Annette, cũng như chính nàng thì khô khan, hờ hững, gần như bỏ đạo. Cha mẹ cô gặp nhau tại một tiệm khiêu vũ, rồi vì “ trót đi lại với nhau” nên bắt buộc phải kết hôn. Sau khi sanh được hai người con gái, ông bà định thôi, nhưng rồi lại sanh thêm một người con gái thứ ba. Người con sinh ra vì “rủi ro” này, chính là Annette. Khi cô ra đời, thì hai người chị đã lớn, một người 14 tuổi và người kia 15 tuổi.
 
          Tuy gia đình khá giả, nhưng hai ông bà chỉ lo đời sống vật chất, không hề nghĩ đến việc dạy dỗ con cái về đạo đức. Sống nơi thành thị xa hoa, ông bà dần dần mất đức tin, xa lìa Giáo Hội, mặc dầu họ vẫn coi mình là Ki-tô hữu. Đôi khi họ cũng giữ bổn phận của người có đạo, như đi lễ mỗi năm một lần; hoặc cho con cái xưng tội, rước lễ lần đầu như các trẻ em khác.
          Mẹ cô thì mỗi năm đi lễ ngày Chúa Nhật được vài lần, và chẳng bao giờ đọc kinh, cầu nguyện.
          Về sau, gia đình lục đục, cha mẹ nàng cãi nhau luôn. Cha nàng say sưa suốt ngày, phung phí tiền bạc. Tối nào ông cũng uống rượu say mèm, trở về nhà la lối, đánh đập mẹ nàng.
          Một hôm, đã trưa mà không thấy ông thức dậy. Người ta phá cửa phòng vào, thì thấy ông đã chết. Chết vì uống rượu say, rồi bị trúng gió lạnh.
 
          Về phần Annette, vì hấp thụ một nếp sống tệ hại trong gia đình ngay từ nhỏ, nên cô hay chống báng những gì thuộc về Chúa, về Giáo Hội, và về các linh mục. Những việc như đọc kinh, xưng tội, rước lễ, đối với cô là những việc mất thời giờ, vô ích. 
          Lớn lên, cô kết hôn với một thanh niên hào hoa, giàu có, lịch thiệp. Cuộc sống thật hạnh phúc và êm đẹp trong cảnh giàu sang sung túc. Nhưng chính đời sống xa hoa đã làm cho tinh thần đạo đức của cô càng sa sút thêm.
          Annette nhìn nhận, có nhiều lần Chúa kêu gọi cô ăn năn trở lại, nhưng những tính hư, tật xấu, những thú vui xác thịt, cùng nếp sống ăn chơi, trụy lạc, đã ăn sâu vào tâm hồn, làm cho cô không còn đủ sức chỗi dậy nữa.
 
          Từ ngày Annette lập gia đình, hai người bạn gái không còn gặp nhau nữa. Cho đến 1 hôm, vào giữa tháng 9 năm 1937, trong khi đi nghỉ mát ở bên cạnh hồ Garde (miền bắc nước Italia), thì Claire bỗng nhận được thư mẹ báo tin là Annette đã bị tử nạn xe hơi.
 
          Claire hết sức kinh hoàng, vì không biết bạn mình có sẵn sàng khi Chúa gọi bất thình lình không ?
 
          Trong tập hồi ký của Claire có đoạn viết như sau: Sáng hôm sau, tôi đi dự lễ Missa tại nhà thờ của tu viện, nơi tôi tạm trú, để cầu nguyện cho Annette, và tôi rước lễ theo ý nguyện đó.
 
          Nhưng trong ngày ấy, tôi cảm thấy khó chịu, và càng về chiều, càng thấy khó chịu hơn nữa. Đêm hôm đó, tôi đi ngủ mà trong lòng áy náy, lo âu. Bỗng nhiên, có 1 tiếng động làm tôi tức dậy. Tôi bật đèn lên, đồng hồ chỉ 12g10.
 
          Ban đêm, trong ngôi nhà của tu viện, nơi tôi đang tạm trú, thường vắng vẻ và im lặng hoàn toàn. Cũng không có cả tiếng gió thổi nữa. Chỉ có tiếng sóng của hồ Garde, đều đều vỗ nhẹ vào bờ. Thế nhưng, lúc tôi tỉnh thức, ngoài tiếng động mạnh làm tôi choàng dậy, rõ ràng tôi còn nghe một thứ tiếng như gió thổi, giống hệt tiếng do một lá thư mà đôi khi ông trưởng phòng bực tức, thường trao cho tôi một cách bất lịch sự.
 
          Tôi vẫn nằm trên giường và quay mình sang bên kia, đọc vài kinh Lạy Cha, cầu cho các linh hồn nơi Luyện Ngục, rồi tôi đi ngủ lại.
          Tôi thức dậy lúc 6 giờ sáng để đi lễ. Lúc mở cửa phòng, thấy một tập giấy viết thư. Tôi lượm lên, và khi nhận ra nét chữ của Annette, tôi kêu rú lên, toàn thân tôi run lẩy bẩy khi cầm những tờ giấy đó trong tay.
 
          Tôi cảm thấy nghẹt thở. Nghĩ rằng không còn cách nào khác hơn là ra ngoài trời, hít thở không khí. Tôi bèn sửa qua mái tóc, giấu lá thư vào trong ví, và bước ra khỏi nhà.
          Ra ngoài, tôi men theo con đường từ đại lộ Gardesana nổi tiếng đến triền núi, giữa những rặng cây ô liu, những khu vườn và những biệt thự dưới rặng liễu.
 
          Trước kia, tôi thường dừng lại ngắm cảnh hùng vĩ của mặt hồ và đảo Garde, đẹp như cảnh thần tiên. Nhưng lần này, tôi không nhìn những cảnh đó.
          Sau khi đi bộ 15 phút, tôi ngồi xuống một ghế dài, dựa lưng vào 2 cây trắc bá, chỗ mà hôm trước tôi đã ngồi để đọc say mê cuốn Junker Theresa (theo tiếng Đức, có nghĩa là Công nương Teresa) của tác giả nổi tiếng Federer.
 
          Tôi lấy bức thư ra, thư không ký tên, nhưng rõ ràng là nét chữ của Annette, ngay cả những chữ viết bay bướm, như chữ S và chữ T, mà cô ta thường quen viết khi làm việc tại bàn giấy.
          Lời văn không phải của Annette, vì cô ta vốn có tài nói chuyện một cách duyên dáng, dễ thương, với đôi mắt tươi cười như thiên thần. Chỉ khi nào bàn đến các vấn đề tôn giáo, thì cô ta mới trở nên hiểm độc và giọng cứng cỏi, như lời văn trong bức thư này.
          Tôi xin ghi lại đây Bức Thư Từ Thế Giới Bên Kia gửi về. Ghi đúng từng chữ như tôi đã đọc.:
 
“CHỊ CLAIRE”
 
          Chị đừng cầu nguyện cho tôi nữa. Tôi đã bị luận phạt đời đời trong Hỏa Ngục rồi. Tôi cho chị biết điều này sớm như thế, chị cũng đừng tưởng rằng, tôi làm thế vì lòng tốt của tình bạn giữa chúng ta. Ở chốn Hỏa Ngục, chúng tôi không còn biết thương yêu ai hết. Tôi làm việc này chỉ vì bắt buộc phải làm. Vì tôi hiện ở về phía lực lượng muốn làm điều ác, mà buộc phải làm điều thiện.
 
          Thực ra, tôi cũng muốn chị rơi vào tình trạng oán hận và căm thù của tôi bây giờ, một tình trạng mà từ nay tôi bị chôn chặt cho đến muôn đời.
          Chị đừng lấy làm lạ về ý muốn ấy của tôi, vì ở đây, chúng tôi đều có 1 ý nghĩ như vậy. Ý chí của chúng tôi gắn chặt vào điều ác. Vì thế, khi chúng tôi làm điều gì gọi là lành, như việc tôi đang làm đây, để mở mắt cho chị hiểu về Hỏa Ngục, cũng không phải là việc do lòng tốt mà ra đâu.
 
          Chị còn nhớ không, cách đây 4 năm, chúng ta gặp nhau ở ………….Lúc ấy, chị đã 23 tuổi, và khi tôi đến, chị đã ở đó được 6 tháng. Chị giúp đỡ tôi để khỏi bỡ ngỡ. Với sự quen biết của chị, là 1 thiếu nữ mới vào đời, chị đã cho tôi một số địa chỉ tốt. Nhưng “tốt” là cái quái gì ? Thế mà lúc đó, tôi lại ca tụng tinh thần bác ái, vị tha của chị. Thật là lố bịch !
 
 
          Tôi cho rằng, sự giúp đỡ của chị hoàn toàn có tính cách xã giao. Còn những điều khác, tôi đều nghi ngờ.Ở đây, chúng tôi không bao giờ nhìn nhận điều gì tốt ở một người nào cả.
 
          Chị đã biết thời thanh xuân của tôi. Tôi xin nói để chị hiểu thêm về tôi. Thực ra, nếu theo đúng chương trình của cha mẹ tôi, thì đã chẳng bao giờ có tôi. Việc sinh ra tôi, đối với họ, chính là 1 điều bất hạnh.
 
          Thà rằng, tôi chẳng bao giờ sinh ra đời ! Ước gì tôi được hủy diệt, để trở thành hư vô, và trốn khỏi những cực hình hiện nay. Với một lòng mong muốn vô cùng mãnh liệt, tôi ước ao thấy mình trở nên một manh áo bằng tro tàn, để rồi tan biến đi trong cõi hư vô. Nhưng tôi đâu tan biến đi được. Tôi vẫn phải tồn tại, tồn tại đúng như đời sống mà tôi đã tự tạo nên, một đời sống đã hoàn toàn thất bại.
 
          Lúc cha mẹ tôi còn trẻ, hai ông bà đã bỏ miền quê lên sống nơi thành thị. Cả hai người đều cắt đứt với Hội Thánh, và sống liên kết với những kẻ không có Đức Tin. Như vậy càng hay !
 
          Trước kia, hai ông bà gặp nhau và quen nhau trong một rạp khiêu vũ, và sáu tháng sau, hai người buộc phải lấy nhau. Nghi lễ Hôn Phối chỉ còn đọng lại nơi cha mẹ tôi một chút Nước Thánh, đủ để làm cho hai người đi lễ mỗi năm chừng hai lần. Mẹ tôi không bao giờ dạy tôi biết cầu nguyện thực sự. Bà chỉ lo những công việc trong đời sống hàng ngày.
 
          Những chữ như Cầu Nguyện, Thánh Lễ, Nước Thánh, Giáo Hội, tôi viết ra đây với một lòng kinh tởm vô biên. Tôi ghét cay ghét đắng những thứ đó, cũng như tôi thù ghét những kẻ năng lui tới Nhà Thờ. Nói chung, tôi ghét tất cả mọi người, tất cả mọi vật !
 
          Thật vậy, tất cả mọi sự vật đều mang cực hình đến cho tôi. Mọi điều hiểu biết, mọi kỷ niệm về những gì mình đã xem thấy, đã nghe, đã học, đều là nguyên nhân làm cho chúng tôi bị thiêu đốt dữ dằn. Trong mọi sự việc đó, chúng tôi đặc biệt trông thấy một khía cạnh: Đó là Ân Sủng, các Ân Sủng mà chúng tôi đã khinh chê. Điều này làm cho khổ hình của chúng tôi trở nên khủng khiếp, không bút nào tả xiết.
 
          Ở đây chúng tôi không ăn uống, không nghỉ ngơi, không bước đi bằng 2 chân. Chúng tôi bị xiềng xích một cách thiêng liêng, với muôn ngàn tiếng rên la, tiếng nghiến răng kèn kẹt.
 
          Bằng những cặp mắt điên dại, chúng tôi nhìn cuộc đời đã thất bại, mà lòng tràn đầy oán hận và đau khổ. Chị hiểu lời tôi nói chứ ? Lòng chúng tôi sôi sục hận thù, hận thù ngay cả giữa chúng tôi với nhau ở đây nữa, nhất là chúng tôi căm thù Thiên Chúa. Tôi muốn giải thích điều này cho chị hiểu.
 
          Ở trên Trời, các thánh không thể nào không yêu mến Ngài. Vì các thánh trông thấy Ngài tỏ tường, trong vẻ đẹp huy hoàng. Điều này làm cho các thánh hạnh phúc không miệng lưỡi nào tả xiết. Chúng tôi biết rõ điều ấy, và sự hiểu biết này càng làm cho chúng tôi đau khổ muốn phát điên lên được.
 
          Nhờ sự Sáng Tạo cũng như nhờ Mặc Khải, nên loài người có thể yêu mến Ngài, nhưng họ không bị bó buộc phải yêu mến Ngài. Những tín hữu nhìn ngắm và suy niệm Chúa Ki-tô giang tay trên Thập Giá, thế nào cũng phải đi đến chỗ yêu mến Ngài. Tôi nghiến răng mà quả quyết điều đó.
 
          Còn đối với tôi, kẻ mà Thiên Chúa chỉ đến như một trận cuồng phong, như một Đấng trừng phạt, như Một Vị báo thù công minh, vì nó đã bị Ngài ruồng bỏ, thì kẻ ấy chắc chắn chỉ còn biết oán ghét Ngài, oán ghét Ngài với tất cả lòng hung bạo và độc ác, oán ghét đời đời. Nó oán ghét Ngài với tất cả quyết tâm, quyết tâm một cách điên dại và tự do. Nó quyết tâm xa lìa Ngài đời đời.
 
          Khi chết, chúng tôi đã để linh hồn lìa xác với sự quyết tâm như thế. Giờ đây, chúng tôi không rút lại, và chẳng bao giờ chúng tôi muốn rút lại sự quyết tâm đó.
 
          Chị Claire, bây giờ chị hiểu tại sao Hỏa Ngục tồn tại đời đời kiếp kiếp không ? Hỏa Ngục tồn tại đến muôn đời, chính là vì chúng tôi không từ bỏ được lòng ngoan cố đó.
 
          Tôi buộc lòng phải nói thêm rằng: Thiên Chúa cũng tỏ lòng nhân hậu với tất cả chúng tôi nữa. Tôi nói “buộc lòng”, vì khi chú tâm viết bức thư này, tôi đã nhất định nói dối chị, nhưng Ngài đã không cho phép tôi được nói dối. Tôi đặt bút viết trong bức thư này, rất nhiều điều mà thực tâm tôi không muốn viết. Vì thế, tôi đành phải nuốt lịm những lời nguyền rủa độc địa mà tôi muốn thốt ra.
 
          Chúng tôi đã có ý định phổ biến lòng độc ác của chúng tôi cho lan tràn khắp thế giới, nhưng Thiên Chúa, vì lòng nhân từ đối với chúng tôi, đã không cho chúng tôi thực hành ý định hiểm độc ấy. Bởi vì nếu thực hiện được sự độc ác đó, chúng tôi đã phạm thêm tội lỗi, và do đó phải chịu thêm cực hình.
          Ngài đã để chúng tôi chết sớm, như trường hợp của tôi đây, hoặc Ngài tạo thêm những trường hợp khác, để chúng tôi được nhẹ tội hơn. Ngài còn tỏ ra nhân từ đối với chúng tôi, vì không buộc chúng tôi phải đến gần Ngài, mà để chúng tôi ở chốn hỏa hình xa xôi, cách biệt này. Điều này làm cho chúng tôi bớt đau khổ hơn. Một bước tiến gần Thiên Chúa, sẽ làm cho tôi khổ cực, còn hơn sự đau khổ chị phải chịu khi đến gần lò lửa nóng bỏng.
 
          Có một lần trong khi đi dạo mát, chị đã tỏ ra kinh ngạc, khi tôi thuật lại lời cha tôi nói, mấy hôm trước ngày tôi rước lễ lần đầu:” Annette của ba, con hãy cố sửa soạn một bộ quần áo đẹp, còn những điều khác, chỉ là trò hề”.
 
          Thấy chị kinh ngạc, lúc ấy tôi cảm thấy xấu hổ về lời nói của ba tôi. Nhưng bây giờ, tôi nhạo báng chuyện đó. Lý do duy nhất là người ta không để trẻ em 10 tuổi được Rước Lễ Lần Đầu. Lúc ấy, về phần tôi, tôi đã say mê những thú vui trần tục, đến nỗi không ngần ngại nhạo cười những gì thuộc về Tôn Giáo, và không quan tâm gì đến việc Rước Lễ Lần Đầu.
 
          Giờ đây, việc các em nhỏ được rước Mình Thánh Chúa ngay từ lúc 7 tuổi, là một điều làm cho chúng tôi căm hờn sôi sục. Chúng tôi đang làm mọi cách để người ta hiểu lầm rằng:”Trẻ em vào tuổi đó chưa đủ trí khôn, phải để cho chúng nó lớn lên, để chúng phạm một vài tội trọng trước đã. Lúc ấy, Bánh Thánh trong trắng sẽ không làm hại chúng nó nhiều, như khi tâm hồn chúng còn sống vì Đức Tin, Đức Cậy, và Đức Mến, lúc chịu Phép Rửa Tội.
          Trời ơi,tư tưởng này kỳ quái chưa ? Khi còn sống ở trần gian, tôi đã bênh vực tư tưởng này rồi, chị còn nhớ không ? Tôi vừa nói đến ba tôi. Đã có lần tôi nói với chị và tôi cảm thấy xấu hổ. Ông cãi lộn với má tôi luôn. Về sau, ông bà không còn ngủ chung một phòng nữa. Tôi ngủ một phòng với má tôi. Ba tôi ngủ phòng bên cạnh, để có thể tự do đi về bất cứ lúc nào. Ông rượu chè đến nỗi phung phí hết tài sản. Hai người chị tôi phải đi làm, nhưng tiền lương kiếm được, các chị nói cần để tiêu xài. Vì thế, mà tôi phải bắt đầu đi làm việc, để kiếm thêm chút đỉnh.
 
          Năm cuối cùng trước khi qua đời, ba tôi thường đánh đập má tôi, mỗi khi bà từ chối không chịu cho ông bất cứ cái gì. Nhưng trái lại, đối với tôi, ba tôi luôn luôn dịu dàng. Tôi đã kể cho chị nghe câu chuyện: Một hôm, ba tôi mua cho tôi 1 đôi giày, nhưng vì tôi chê kiểu giày và cái gót không hợp thời trang, thế mà ông bằng lòng mang đi đổi đến 2 lần.
 
          Trong đêm ba tôi trúng gió mà chết, một việc lạ lùng đã xảy đến với tôi, nhưng sợ chị cho rằng đó là điều xấu, nên tôi không dám tiết lộ. Việc này rất quan trọng, vì lúc ấy là lần đầu tiên, tôi cảm thấy tâm trí bị dày vò cắn rứt. Nhưng bây giờ, chị phải được biết:
 
          Đêm đó, tôi ngủ trong phòng má tôi. Nhịp thở đều đều của bà, chứng tỏ bà đã ngủ say. Bỗng nhiên, tôi nghe có ai gọi tên tôi. Một tiếng nói xa lạ, huyền bí hỏi tôi: “Nếu ba cô chết thì sẽ ra sao ?”.
          Kể từ ngày ba tôi cư xử tàn tệ với má tôi, tôi không còn thương ba tôi nữa. Và cũng kể từ đó, tôi không còn biết yêu thương một ai nữa. Tôi chỉ có cảm tình đối với ai tử tế với tôi mà thôi.Trên trần gian, yêu thương mà không hy vọng được đền đáp lại, là tình yêu của những tâm hồn được ân sủng. Nhưng đó không phải là tâm hồn của tôi, bởi vậy, tôi đã trả lời tiếng nói huyền bí, không biết từ đâu vọng lại: Nhưng ba tôi đâu có chết.
          Một lát sau, tôi lại nghe câu hỏi huyền bí đó, nhưng lần này rõ ràng hơn, tôi buột miệng đáp: Nhưng ông ấy đâu có chết.
          Đến lần thứ ba, khi nghe câu hỏi:” Nếu ba cô chết thì sẽ ra sao ?” Tôi bỗng nghĩ đến cảnh ba tôi trở về nhà say mèm, rồi la lối, hành hạ má tôi. Cảnh này đã làm cho chúng tôi xấu hổ, nhục nhã với những người bên cạnh. Bởi vậy, tôi bực tức la lên:”Mặc kệ !”. Rồi bỗng nhiên tất cả đều im lặng chúng quanh tôi.
 
          Sáng ra, khi đến phòng ba tôi để dọn dẹp, má tôi thấy cửa phòng khóa chặt. Đến trưa, người ta tông cửa vào, thì thấy ba tôi chỉ còn là một cái xác không hồn, nằm mình trần trên giường. Ba tôi có lẽ đã gặp nạn, khi đi uống rượu dưới hầm, và trở về phòng gặp gió lạnh. Đã lâu, ba tôi không được khỏe mạnh.
 
          Chị Claire, có một lần chị và Martha đã khuyên tôi  gia nhập đoàn Thanh Nữ. Tôi vẫn đồng ý với cách tổ chức của họ đạo, theo sự chỉ dẫn của hai người điều khiển. Các cuộc đi chơi thật vui vẻ. Chẳng bao lâu, tôi được giao phó vai trò lãnh đạo trong đoàn thể. Các cuộc du ngoạn làm tôi vui thích. Đôi khi người ta khuyến khích tôi Xưng Tội, Rước Lễ nữa.
 
          Thực ra, tôi đâu có tội gì mà phải xưng. Tư tưởng cũng như lời nói chẳng có gì đến nỗi phải quan tâm. Còn nói đến các việc làm xấu xa, thì tôi đâu đến nỗi tệ hại gì.
          Một hôm, chị đã cảnh cáo tôi:”Chị Annette, nếu chị không cầu nguyện nhiều hơn, chị sẽ bị hư mất”. Quả thực, tôi cầu nguyện quá ít, và cầu nguyện một cách uể oải. Bây giờ thì tôi mới biết chị nói rất có lý. Tất cả những kẻ bị thiêu đốt trong Hỏa Ngục này, đều đã không cầu nguyện, hay cầu nguyện không đủ.
          Cầu Nguyện là bước đầu tiên để đi đến với Thiên Chúa, và đây là bước rất quyết định. Nhất là cầu nguyện với Mẹ Thiên Chúa, là Đấng mà chúng tôi không bao giờ tuyên xưng Danh Người. Lòng tôn sùng Mẹ Thiên Chúa có sức lôi kéo biết bao nhiêu linh hồn khỏi tay ma quỷ, những linh hồn mà vì tội lỗi, đáng lẽ phải rơi vào tay chúng nó một cách chắc chắn.
          Tôi tiếp tục viết bức thư này, với tất cả lòng căm tức, chỉ vì tôi bị bắt buộc viết mà thôi.
 
          CẦU NGUYỆN là công việc cao quý duy nhất mà loài người có thể làm khi còn sống trên dương thế. Thiên Chúa đã gắn liền phần rỗi của mọi người vào việc quá dễ dàng này. Với ai bền tâm cầu nguyện, dần dần Ngài sẽ ban cho họ tràn đầy ánh sáng và sức mạnh. Cho đến nỗi, ngay cả những tội nhân cứng lòng nhất cũng có thể chỗi dậy, cho dù đã bị tội lỗi tràn ngập đến cổ.
          Vào những năm cuối đời của tôi, lẽ ra tôi phải cầu nguyện nhiều, nhưng tôi đã không cầu nguyện, bởi vậy, tôi không còn nhận được một ân sủng nào nữa. Vả lại, nếu nhận được, chúng tôi cũng khước từ một cách tàn tệ.
          Đối với chị đang ở trần gian, chị có thể từ tình trạng tội lỗi tiến lên tình trạng ân sủng. Nếu từ tình trạng ân sủng mà rơi xuống tình trạng tội lỗi, thường là vì yếu đuối, đôi khi vì lòng độc ác.
          Nhưng một khi đã qua đời, với cái chết, những thay đổi như vậy không còn nữa. Bởi vì, mọi đổi thay đều do tính chất vô định của cuộc sống trên trần gian. Sau khi chết, người ta bước vào tình trạng chung kết.
          Càng lớn tuổi, người ta càng ít thay đổi. Thực ra, ngay cả đến lúc gần chết, con người vẫn có thể quay về với Thiên Chúa, cũng như vẫn có thể xa lìa Thiên Chúa. Thế nhưng, bị thói quen ràng buộc, nên trong giờ lâm chung, con người với một ý chí còn sót lại, sẽ vẫn cư xử theo thói quen. Thói quen đã trở nên một bản tính thứ hai, người ta để cho nó lôi kéo mình mà không cưỡng lại.
 
          Đối với tôi, sự việc cũng như vậy. Từ nhiều năm, tôi sống xa lìa Thiên Chúa, vì thế, khi có tiếng kêu gọi cuối cùng của ân sủng, tôi đã quay lưng đi mà không trở về với Thiên Chúa. Tôi đã phải hư mất đời đời, không phải vì năng phạm tội, cho bằng không muốn chỗi dậy.
          Nhiều lần chị khuyên tôi nên đi nghe giảng và đọc sách đạo đức, tôi thường trả lời:”Tôi không có thì giờ”.Vì thế, đời sống nội tâm của tôi càng ngày càng khô cằn hơn.
          Tôi cũng phải ghi nhận rằng, lúc tôi rời bỏ đoàn Thanh Nữ,thì nếp sống của tôi đã quá ăn sâu, đến nỗi tôi thấy  việc thay đổi vô cùng khó khăn. Lúc ấy, tôi cảm thấy một sự bất an và mất hạnh phúc. Trước sự ăn năn trở lại, tôi thấy cả một bức tường kiên cố ngăn cản tôi.
          Chị đâu có ngờ điều đó, chị xem việc trở lại với Chúa là một việc đơn giản và dễ dàng, cho nên, có lần chị nói với tôi: Annette ạ, chị cứ đi xưng tội đàng hoàng, rồi mọi sự sẽ nên tốt đẹp. Tôi cũng biết như vậy, nhưng thế gian, ma quỷ, và xác thịt đã kềm chặt tôi trong nanh vuốt của chúng.
          Trước kia, tôi không bao giờ tin có ảnh hưởng của ma quỷ, nhưng giờ đây, tôi tin ma quỷ ảnh hưởng vô cùng mãnh liệt đến những kẻ sống trong tình trạng nguội lạnh, như tình trạng của tôi hồi đó.
          Chỉ nhờ lời cầu nguyện của người khác và của chính mình, cùng với những hy sinh và đau khổ, mới có thể kéo tôi ra khỏi tay ma quỷ. Dầu vậy, cũng chỉ có thể kéo ra từ từ mà thôi. Ít khi người ta thấy những người bị quỷ ám trong tâm hồn. Satan không thể chiếm đoạt tâm hồn những kẻ theo nó, nhưng để trừng phạt những kẻ chối bỏ Ngài, Thiên Chúa cho phép tà thần được ngự trong lòng họ.
 
          Tôi cũng ghét Satan, nhưng nó làm cho tôi hài lòng, vì nó đang tìm cách cám dỗ chị phải hư hỏng. Satan cùng với các thủ hạ của nó (tức là các thần dữ đã sa ngã cùng với nó, từ lúc bắt đầu có thời gian) thì đông vô kể. Chúng đi rảo khắp mặt đất, chúng nhảy múa như đàn ruồi nhặng, nhưng chị lại không nhận ra được chúng nó.
 
          Không phải chúng tôi, những kẻ đã bị luận phạt, phải đi cám dỗ chị đâu. Việc đi cám dỗ dành cho các thần sa ngã. Mỗi khi chúng kéo được một linh hồn vào hỏa ngục, thì lại làm tăng hình phạt của chúng lên. Nhưng vì căm hờn, mà chúng nó đi cám dỗ người ta.
          Tôi xa cách Thiên Chúa, nhưng Ngài vẫn theo dõi tôi. Tôi cũng có những hành vi bác ái thông thường, mà tôi làm theo khuynh hướng tự nhiên. Đôi khi Thiên Chúa kéo tôi đến nhà thờ, lúc ấy, tôi cảm thấy như có một sự luyến tiếc điều gì.
          Khi tôi săn sóc má tôi bị bệnh, mặc dầu tôi bận việc suốt ngày trong văn phòng, như vậy, tôi thực sự đã có hy sinh một cách nào đó. Và lúc ấy, sức lôi cuốn của ơn Chúa tác động một cách mạnh mẽ trong tâm hồn tôi.
          Một hôm, nhân lúc nghỉ trưa, chị đưa tôi vào nhà nguyện trong một bệnh viện. Một sự việc xảy đến, làm cho tôi suýt nữa ăn năn trở lại, đó là tôi đã khóc. Nhưng rồi một lần nữa, những thú vui trần tục, như một thác nước đã cuốn trôi mất ân sủng nơi tôi. Giống như hạt giống tốt bị chết ngộp giữa bụi gai. Viện lẽ rằng, Tôn Giáo chỉ là một thứ tình cảm, như bọn tôi thường nói trong sở làm, tôi lại vứt bỏ quan niệm ân sủng đi, như mọi thứ quan niệm khác.
          Có lần chị bắt lỗi tôi, vì lẽ tôi phải bái gối cúi đầu trước Mình Thánh Chúa, nhưng tôi chỉ nhún gối một chút. Lúc đó, chị cho rằng tôi làm biếng. Chị đâu có ngờ rằng, tôi không còn tin có Chúa hiện diện trong Thánh Thể nữa. Bây giờ, ở hỏa ngục thì tôi tin. Nhưng tin một cách dĩ nhiên, chẳng khác nào người ta tin có một trận bão tố, sau khi đã thấy sức tàn phá của nó.
          Vào thời kỳ đó, tôi bằng lòng với một thứ Tôn Giáo của riêng tôi. Tôi bênh vực ý kiến chúng ở sở làm, cho rằng: Sau khi chết, linh hồn ta đi vào trong vật thể khác, và cứ thế mà tiếp tục lưu lạc mãi mãi không ngừng. Bằng cách đó, nỗi băn khoăn của tôi về đời sau đã được giải quyết, và trở nên một vấn đề vô hại.
          La-za-rô, kẻ nghèo khó, ngay sau khi chết được Chúa cho lên Thiên Đàng, còn kẻ giàu có kia phải xuống hỏa ngục. Thực sự, chị chẳng biết gì hơn những bài thuyết giảng mê tín của chị.
          Dần dần, tôi đã tự tạo cho tôi một thần linh khá vững mạnh, khả dĩ gọi được là thượng đế. Vị thượng đế này khá xa cách tôi, để tôi khỏi phải duy trì một liên hệ nào với ngài. Nhưng cũng khá mơ hồ, để tùy theo mỗi khi cần, ngài có thể được coi như thượng đế của phái phiếm thần (pantheisme), hoặc được thi vị hóa thành một thượng đế cô đơn, không có thiên đàng để thưởng công tôi, nhưng cũng không có hỏa ngục để trừng phạt tôi. Tôi để cho thượng đế đó được thảnh thơi an nhàn. Lòng tôn sùng của tôi đối với ngài chỉ có bấy nhiêu thôi.
          Người ta thường dễ tin theo những gì người ta ưa thích. Vì vậy, trải qua bao nhiêu năm, tôi đã đặt niềm tin của tôi vào thứ tôn giáo của tôi, và tôi không còn lo lắng về vấn đề này nữa. Chỉ có một biến cố có thể làm cho tôi hết ngoan cố sống mãi trong đường tội lỗi: Đó là một cơn bệnh triền miên và ngặt nghèo, sẽ làm tôi thức tỉnh. Nhưng cơn bệnh ấy đã không xảy đến. Bây giờ, chị hiểu rõ ý nghĩa câu nói:” Thiên Chúa sửa trị những kẻ Ngài yêu”  chưa ?
          Vào một sáng Chúa Nhật, tháng 7 năm nào, đoàn Thanh Nữ có tổ chức một cuộc du ngoạn tại…. Tôi rất thích những cuộc du ngoạn, nhưng các bài thuyết giảng cô vị, và tác phong của những người mê tín, làm tôi từ chối. Vả lại trong thời gian đó, một hình ảnh khác (không phải là hình ảnh của Đức Trinh Nữ) đang ngự trị trong lòng tôi. Đó là bóng hình của chàng Max, một thanh niên hào hoa, phong nhã, làm ở công ty bên cạnh.
          Chúng tôi đã có dịp đùa dỡn với nhau nhiều lần. Sáng Chúa Nhật hôm đó, Max rủ tôi  đi chơi. Cô bạn mà trước kia chàng thường rủ đi chơi, hôm ấy bị bệnh nằm nhà thương. Chàng biết rõ là tôi đã để mắt đến chàng. Tuy vậy, lúc ấy, tôi chưa nghĩ đến chuyện kết hôn với Max. Chàng vốn giàu có, nhưng tiếc rằng chàng quá lịch thiệp với các thiếu nữ. Còn tôi, lúc ấy, muốn có một người yêu hoàn toàn thuộc về tôi. Tôi chẳng những là vợ của chàng, mà còn là người vợ duy nhất, mặc dầu, tôi vẫn ham thích lối cư xử lịch thiệp xã giao.
          Trong cuộc đi chơi hôm đó, Max tỏ ra hết sức nhã nhặn và cũng thích nói chuyện về các linh mục như chị. Hôm sau, câu hỏi đầu tiên của chị là “ Chúa Nhật hôm đó Annette có đi tham dự Thánh Lễ không ?”
          Thật là khùng ! Làm sao tôi đi Lễ được ? Khi mà tôi và Max hẹn nhau sẽ khởi hành vào lúc 6g sáng ? Lúc đó vì bị nói khích nên tôi đã bào chữa:” Thiên Chúa nhân lành, đâu có lưu tâm đến các việc lặt vặt nhỏ mọn như các linh mục của chị”.
          Nhưng bây giờ, tôi phải thú thật rằng: Mặc dầu khoan dung vô cùng, nhưng Thiên Chúa cũng lượng định mọi sự việc một cách chính xác hơn tất cả các linh mục.
          Sau lần đi dạo đầu tiên với Max, tôi chỉ còn đến họp một lần chót với đoàn Thanh Nữ để mừng Lễ Giáng Sinh. Lần đó, gặp lại các bạn, tôi cũng cảm thấy phần nào thích thú, nhưng trong thâm tâm, tôi biết đã thực sự xa lìa các chị rồi.
          Rồi những buổi đi coi hát, đi khiêu vũ, đi dạo mát với Max nối tiếp theo nhau. Tôi rất bực tức về cô bạn kia. Sau khi ở nhà thường về, cứ quấn lấy Max như người mất hồn. Nhưng đó là một điều có lợi cho tôi, vì thái độ cao thượng và trầm lặng của tôi, đã làm cho Max có một ấn tượng tốt, và sau cùng, chàng quyết định chọn tôi.
          Tôi đã có cách làm cho chàng chán ghét cô ta, bằng những lời nói lạnh lùng, bề ngoài có vẻ xây dựng, nhưng bên trong chứa đầy nọc độc. Những thái độ quỷ quyệt như thế có hậu quả chắc chắn đưa ta xuống hỏa ngục. Những tâm hồn đó thật là quỷ quái, theo nghĩa chính xác nhất của hai chữ: QUỶ QUÁI.
          Tại sao tôi kể những chuyện này cho chị ? Mục đích là để chị hiểu rõ con đường tôi đi, dần dần xa Thiên Chúa như thế nào ? Lúc ấy, tôi và Max ít khi đi đến chỗ quá thân mật. Tôi hiểu rằng , sẽ trở nên quá tầm thường trước mắt chàng, nếu để mình đi quá đà trước ngày cưới. Tôi làm bất cứ điều gì để chinh phục chàng cho bằng được. Để đạt mục đích, không có gì là quá đắt đối với tôi. Vì thế, tôi nắm chắc được chàng, và trở thành kẻ độc chiếm lòng chàng, nhất là những tháng trước khi cử hành Lễ Hôn Phối.
          Tôi phản bội Thiên Chúa, bởi vì tôi đã biến Max, một tạo vật, thành một thần tượng của tôi. Việc này có thể xảy ra, khi ta dành mối tình cho người khác phái, và chỉ biết nhằm thỏa mãn tình dục. Chính sự trao hiến như thế, đã tạo nên sức quyến rũ, nhưng cũng tạo nên cả nọc độc nữa. Vì đối với tôi, sự tôn thờ Max đã trở nên một tôn giáo sống động.
          Trong thời gian này, tại sở làm, tôi thường gay gắt công kích tất cả những gì về Giáo Hội, về các Linh Mục, về Ân Xá, việc Lần Hạt, và những việc tượng tự như thế, mà tôi cho là những việc đần độn. Còn chị, chị tìm cách bênh vực những thứ đó một cách hăng say. Chị đâu có ngờ, ở thâm sâu, chị cố gắng tìm lý lẽ để chống lại lương tâm tôi, vì lúc đó, tôi cần có một lý do để biện minh cho sự phản đạo của tôi.
 
          Quả thật, tôi đã nổi loạn chống lại Thiên Chúa. Lúc đó, chị không thể hiểu được thái độ của tôi. Vì bề ngoài, tôi vẫn tự xem là một tín hữu, vẫn còn muốn được gọi là Ki-tô hữu. Ngay cả việc đóng tiền cho nhà thờ, tôi cũng làm chu đáo, vì tôi nghĩ rằng: Đây là một việc bảo hiểm thêm cho chắc, và chẳng làm thiệt hại gì cho tôi.  
          Đôi khi chị đưa ra những lý lẽ làm tôi phải chịu thua, lúc chị bênh vực những vấn đề về đạo. Nhưng nó không thuyết phục được tôi, vì lúc đó, chị “không được quyền có lý”. Cũng vì những giây liên lạc giả tạo như thế, nên lúc tôi đi lập gia đình, lúc chia tay nhau, chúng ta đã chẳng chút luyến tiếc gì nhau.
          Trước khi làm hôn lễ, tôi cũng có Xưng Tội và Rước Lễ một lần nữa cho đúng phép đạo. Max cũng đồng ý về điểm này. Tại sao lại không chu toàn nghi thức này như mọi người ? chị cho rằng Rước Lễ như vậy là không xứng đáng. Tuy vậy, sau lần Rước Lễ đó, tôi cảm thấy một sự bình an trong tâm hồn. Đó cũng là lần Rước Lễ cuối cùng của đời tôi.
          Trong đời sống vợ chồng, chúng tôi rất hòa thuận với nhau. Chúng tôi cũng có quan niệm giống nhau về đời sống, nhất là về vấn đề giáo dục con cái. Chúng tôi chỉ muốn có một đứa con mà thôi, không muốn gánh trách nhiệm có nhiều hơn.
          Đối với tôi, áo quần, đồ đạc sang trọng, những cuộc đi du ngoạn, những thứ tiêu khiển mới là quan trọng. Thời gian, từ khi chúng tôi lấy nhau đến khi tôi tử nạn bất thần, chỉ một năm, nhưng đó là một năm đầy khoái lạc trần thế. Mỗi Chúa Nhật, chúng tôi lái xe đi chơi, hay đi thăm bà con bên chồng, những người này cũng sống cuộc đời hời hợt bên ngoài y như chúng tôi.
          Tuy bên ngoài tôi vui cười, nhưng trong tâm hồn tôi, chẳng bao giờ thấy hạnh phúc. Tôi luôn cảm thấy có điều gì cắn rứt trong lương tâm. Tôi mong ước sau này khi tôi chết, một cái chết thường thì còn xa, thì mọi sự sẽ chấm dứt.
          Hồi còn nhỏ, một hôm trong bài giảng,tôi nghe nói rằng: Thiên Chúa thưởng công cho mọi việc lành chúng ta làm. Khi nào không thể thưởng công cho đời sau, thì Ngài ân thưởng họ ở đời này. Điều đó rất đúng, vì bất ngờ, tôi được hưởng gia tài của bà dì Lotte, và chồng tôi cũng bắt đầu kiếm được nhiều tiền. Nhờ vậy, chúng tôi được một chỗ ở khác rất lịch sự. Tôn Giáo lúc ấy, chỉ còn là 1 tia sáng lờ mờ từ nơi xa xăm rọi đến tôi chập chờn, khi ẩn, khi hiện.
Bức Thư Từ Hỏa Ngục.  
 ( Le Manuscrit de l’Enfer)
 
         NIHIL OBSTAT                              IMPRIMATUR
   (Không có gì trở ngại)                        ( Được phép in)
Sài Gòn,die 28 Martii 1970            Sài Gòn,die 31 Martii 1970
  F.X. Huỳnh Hữu Đặng                 Paulus Nguyễn Văn Bình
      Censor Delegatus                             Archep. Sài Gòn

Tiếng Kêu Cứu Của Linh Hồn Luyện ngục 

Chuyện có thật xảy ra tại Việt Nam, khi Đức Mẹ cho phép một linh hồn nơi luyện ngục về tiếp chuyện với một Đan-sĩ dòng Xitô. Những tiết lộ nơi luyện tội mà chúng ta không thể tưởng tượng nổi…

Trong dịp về thăm Việt Nam, chúng tôi được một nữ tu tặng cho cuốn băng cassette về cuộc nói chuyện của một nam tu sĩ (tạm gọi là thầy Nam), ở tỉnh Phan Rang, Việt Nam. Năm 1989, thầy Nam nói về sự kiện một linh hồn mồ côi được Đức Mẹ cho phép về nói chuyện với một giáo dân (tạm gọi là anh Trung). Anh Trung ghi chép mọi sự và giao cho thầy Nam để xin cầu nguyện cho các linh hồn mồ côi ở luyện ngục. Cho đến nay, chúng tôi vẫn không biết tên thật của vị tu sĩ này.

Kim Hà xin ghi lại theo nội dung của cuộc nói chuyện ghi lại từ băng cassette.

“Lần đầu tiên, vào một buổi tối ngày thứ tư, 15/6/78, khi anh Trung đang nằm trong mùng thì nghe tiếng nói của một linh hồn mồ côi ở bên tai. Chiếc mùng rung động. Thế rồi trong đêm tối, anh Trung ngồi dậy để ghi chép những điều mà linh hồn nói ra, dưới ánh sáng của chiếc đèn dầu kiểu “hột vịt”. Chép xong anh ta đưa cho thầy Nam để cầu nguyện và đặt thêm câu hỏi. Tiếng nói bắt đầu: Vì tín điều các thánh thông công, nên Đức Mẹ sai tôi về để xin quý vị một điều là vào giờ chầu Thánh Thể trong tối thứ bẩy này, xin hãy hát bài nhạc Kinh Hòa Bình. Tôi muốn anh nói với thầy Nam về bốn điều, và tôi sẽ cho biết nội dung sau.

Giữa thế gian này, ma quỷ như những tấm lưới buông xuống để bắt các linh hồn, chúng sẵn sàng bắt các linh hồn đã được Chúa xức dầu và các linh hồn thánh thiện. Nhiều khi hiện thân của ma quỷ là các phụ nữ đi dụ dỗ. Xin hãy thận trọng, Máu Thánh Chúa Giêsu Kitô đã đổ ra để cứu chuộc các linh hồn. Những linh hồn được xức dầu thì Thánh Tâm Chúa Giêsu yêu thương và ban ơn. Nhưng nếu các tâm hồn ấy tìm an ủi nơi người khác thì Thánh Tâm Chúa Giêsu đau buồn, còn người ấy thì cảm thấy cô đơn vì vắng bóng Chúa. Họ cảm thấy buồn bã. Hậu quả của việc từ bỏ Chúa là sự sa ngã.

Như vậy, khi một người đã được xức dầu mà còn lo ra, tìm an ủi nơi cô gái nào đó thì sẽ bị cô đơn, buồn bã, chán nản, thất vọng và sa ngã. Thiên Chúa chưa đủ sao mà còn tìm an ủi nơi người khác? Trong khi Chúa luôn mong mỏi cho người ấy trở về với Ngài. Đây là một chân lý mà không ai để ý: “Những kẻ cám dỗ không bao giờ trung thành. Thường thì kẻ cám dỗ sẽ trở nên hung ác như quỷ dữ để phạt người bị cám dỗ”.

Xin cầu nguyện cho các linh hồn mồ côi nhiều hơn. Xin thầy Nam dâng 1 lễ cầu cho các linh hồn mồ côi. Lễ của các thầy là kinh phụng vụ,  chúng tôi sẽ đền ơn thầy.

Những lúc rảnh rỗi, xin đọc cho các linh hồn mồ côi 3 hoặc 10 Kinh Kính Mừng.

Khi gặp lúc gay go, nguy hiểm xin làm giờ đền tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu 3 ngày, và đền tạ

Mẫu Tâm Mẹ Maria 3 ngày và cầu cho các linh hồn ở luyện ngục thì chúng tôi sẽ giúp đỡ cho quý vị.

(Lời thầy Nam: Thật sự con số 3 hay 10 Kinh Kính Mừng không nhiều mà họ phải xin, vậy mà đôi khi chúng ta chẳng nhớ mà đọc cho họ. Chúng ta thật thiếu sót).

Vậy khi các nhà Dòng hay các bậc bề trên gặp sự khó khăn hay có người sắp chết, thì cứ làm theo các điều mà linh hồn này chỉ dẫn thì kết quả rất tốt. Dĩ nhiên là chúng ta nên có các Thánh lễ kèm theo.

Gặp khi khó khăn, con đã âm thầm chầu Thánh Thể để đền tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu, và dành 3 ngày đền tạ Mẫu Tâm Mẹ Maria bằng cách lần hạt 7  sự thương khó Đức Mẹ Maria và lần chuỗi kinh Mân Côi.

Các linh hồn mong ước chúng ta năng lần hạt về Mầu Nhiệm Năm Sự Thương.

Vào ngày 19/6/1978, linh hồn này bảo anh Trung rằng lúc 8 giờ sáng hôm sau, linh hồn sẽ về nói chuyện nên xin anh Trung báo cho con (thầy Nam) biết, để con đặt câu hỏi cho linh hồn ấy trả lời.Thế là con ghi các câu hỏi để linh hồn trả lời. Rồi anh Trung ghi chép và viết ra câu trả lời như là cái máy thâu băng. Linh hồn này có thể về thăm vào bất cứ lúc nào: đêm, ngày, sáng, chiều. Có khi thì nói dài, có khi thì nói ngắn. Có lần, linh hồn chỉ nói như sau: “Bảo nó đừng đi. Đi sẽ bị bắt”. Hay: “Hãy ở nhà đi, đi lúc này không tiện”.

Có giai đoạn linh hồn nói với anh Trung khi anh đi lên rẫy, trên đường đi làm, anh vẫn nghe tiếng nói. Cách nói rất thân tình, tự nhiên, và thẳng thắn.

Ngày 15/8/1978, vì lễ Đức Mẹ Lên Trời là ngày Chúa Nhật nên dời vào ngày 21/8/1978. Tối
hôm thứ bảy, linh hồn ấy về và kể chuyện về tiểu sử của mình như sau:

Tôi là linh hồn mồ côi, ở trong luyện ngục được 55 năm. Lẽ ra, tôi phải ở trong luyện ngục 69 năm, nhưng nhờ lời cầu nguyện của anh (Trung) mà tôi được giảm 13 năm trong luyện ngục. Sang năm, ngày 15/8/1979 thì tôi sẽ được về trời. Nếu như thầy Nam mà làm linh mục thì tôi được nhờ biết mấy.

Sau đó, anh Trung đưa cho con 50 đồng để xin cha dâng lễ cầu nguyện cho các linh hồn mồ côi. Con bèn nhờ cha Huấn là LM Hạt trưởng, làm 10 lễ cầu cho các linh hồn mồ côi. Cha Huấn cũng cố gắng dâng lễ. Cầu xong mười lễ là ngày 5/9/1978. Trước đó 2 ngày, tiếng nói linh hồn cất lên:

Ngày vinh quy của tôi gần kề, tôi sẽ không về mà ở lại luyện ngục để đền tội, cầu nguyện và tạ ơn Chúa. Sau ngày vinh quy, thì tôi sẽ về, nếu muốn hỏi gì thì hỏi. Vào thứ ba 5/9/1978, lúc 6 giờ thì linh hồn tôi về trời, vậy thầy Nam muốn hỏi gì thì tôi trả lời.

Con bèn đặt câu hỏi. Quả nhiên, linh hồn về lúc 3 giờ sáng và 3 giờ chiều để trả lời các câu hỏi:
Hỏi: Các linh hồn ở đâu? Các linh hồn làm gì trong luyện ngục?

Đáp: Các linh hồn lúc sống phạm tội ở đâu thì lúc chết đền tội ở nơi đó. Ví dụ: lúc sống đi
đường, thấy hòn đá mà không dẹp đi, lại liệng ra đường cho người khác té chơi thì lúc chết sẽ quỳ đền tội ở bên đường đó. Lúc sống phạm tội trên đường, trong phòng, trong nhà thờ, thì sẽ đền tội ở các nơi đó. Người ta thường phạm tội ở trong phòng  của mình và trong nhà thờ, chẳng hạn các tội: nói chuyện, lo ra, chia trí, cầu nguyện mà ngủ gục…

Các linh hồn yêu mến Chúa và yêu mến người trần, nên họ xin Chúa ban ơn cho các người ở trần gian để khỏi phải rớt vào luyện ngục, khỏi rớt vào chốn trầm luân (hỏa ngục).
Hỏi: Ngài là ai để chúng tôi xin lễ cho ngài?

Đáp: Tôi không về với tính cách riêng tư, nhưng Đức Mẹ sai tôi đại diện cho các linh hồn mồ côi để xin mọi người trên thế gian cầu nguyện cho linh hồn ông bà, cha mẹ và những linh hồn mồ côi. Theo tín điều các thánh thông công thì các Thánh ở trên trời ban ơn, các người ở trần gian lập công để cứu các linh hồn, các linh hồn cầu nguyện cho người ở trên Trần gian.

Hỏi: Ngài là ai? Xin cho biết tiểu sử của ngài?

Đáp: Ngày hôm nay, Chúa nhân từ đoái thương mở cửa Thiên đàng cho tôi vào, Mẹ Maria đoái thương cho tôi về trời. Tôi xin tạ ơn Chúa và Mẹ Maria. Tôi vốn là một lực sĩ trong tỉnh. Tôi thường ném quả tạ nặng 5 ký lô đến một khoảng xa 13 thuớc rưỡi. Từ đó tôi thấy mình mạnh nên kiêu ngạo mà coi thường bạn bè. Sau đó, tôi chỉ còn ném xa có 5 thước ruỡi mà thôi. Lý do tôi xuống dốc vì tôi kiêu ngạo mà Chúa bỏ rơi tôi.

Vì biết như vậy nên tôi trở lại đi nhà thờ dự thánh lễ và cầu kinh. Ngày trước, tôi cũng giống như các thanh niên khác tức là không muốn đi nhà thờ. Nay vì thua thiệt nên tôi trở về với Chúa. Sau đó, tôi lấy lại sức mạnh và tôi có thể ném tạ xa 13 thước rưỡi như cũ. Tôi bèn thách thức Chúa. Tôi nay mạnh mẽ rồi, tôi không thể chết. Chúa chưa gọi tôi được. Trong lúc tập dượt, tôi ngồi nghỉ mệt và chỉ nửa tiếng sau, tôi ra trình diện trước Tòa phán xét của Chúa.

Chúa cho tôi đi qua Hỏa ngục, thật là kinh khiếp quá sức, không thể diễn tả được, tôi sợ phát điên được. Rồi tôi vào luyện ngục và gặp ba tôi ở đó. Ba tôi nhìn tôi và tỏ ý buồn rầu vì ba tôi thường nhắc nhở tôi về Chúa. Ba bảo tôi phải đi nhà thờ nhưng tôi không nghe. Vì thế mà ba tôi rất buồn khi thấy tôi ở luyện ngục.

Lúc tôi ra trước Tòa phán xét thì tôi thấy cả một biển vô ơn trước mặt. Tôi đến trước mặt Chúa với hai tay trắng trơn. Tôi thấy các việc tốt mà tôi đã làm như: Cúi chào trước Thánh Thể Chúa thật huy hoàng, hay những kinh Kính Mừng mà tôi đọc trước khi đi ngủ thật rạng sáng. Tuy những việc làm tốt của tôi nhỏ bé nhưng vì có Đức Mẹ Maria bầu cử nên tôi lãnh án 69 năm.
Tôi đã ở luyện ngục 55 năm rồi, nhờ anh Trung cầu nguyện nên tôi được giảm 13 năm. Rồi nhờ  thêm các Thánh lễ anh xin cho tôi, nên tôi được về trời.

Tôi thấy người ở trần gian không còn nhớ đến các linh hồn, không nhớ cầu nguyện và xin lễ cho các linh hồn. Tôi van xin quý vị hãy nhớ cầu nguyện cho các linh hồn.
Quý vị thường thích nhậu nhẹt và cờ bạc, mà không nhớ các linh hồn ông bà, cha mẹ một đời hy sinh cho các con cháu. Vầy mà dù một lễ cũng không cho. Nếu “kẹo” với ai thì “kẹo”, xin đừng “kẹo” với các linh hồn.

Nếu chỉ cứu một linh hồn ra khỏi luyện ngục thì mình có một ghế ngồi trên Thiên đàng. Nếu cứu nhiều linh hồn thì ghế ngồi của chúng ta càng gần Chúa hơn và càng rạng sáng.
Người ở thế gian kêu khổ, nhưng chịu khổ lâu năm thì quen. Còn các linh hồn ở luyện ngục thì ngày càng nóng thêm, rát, hối hận và đau khổ.

Xin quý vị hãy cầu nguyện cho các linh hồn mồ côi nhiều hơn. Nếu không bỏ vốn thì làm
sao có lời được? Nếu quý vị không giúp các linh hồn thì làm sao họ cầu nguyện cho mình? Khi đọc các tràng chuỗi Mân Côi, dự các Thánh lễ là như đóng tiền gửi các linh hồn giữ cho, rồi sau đó rút ra cả vốn lẫn lời.

Tràng chuỗi Mân Côi là một phương thuốc trường sinh giúp cho các linh hồn vững mạnh.
Mỗi tràng chuỗi Mân Côi là một nấc thang về trời.

 Ngày về trời của những ai lần chuỗi Mân côi rất rạng sáng.

Tràng chuỗi Mân Côi là thuẫn che chở con cái khỏi ma quỷ.

Tràng chuỗi Mân Côi là cách đóng tiền gửi vô nhà băng của Luyện ngục mà có cả vốn
lẫn lời.

Ban tối, trong gia đình nên đọc kinh chung với nhau. Đó là giờ phút chúng ta tạ ơn, tâm
sự với Chúa, đuổi ma quỷ ra khỏi nhà mình. Đó là lúc ta mời Chúa và Mẹ đến với gia
đình ta để chúc phúc, và như vậy sẽ không có người chết bất thình lình trong gia đình
đó
Nơi đâu có lời kinh Kính Mừng vang lên thì sẽ có Đức Mẹ Maria và các linh hồn sẽ bay về
đó để cùng họ đọc kinh mà tôn kính Đức Mẹ và nhận ơn của Mẹ. Vậy khi rảnh rỗi, xin
đọc chừng 3 hay 10 kinh Kính Mừng để cầu cho các linh hồn mồ côi.

Thầy Nam kể tiếp: Ngài (linh hồn mồ côi) nói tiếp:

“Vì Thiên Chúa thương yêu loài người nên Ngài cho con người được tự do. Nếu Chúa muốn phạt loài người thì Ngài chỉ cần lấy đi sự tự do. Nếu bị mất tự do thì đó là hình phạt lớn nhất. Lúc ấy, con người chỉ còn như loài vật. Chính vì có tự do nên con người có tự ái và ý riêng. Vì có tự ái và ý riêng mà loài người, kể cả các linh mục và tu sĩ nam nữ, đã làm mất nhiều ơn phúc mà Chúa ban cho”.

-Ngài nhắc đến mầu nhiệm Năm Sự Thương:

“Ôi Đấng Rất Thánh mà còn phải cúi lưng vác Thánh giá nặng nề thay vì tôi là đứa gian ngược, tội lỗi đầy dẫy mà còn dám phạm tội nữa sao?”

-Ngài còn nói đến Thánh Vịnh thứ 115:

“Con biết lấy gì đền đáp cho Chúa để đền ơn những gì mà Chúa đã ban cho con?”

-Sau đó, ngài khuyên mọi người hãy tiếp tục cầu nguyện.

-Ngài còn giải thích rằng sở dĩ các linh mục phải vào tù (cải tạo) trong thời gian (1975) trở đi vì những người dùng quyền bắt các linh mục là những kẻ lầm đường lạc lối. Họ cần tìm về sự thật qua sự dậy dỗ của các cha. Như vậy nên các cha phải vào tù để dậy dỗ họ. Sớm muộn gì thì các cha cũng được về.

-Vào các năm 1978, 1979 là thời gian căng thẳng nhất, nhiều chủng viện và nhà Dòng bị tịch thu, các tu sĩ buộc phải ra khỏi Dòng. Ngài nói:

“Cho dù có mất hàng trăm, hàng ngàn ngôi nhà thờ cũng không tiếc bằng việc có một linh mục đi lấy vợ”.

-Ngài lập lại lần nữa: ”Những người cám dỗ không bao giờ trung thành”.

-Ngày 5/9/1978 là ngày mà ngài về trời, ngài nhắc anh Trung kêu con đặt câu hỏi cho ngài. Ngài kể cảnh tượng mà ngài thấy trên Thiên Đàng như sau:

Tôi thấy Đức Mẹ quỳ xuống để cầu xin Chúa Giêsu tha tội cho nhân loại. Đức Mẹ cầm tay Chúa lại để ngăn cản Ngài đừng phạt thế gian. Nếu loài người thấy được điều ấy thì họ phải quỳ gối xuống để đền tội của mình, chứ không thể đứng. Nếu loài người thấy được các linh hồn quỳ đền tội của họ thì người ấy sẽ không còn thấy mọi sự trên trần gian có giá trị gì nữa mà phải ăn năn, khóc lóc mà đền tội của mình. Chúa đã ban cho loài người có tự do, có lựa chọn thì hãy sống thánh thiện và vâng lời Hội thánh”.

Sau đó, thầy Nam ngừng lại để xin cử tọa đặt câu hỏi cho thầy giải đáp. Sau đây là những câu trả lời của thầy, dựa theo các câu hỏi của cử tọa gồm có Đức Viện phụ, các linh mục và các tu sĩ:
-Thời gian mà linh hồn mồ côi ấy về nói chuyện là từ 15/6/78 đến 5/9/78. Khi ngài về trời, thì ngài vẫn dùng tiếng nói. Con có hỏi khi ngài nói chuyện với người trần thì ngài có hưởng Nhan Thánh Chúa không, thì ngài đáp:

“Tôi đi đây là làm theo ý Chúa và Ý Đức Mẹ, vì tôi được Mẹ sai đi, nên tôi vẫn hưởng Nhan Thánh Chúa”.

-Ngài gọi tháng 5 là tháng Hồng Phúc vì trong tháng này, ơn Chúa đổ xuống nhiều, qua việc mọi người đọc nhiều chuỗi Kinh Mân Côi để tỏ lòng sùng kính Mẹ Maria.

-Ngài gọi tháng 6 là tháng Cứu Độ vì là tháng kính Thánh Tâm Chúa. Trong tháng 6 này, chúng ta nên cầu nguyện đền tạ Thánh Tâm Chúa để xin Chúa ban ơn bình an cho mọi người.
-Ngài gọi tháng 10 vốn là tháng Mân Côi, là tháng An Ủi vì tháng này mọi người đọc nhiều
chuỗi kinh Mân Côi nên ơn Chúa tuôn đổ nhiều như mưa rơi.

-Ngày 2 tháng 11, lễ các Đẳng Linh Hồn là ngày Tết của các linh hồn ở luyện ngục.

-Tháng 11 cũng là tháng mưa Hồng Ân vì các con cháu thường hay quên, nhưng đến tháng này thì họ nhớ đến ông bà cha mẹ nên xin lễ cho ông bà cha mẹ. Vì thế ơn Chúa dồi dào như mưa tuôn.
-Con quên nên không hỏi ngài về ý nghĩa của tháng 3 là tháng kính Thánh Giuse. Xin hãy cầu nguyện với Thánh Giuse. Khi còn ở trần gian, Cha Thánh Giuse đã lao động vất vả. Nay ở trên Thiên đàng, cha Thánh Giuse vẫn lao động để kéo ơn Chúa xuống cho con cái trần gian. Cha Thánh Giuse đặc biệt thương yêu giới trẻ. Nơi nào có các bạn trẻ lần chuỗi Mân Côi là nơi ấy có sự cứu giúp đặc biệt của Cha Thánh Giuse.

-Trong vòng một năm linh hồn ấy hiện về khoảng trên 50 lần, có khi dài, khi ngắn. Anh Trung vẫn nghe tiếng nói bên tai như sau: “Ngày mai hội ngộ lúc 8 giờ, anh nói thầy đặt câu hỏi để tôi trả lời”.

H-Có những câu hỏi mà linh hồn không trả lời, chẳng hạn như con có hỏi rằng linh hồn ông bà nội con bây giờ ở đâu?

Đ-Linh hồn ấy trả lời:“Thầy đã được Chúa chọn, chẳng lẽ các linh hồn ông bà, cha mẹ lại ở chốn trầm luân hay sao?

Sự ấy không thể xẩy ra như vậy được”.

Như vậy có thể suy luận rằng Chúa luôn để ý chăm sóc đến các linh hồn ông bà, tổ tiên của các gia đình có người được Chúa chọn.

-Có những câu hỏi mà con đặt ra nhưng ngài nói rằng không được phép trả lời vì đó là bí mật của Thiên Chúa. Ngài chỉ được nói trong phạm vị sứ mạng của ngài. Còn những câu hỏi do sự tò mò thì ngài gạt đi, không được phép trả lời.

-Ngài xin các linh mục hãy sốt sắng dâng lễ. Các linh mục không biết rằng các ngài nắm trong tay một phương tiện cao trọng vô cùng, đó là Thánh lễ. Dâng Thánh lễ để thờ phượng Thiên Chúa và đền tội cho nhân loại. Có một số cha dâng lễ khô khan quá, thiếu sự dọn mình.

-Ngài nói rằng các tu sĩ thời buổi này có thánh giá nặng hơn vì phải đi lao động. Khi gặp khó khăn thì phương thuốc đặc biệt là đọc kinh với tràng chuỗi Mân Côi. Đó là phương thuốc trường sinh để trỗi dậy. Ở Phan Rang có một linh mục đang gặp khó khăn, con bèn xin với cha ấy hãy thử đọc kinh Mân Côi, làm 3 ngày đền tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu, 3 ngày đền tạ Mẫu Tâm Mẹ Maria và cầu cho các linh hồn mồ côi. Cha ấy thực hành và thoát cảnh khó khăn.

-Tuy nhiên không phải lúc nào cầu nguyện như thế là đều có thể tránh cảnh khó khăn, không phải lúc nào cầu nguyện với các linh hồn là tai qua nạn khỏi đâu. Chẳng hạn như trường hợp của con, con bị bệnh hen suyễn, suốt ngày khọt khẹt, cơn bệnh làm cho con phiền lắm nên con xin linh hồn cầu cho con khỏi bệnh. Linh hồn ấy bảo con là:

“Có khi cơn bệnh của mình là do sự quan phòng của Thiên Chúa dùng để thanh luyện mình”. Vì thế, nếu mình bị cơn đau đầu hay các cơn bệnh khác là do Chúa dùng cơn bệnh ấy để cứu người khác. Mình mang thân phận người là phải chịu khó khăn, khổ đau rồi.

Con xin kể câu chuyện mà con nhờ các linh hồn và được giúp:

Ngày ấy, con mượn cái kéo cắt cây của cha Phó Thịnh. Cha dặn con rằng sáng thứ bẩy phải đem cái kéo trả lại cho cha. Đến thứ bảy, con đã để sẵn cái kéo ngay trước cửa, định bụng sẽ đem trả cho cha Thịnh. Thế mà con quên, khi đi đến nửa đường, con mới chợt nhớ ra là mình quên cái kéo ở nhà. Bây giờ trở lại lấy thì mất công quá.

Lúc con gặp cha Thịnh, cha hỏi cái kéo thì con đành nói rằng mình bỏ quên ở nhà. Cha Thịnh nhăn mặt. Con bèn năn nỉ cha:

Xin cha thông cảm, con để quên kéo ở nhà, con sẽ về lấy rồi đem trả lại cho cha”.

Sau đó, con nghĩ lại, hôm ấy con sẽ bận rộn vì phải soạn bài giảng cho ngày Chúa nhật. Con bèn xin các linh hồn mồ côi giúp con bằng cách làm sao cho có ai đi lên Phan Rang xưng tội thì xin các linh hồn kêu họ ghé đến đây, rồi cầm cây kéo lên đó để trả lại cho cha Thịnh. Nếu các linh hồn giúp con như vậy thì con sẽ xin một Thánh lễ để cầu cho các ngài. Bây giờ con vừa đạp xe vừa lần chuỗi để cầu cho các ngài.

Con về đến nhà lúc 9:30 sáng, định nghỉ ngơi một chút rồi đến 10:30 sáng sẽ đạp xe lên Phan Rang để trả kéo cho cha Thịnh. Thình lình có hai cô vào gặp con và nói rằng họ sắp lên Phan Rang đi xưng tội, vậy thầy có gửi gì cho các cha không. Mới đầu, con còn chưa nhớ ra cái kéo, một hồi mới nhớ ra, con bèn xin hai cô ấy giúp đem trả cái kéo giùm. Một cô còn nói: Cũng vì cái kéo mà chúng con vô đây!”

Thật là chuyện hi hữu. Từ đó, khi làm việc gì con cũng cầu xin với các linh hồn.

Một lần kia, con cùng với 4 chú giúp lễ đi dọn cái hàng ranh (mương). Thường thì người ta hay liệng đủ thứ rác xuống mương. Hôm ấy, một chú cuốc vào một vật gì cứng, mới đầu tưởng là cục đá, ai dè đó là quả lựu đạn. Cả bọn chúng con sợ lựu đạn nổ nên nằm sấp xuống. Vừa đó, có xe bộ đội đi ngang qua, sau khi con nhờ họ coi xem thì họ nói:

”Số thầy và mấy chú hên lắm. Trái lựu đạn này đã gẫy rồi mà không nổ, nếu nó nổ thì mấy thầy trò banh xác rồi”.

Đó cũng là nhờ ơn các linh hồn cầu bầu cho chúng con.

-Con vẫn nhớ câu nói của linh hồn ấy: “Giúp chúng tôi một,chúng tôi trả lại vô vàn. Sống một giây trong luyện ngục còn chịu không nổi, huống gì chúng tôi phải sống rất nhiều năm”.

-Thánh lễ là lúc Chúa ban ơn, ơn dành cho kẻ sống và người chết. Các linh hồn mồ côi là
những người chết mà con cháu không nhớ đến để mà xin lễ cho ông bà cha mẹ của mình.
-Theo tín điều các thánh thông công, thì các thánh trên Thiên Đàng, các người ở trần gian, và các linh hồn ở luyện ngục là ba anh em ruột. Các Thánh cầu bầu cho người trần, người trần lập công và cầu nguyện cho các linh hồn, và các linh hồn cầu nguyện và cứu giúp người trần.
Các linh hồn ở luyện ngục là các vị thánh phải chờ đợi để đền tội xong, rồi sẽ hưởng Nhan Thánh Chúa. Chẳng hạn như linh hồn một bà mẹ đang đền tội ở trong nhà thờ, nhưng bà nhìn thấy trước là con của bà sắp gặp nguy hiểm, nên bà bèn xin Chúa và Mẹ thương con của bà. Bà có thể xin Chúa và Mẹ Maria cho bà ra chỗ con bà sắp gặp nguy hiểm để cứu con bà.

-Các Thánh có thể nhìn thấy Chúa trong Thánh Thể. Còn các linh hồn chỉ nhìn thấy vòng ánh sáng chung quanh Thánh Thể chứ chưa được nhìn thấy Chúa. Các linh hồn chỉ được nhìn thấy Chúa khi ra tòa phán xét, nay phải xa cách Chúa, thì lòng các ngài thuơng nhớ, yêu mến và muốn được hiệp thông với Chúa lắm, nhưng phải chờ đến khi đền hết tội mới được về Trời. Quỷ cũng chỉ thấy ánh sáng chung quanh Mình Thánh Chúa mà thôi.

*Các linh hồn van xin người trần gian hãy làm bạn với chúng tôi. Hãy cầu nguyện và xin Thánh lễ cầu cho chúng tôi, chúng tôi sẽ cứu giúp, phù trì, che chở để các bạn khỏi bị cheo leo, nguy hiểm.
– Khi ta gieo giống thì chỉ có một hạt nhưng khi gặt thì được nhiều hạt giống.

-Khi nghe tiếng chuông nhà thờ thì các linh hồn đang đền tội ở khắp nơi đều bay về nhà thờ để hiệp cùng cộng đoàn dâng lời thờ lạy Chúa. Khi xong lễ, mọi người thế gian về, còn chúng tôi quỳ lại để cảm tạ Chúa.

-Theo giáo lý thì khi người chết rồi thì đi thẳng đến toà phán xét. Còn tôi lại được dắt đi qua hỏa ngục, luyện ngục và tòa phán xét. Đó là vì sứ mạng mà Chúa chuẩn bị cho tôi ngày hôm nay. Vì thế, Chúa muốn tôi thấy các nơi ấy để nói lại cho mọi người biết. Chúa đã thấy 55 năm về trước nên Ngài cho tôi đi lòng vòng.

-Lẽ ra khi chết đi thì không còn thời gian hay nơi chốn, nhưng vì muốn cho rõ thời gian đền tội nên vẫn dùng thời gian của trần gian để tính năm tháng phải đền tội ở luyện ngục.

*Ai càng thuộc về Chúa thì càng bị cám dỗ. Giám mục thì bị cám dỗ nhiều hơn linh mục, hơn thầy sáu, hơn các tu sĩ nam nữ, hơn giáo dân. Nếu cũng một tội mà giáo dân phạm thì chỉ đền ít hơn, còn các vị có chức Thánh thì đền lâu vô vàn.

-Một điều để thấy rõ là các đấng có chức Thánh mà sắp chết thì họ năng quỳ Chầu Chúa. Trên khuôn mặt của họ có nét vui tươi hớn hở.

Thầy Nam kể tiếp: *Hiện tượng người chết hiện về:

Đức Mẹ có cho phép các linh hồn hiện về thì mới được về. Nếu linh hồn hiện về là để xin gia đình hãy cầu nguyện cho họ. Trong tín điều các thánh thông công thì Đức Mẹ đóng vai trò lớn lao. Khi chúng tôi (các linh hồn) không có ai cầu nguyện cho thì chúng tôi thường chạy đến với Tòa Đức Mẹ và Tòa Cha Thánh Giuse vì các Ngài luôn thương xót giúp đỡ chúng tôi, nhất là Đức Mẹ cho chúng tôi hưởng nhận ơn qua các tràng chuỗi Mân Côi mà người thế gian dâng lên Mẹ.
-Trong đời sống của linh hồn mồ côi này, các việc lành mà ngài làm chỉ là việc cúi đầu chào Thánh Thể rạng sáng, các chuỗi Mân Côi huy hoàng. Nhưng ngài biết giữ mình sạch sẽ, và không mắc tội trọng. Vì thế khi bị chết bất thình lình thì ngài vào luyện ngục, chứ không vào hỏa ngục, như vậy là khá rồi.

-Ngài dặn chúng ta hãy giữ mình sạch sẽ, đừng vào luyện ngục mà khốn vì ở đó đau khổ lắm, dù một giây cũng chịu không nổi đâu. “Vậy mà chúng tôi phải ở đây!”

Ngài nói chúng ta cứ xin lễ cho các linh hồn mồ côi là ngài cũng được hưởng rồi, không cần xin lễ đích danh cho ngài.

-Xưa nay chúng ta thường hay quên việc cầu nguyện cho các linh hồn mồ côi. Vậy xin Đức Viện Phụ và các cha, các thầy hãy dâng lễ cầu cho linh hồn các thầy Dòng, các linh hồn mồ côi, các linh hồn ân nhân để xin các ngài bầu cử cùng Chúa cho nhà Dòng, dù khi bình thường cũng như khi nguy hiểm, ta cũng cần xin ơn lành để Chúa bảo vệ chúng ta khỏi mọi sự dữ.
-Nãy giờ con tâm tình để cùng chia sẻ ơn lành của Chúa, chứ không phải là khoe khoang. Con không có ý kiêu ngạo, vì con biết Chúa rất ghét và kỵ sự kiêu ngạo. Khi chúng ta gặp thử thách thì hãy dâng 3 ngày đền tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu, 3 ngày đền tạ Mẫu Tâm Mẹ Maria và 3 ngày cầu cho các linh hồn mồ côi. Nhớ rằng phải xưng tội và dọn mình cho xứng đáng, nghĩa là phải sạch tội để lãnh nhận ơn Chúa. Nếu có ai gặp chuyện không hay, hoặc gặp trắc trở trong ơn gọi thì nên áp dụng việc chầu Mình Thánh Chúa, hay sùng kính Mẹ Maria là tốt rồi.

-Câu chuyện này xẩy ra nhưng anh Trung phải giữ thinh lặng cho đến chết. Còn con cũng phải giữ kín danh tính anh ta cho đến chết luôn, giống như các linh mục ngồi tòa giải tội, phải giữ kín việc người ta xưng tội với mình. Lúc này chưa được nói ra. Anh Trung chỉ việc viết ra và đưa cho con. Còn con thì tuỳ theo sự khôn ngoan mà muốn làm chi thì làm.

-Tiếng nói ấy nói rằng khi thầy yếu đuối, chán nản thì hãy nhìn lên  ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, hay ảnh Chúa Giêsu ở trong phòng là được an ủi và nâng đỡ ngay. Phòng con có ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp và Chúa Giêsu nên con thường nhìn lên và cầu nguyện. Đây cũng là  kinh nghiệm mà các linh hồn mời gọi. Các ảnh tượng của các Thánh đã làm phép rồi thì là vật Thánh. Những khi vất vả, chán nản thì nhìn lên tượng Đức Mẹ, ảnh Chúa Giêsu và ảnh Thánh Giuse mà cầu xin. Chúng ta có sự liên lạc đặc biệt giữa Chúa Giêsu, Đức Mẹ, Cha Thánh Giuse với các linh hồn và con người trần gian.

-Đối với các người sống độc thân thì linh hồn bảo như vầy: “Trong phòng thầy thì đừng bao giờ cho các phụ nữ vào, chỉ trừ mẹ thầy và em gái thầy mà thôi”.

H-Để trả lời các thắc mắc như: “Làm sao có thể nói rằng các linh hồn đang đền tội mà giúp đỡ và cầu bầu cho chúng ta?”.

Đ-Cũng dễ hiểu thôi: Nếu trong gia đình có người con đau yếu thì cha mẹ thương đứa con đau yếu hơn, nên nó xin gì cũng được cha mẹ dễ chấp thuận. Vì thế, các anh chị em thường hay nhờ đứa em đau yếu xin cha mẹ giùm mình. Cũng vậy, các linh hồn mồ côi có số phận hẩm hiu. Họ là các người con đáng thương của Chúa, cho nên họ trở nên mạnh thế trước tòa Chúa. Chúa thương yêu các linh hồn mồ côi hơn vì họ bị bỏ rơi, không có ai cầu nguyện cho.

*Giới tu sĩ là những người sống ơn gọi tận hiến, thì xin hãy sống bậc trọn lành. Ngài nhắc đi nhắc lại như sau: “Đã chọn Chúa thì đừng mơ ước thế gian. Hãy bỏ các tư tưởng đàng rộng là xác thịt. Kẻ thù là ba thù: ma quỷ, thế gian, xác thịt, chung quy là tính xác thịt. Để chống trả lại các cơn cám dỗ của xác thịt thì có phương thuốc hiệu nghiệm: Đó là tràng chuỗi Mân Côi.
Các tu sĩ và linh mục hãy uống thuốc là tràng chuỗi Mân Côi. Thuốc này sẽ giúp các tu sĩ tận hiến. Khi một tu sĩ bị lo ra, hay sa ngã thì hãy chỗi dậy, hãy nắm lấy tràng chuỗi Mân Côi mà cầu nguyện.

Riêng các linh mục đã bước dấn thân, khi là thầy sáu là bước Kitô 1, là linh mục là bước Kitô 2, thì Chúa phải là gia nghiệp của mình, tại sao còn mơ ước xa xôi? Hỡi các linh mục sa ngã, hãy trỗi dậy mà cầm tràng chuỗi Mân Côi của Đức Mẹ.

-Ngài rất chú trọng đến tràng chuỗi Mân Côi. Khi Đức Mẹ Maria hiện ra tại nhiều nơi trên thế giới, chẳng hạn như ở Lộ Đức, Fatima, thì tay Mẹ luôn có tràng chuỗi Mân Côi. Mẹ không đeo nhẫn hay đeo đồng hồ, mà trang sức của Mẹ là tràng chuỗi hạt Mân Côi. Đó là món trang sức cao trọng, xứng với Đức Chúa Trời, đó cũng phải là trang sức của các linh mục và tu sĩ nam nữ.
Vì sao? Vì đó là phương thuốc rẻ tiền, quý báu và công hiệu. Xin lưu ý, xin hãy nhớ lời ngài nói:

”Ở đâu có lời kinh Kính Mừng vang lên là có Đức Mẹ Maria hiện diện và có các linh hồn mồ côi bay đến để tôn kính và nhận  ơn của Mẹ. Vậy khi các cha,  các thầy đi làm lao động, thỉnh thoảng xin hãy đọc 3 kinh Kính Mừng để kết hợp với Đức Mẹ và cầu cho các linh hồn”.
-Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu phán:

”Ma đâu có xác thịt như các con đã thấy Thầy đây?” Trong giáo lý có nói về các Thiên thần, linh hồn và trong đó có một số tà thần. Tất cả đều là các tạo vật, do Chúa dựng nên, nhưng họ không thể tự mình muốn làm gì thì làm. Ma quỷ không phải là tự nhiên mà có, chúng không thể tự mình làm gì thì làm. Ngài nói: ”Tôi được về đây là do Mẹ sai về, về có mục đích làm lợi ích cho mọi người“.

-Người dân gian thường có lối giáo dục sai lầm, khi bà mẹ hay người chị ru em thì thường hù dọa con em mình rằng: “Coi chừng, ma, kẹ kìa”. Không có ma theo nghĩa dân gian mà chỉ có các Thiên thần, các Thánh, các linh hồn luyện tội hay các tà thần. Họ không tự lập được mà họ lệ thuộc vào Thánh Ý Chúa.
-Có khi các linh hồn cha mẹ, ông bà về là để xin các con cháu hãy xin lễ cầu nguyện cho họ.
-Ngài khuyên đừng có ai ở trần gian vào chốn luyện ngục. Muốn khỏi vào luyện ngục thì xin làm việc đền tội ngay trên trần gian này. Các tội đã xưng ra và đền tội rồi thì không phải đền trả ở luyện ngục nữa. Chỉ có những tội chưa xưng và chưa đền tội thì phải đền ở luyện ngục.

Khi ta phạm tội trọng mà không xưng thú thì ta phải vào hỏa ngục. Nếu ta xưng thú thì Chúa tha tội chết, nhưng ta phải làm việc đền tội cho sự dữ mà ta đã gây nên. Ta phải làm nhiều việc lành để xóa cái vạ do việc dữ của ta gây ra.

-Như đã nói trên, ta phạm tội ở đâu thì phải đền tội ở nơi ấy, và nơi đền tội là luyện ngục của ta. Nơi mà người ta đền tội nhiều nhất là trong nhà thờ. Trước Mình Thánh Chúa mà ta thiếu đức tin, đọc kinh lơ đễnh, chia trí. Trong nhà Dòng có một việc làm rất hay là hay đấm ngực xin Chúa tha tội. Như vậy khi chết có thể yên tâm.

H-Có câu hỏi là khi còn sống ta làm việc lành mà nhường cho các linh hồn thì khi chết ta sẽ ra sao?

Đ-Khi sống ta đền tội bằng cách làm việc lành để chỉ cho các linh hồn về trời thì đó là việc đền tội của ta rồi. Ta đã hy sinh cứu các linh hồn.

-Các sứ điệp luôn nhắc đến tầm quan trọng của chuỗi Mân Côi, nhưng không vì thế mà loại bỏ việc đi đàng Thánh Giá. Ngài lập lại lời kinh chặng thứ hai của Năm sự thương như con đã nhắc ở trên. Ngài nói bây giờ hãy chịu khó vác thánh giá đi, đừng nuông chiều xác thịt, đừng theo ý riêng. Nếu Chúa gọi mà ta còn theo ý riêng thì khốn. Ngài rất sợ làm gì theo ý riêng. Chúng ta hãy lo sống theo ơn gọi, đừng để khi chết phải ra tòa phán xét thì khốn.

-Nếu giáo xứ có ai đang hấp hối hay đau nặng thì nên cầu nguyện trước Thánh Thể cho họ 1 tiếng đồng hồ để họ được ơn ăn năn tội và đền tội trong giờ sau hết. Vì giờ chết là giây phút khủng khiếp và đáng sợ nhất.

-Những người hấp hối luôn luôn được ơn ăn năn nếu có ai kêu ba tên cực trọng: Giêsu, Maria, Giuse để cầu cho họ. Một dấu hiệu mà người hấp hối, sắp chết, bị á khẩu muốn xin ta cầu nguyện, đừng bỏ họ và hãy cứu họ. Đó là sự rơi nước mắt sống. Vậy ta nhớ cầu nguyện cho họ bằng cách kêu tên cực trọng Giêsu, Maria, Giuse cho họ.

-Riêng các tu sĩ thì sự vui tươi hiện trên nét mặt của họ vì con sắp về với Đấng mà con hy sinh suốt cuộc đời cho Ngài là Chúa Giêsu Kitô.

-Khi chúng ta dâng việc lành lên Chúa như dâng Thánh lễ, lần chuỗi Mân Côi, chúng ta không cần kêu đích danh các linh hồn, vì Chúa sẽ xét để xem các linh hồn thân nhân của ta có cần ơn không, rồi đến các linh hồn khác. Ví dụ tôi xin lễ cầu cho ông A, nhưng có thể ông ấy lên trời rồi hay ông ấy xuống hỏa ngục rồi thì Chúa sẽ ban ơn cho các linh hồn khác đang cần ơn Chúa hơn. Nếu chúng ta làm việc lành với ý chỉ đặc biệt thì Chúa sẽ xét trong sự khôn ngoan của Ngài để ban cho các linh hồn bị bỏ rơi, cần ơn Chúa nhất.

-Chúng ta hãy dâng các việc làm cho Đức Mẹ Maria để tùy Mẹ phân phát ơn lành cho những ai cần. Có khi có một vị tu sĩ đang gặp khó khăn thì Chúa và Mẹ có thể ban ơn ấy cho vị tu sĩ đang gặp khó khăn để giúp đỡ ngài.

-Ngài cắt nghĩa điều này là theo sự quan phòng của Chúa, Chúa phân phối ơn lành tuỳ theo các nhà thờ dâng Thánh lễ. Nếu các nhà thờ dâng nhiều thánh lễ thì các linh hồn ở vùng ấy được nhờ. Còn các nhà thờ khô khan thì các linh hồn mất nhờ, họ sẽ oán trách ta.

-Nếu có những giáo xứ, tu viện, cộng đoàn sốt sắng thì những người tội lỗi, và các linh hồn được hưởng nhờ ơn phước. Còn nếu các giáo xứ, tu viện hay cộng đoàn bê trễ thì ơn Chúa thiếu vắng, dân Chúa không được hưởng nhờ.

 -Chúa dùng các ơn lành của người này để cứu giúp người kia. Chẳng hạn có một vị linh mục đang gặp khó khăn thì Chúa dùng Mầu nhiệm các Thánh thông công để dùng sự đau khổ của một bà mẹ, của một thầy Dòng, hay lòng yêu mến của một trẻ thơ để ban ơn lành cho vị linh mục ấy.

-Các tu viện được chọn để cứu các linh mục, và các linh hồn. Các tu sĩ dùng sự chiêm niệm, cầu nguyện và hy sinh để đền tội thay cho những người khác. Nếu các tu viện lơ là thì dân chúng thiếu ơn. Nếu các tu viện sốt sắng, làm nhiều việc hy sinh thì dân chúng được mạnh mẽ. Các Dòng tu như máng thông ơn Chúa cho nhân loại.

Thánh lễ thì vô giá. Chúa cần sự cộng tác của loài người. Chúa dùng của lễ hèn mọn của con người để làm các phép lạ, chẳng hạn Chúa dùng hai con cá và năm chiếc bánh để làm phép lạ nuôi 4000 đàn ông, nếu kể đàn bà và con trẻ thì có thể là trên 10 ngàn người.

-Trường hợp của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu thật là đáng phục. Hôm ấy, Thánh Têrêsa mệt, yếu nhưng vẫn cố gắng đi. Y tá khuyên chị không nên đi, chị Thánh nói:

“Em hy sinh sự mệt nhọc của em để cầu nguyện cho một vị truyền giáo đang mệt mỏi mà
không có ai giúp đỡ”.

Chị Thánh Teresa đã hy sinh chịu đau khổ để cầu nguyện cho các vị truyền giáo, và chị được phong là Tiến Sĩ Hội thánh, dù chị chỉ ở trong bốn bức tường của Dòng Kín.

-Cuộc sống hy sinh lao động của các cha, các thầy là ơn trợ lực cho những ai lao động vất vả ở ngoài trần gian.

-Chúa phân phối ơn Ngài cho mỗi nhà thờ. Các cha sở chịu trách nhiệm về ơn Chúa trong lãnh vực địa phương. Nếu cộng đồng thánh thiện thì Hội Thánh được nhờ. Nếu cộng đoàn bê trễ thì cha sở chịu trách nhiệm trước mặt Chúa và mọi người. Tương tự, nếu trong một gia đình mà cha mẹ lười thì các con bị đói.

-Linh hồ

Sự thánh thiện của các linh hồn luyện ngục

Ngày 6-12-1726, tại đan viện kín Cát-minh ”Chúa Ba Ngôi” ở Munich, Đức Quốc, nữ tu Anne-Josèphe de Jésus Lindmayr, trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 69 tuổi. Ngay năm sau, 1727, giáo phận Munich mở cuộc điều tra để lập hồ sơ xin phong thánh cho Chị.
Trước khi vào tu, Chị Anne-Josèphe de Jésus đã nổi tiếng đạo đức dưới tên gọi Marie-Anne Lindmayr (1657-1726). Chị được đặc ân tiếp xúc với Các Đẳng Linh Hồn nơi Lửa Luyện Tội, hay nói đúng hơn, các Linh Hồn thường hiện về xin Chị ăn chay, hãm mình đền tội, và cầu nguyện cho các ngài sớm được giải thoát khỏi nơi giam cầm, về hưởng tôn nhan Chúa. Xin trích một đoạn trong ”Nhật Ký” của Chị liên quan đến sự hiện hữu của Hỏa Ngục và sự thánh thiện của Các Đẳng Linh Hồn nơi Lửa Luyện Hình.

the-souls-in-purgatory.jpg
Vào thời kỳ ấy, tôi thường được dẫn vào Luyện Ngục và tôi có thể trông thấy nơi chốn khủng khiếp này. Ngày 15-5, sau khi rước lễ nơi nhà thờ Các Cha Dòng Tên, tôi được xem – hay là tôi được Thiên Thần Bản Mệnh dẫn vào – tôi không biết, tôi trông thấy trước mặt tôi một cái mồ sâu thật lớn. Tôi không thể nhìn thấy đầu bên kia cái mồ vì nó chìm thăm thẳm trong bóng tối đen. Tuy nhiên tôi có thể ý thức rằng cái mồ này có người ở nhưng tôi không thể mô tả chính xác hình thể. Tôi có cảm tưởng rằng từ thái cực này đến thái cực kia của cái mồ ngự trị quang cảnh hỗn độn và xông ra một thứ mùi nồng nặc hôi thối giống như trong một cái chuồng heo. Tôi phải ở lại đây thật lâu mặc dầu nó khiến cho tôi buồn mửa!

Sau đó tôi trông thấy một nơi chốn khác, ngay bên cạnh cái mồ thăm thẳm này, ở về phía bên phải. Nơi đây đối với tôi giống như một con kênh dẫn nước vào máy xay lúa mì, nhưng nước lại đổ xuống như thác. Và nước lại là lửa, điều này khiến tôi ngạc nhiên tự hỏi làm sao lại có nước lửa?

Nhưng khi trở về với chính mình thì tôi hiểu rằng cái mồ thăm thẳm khôn cùng kia chính là Hỏa Ngục; còn con kênh dẫn nước chính là Luyện Ngục, một thứ tiền-hỏa-ngục trong đó các Linh Hồn phải chìm ngập trong nước lửa, nhưng có một sự khác biệt lớn lao giữa hai nơi. Khác biệt không phải về hình khổ – vì cả hai nơi đều chìm ngập trong lửa – nhưng khác biệt theo trật tự và tình yêu mà họ phải chịu.

Nơi Các Đẳng Linh Hồn trong Lửa Luyện Ngục tôi thấy rõ là các ngài hoàn toàn kết hiệp với thánh ý THIÊN CHÚA, các ngài chịu đựng đau khổ cách phi thường, các ngài cảm thấy thật sung sướng vì được thoát khỏi sa Hỏa Ngục mà các ngài đáng phải chịu vì tội lỗi đã phạm khi còn sống, nhưng lại được ở trong Luyện Ngục. Sự kiện các người quá cố thân yêu tỏ ra bằng lòng chấp nhận giữa mọi đau khổ của mình khiến tôi cũng ao ước được điều này cho chính tôi cũng như cho hết mọi người còn sống trên trái đất này – giữa các đau khổ và trái nghịch của chúng ta – được như thế thì sẽ không còn ai có thể than van hay kêu trách điều gì!

Tôi cũng được mặc khải rằng đối với Các Đẳng Linh Hồn nơi Lửa Luyện Hình thì một giờ trong Luyện Ngục gần như dài hơn 10 năm phải chịu đau khổ trên trái đất. Tôi cũng được hiểu rằng nếu người ta cống hiến cho các ngài cơ may được ra khỏi Luyện Ngục và vào Thiên Đàng cho dẫu vẫn chưa được hoàn toàn thanh luyện mọi vết nhơ tội lỗi, thì Các Linh Hồn Luyện Ngục thà bằng lòng chấp nhận ở lại trong Luyện Ngục cho đến Ngày Phán Xét Chung, hơn là ra trình diện trước THIÊN CHÚA với chút xíu bợn nhơ!

Tôi nhận thấy rằng nơi Các Linh Hồn Luyện Ngục có một sức chịu đựng nhẫn nhục phi thường mà người ta khó có thể diễn tả bằng lời nói. Tôi cũng được Các Linh Hồn Luyện Ngục dạy cho bài học hết lòng yêu mến nhân đức vâng lời khi thấy rằng nhờ việc thực thi nhân đức vâng lời mà chúng ta có thể giúp ích rất nhiều cho các ngài khiến các ngài được nhanh chóng thoát ra khỏi Lửa Luyện Hình. Vâng, đúng thế, chúng ta có thể gọi Các Đẳng Linh Hồn Luyện Ngục là những vị thánh xét vì các ngài có đầy lòng kính mến THIÊN CHÚA. Các Linh Hồn Luyện Ngục bị đốt cháy vì lòng ao ước được chiêm ngắm và vui hưởng THIÊN CHÚA Chí Nhân Chí Lành hơn là bị thiêu cháy vì ngọn lửa thanh luyện nơi Luện Ngục.

Tôi còn phải nói thêm rằng cần phải xem thời gian chịu đau khổ trong Luyện Ngục – khi so sánh với vĩnh cửu – thì đúng ra chỉ là khoảnh khắc ngắn ngủi, hay hơn thế nữa, khi xét đến phần thưởng lớn lao bất tận vô biên trên Thiên Đàng, tiếp liền theo sau thời gian chịu đau khổ trong Lửa Luyện Ngục. Trời Cao đòi buộc phải chịu đau khổ gắt gao khe khắt. Trong khi đó thì loài người khi còn sống trên trần gian thường cho rằng không cần phải chịu đau khổ. Họ nghĩ rằng mình không cần phải thực thi nhân đức. Những ai nghĩ như thế thì đương nhiên sẽ phải ở lâu thật lâu trong chốn Luyện Hình!

… Chị Marie-Anne Lindmayr cũng viết về việc khi nào được nhanh chóng ra khỏi Luyện Ngục và sự kiện các trẻ em bị phạt trong Lửa Luyện Hình như sau.

Theo kinh nghiệm tiếp xúc với Các Đẳng Linh Hồn thì vào giờ sau hết, kẻ nào mau mắn vui lòng chấp nhận chết thì sẽ không ở lâu trong Luyện Ngục.

Nữ bá tước Marie-Anne, Josèphe, Thérèse Preising nhũ danh Rechberg auf Hohenaschau khi còn sống có mối liên hệ chặt chẽ với tôi. Vì thế, ngay sau khi qua đời ngày 17-10-1721 bà đã nhanh chóng hiện về với tôi. Thật thế. Ngày 17-10-1721, một ngày thứ sáu, vào lúc 4 giờ sáng tôi cảm thấy được thúc giục phải cầu nguyện cho nữ bá tước đang chịu đau đớn vì sắp sinh con. Đến 9 giờ sáng thì bà tắt thở. Ngay sau khi chết, bà đã hiện ra với tôi lúc tôi còn đang hát kinh Nhật Tụng trong nhà nguyện. Dáng điệu bà tỏ ra thật vui tươi vì bà rất đạo đức khi còn sống.

Bà hiện ra với tôi y như lúc bà còn sống, tay cầm trái táo tách làm đôi với dáng điệu thật thèm thuồng. Bà cho tôi biết rằng người ta lỗi bổn phận biết bao khi lấy ngày làm đêm và lấy đêm làm ngày. Bà bá tước đặc biệt xin tôi rước lễ cầu cho bà vì khi còn sống bà đã lơ-là trong việc rước lễ. Bà cũng thú nhận rằng bà thường ăn uống cách thỏa thích vì cho rằng không cần phải kềm hãm tính mê ăn. Bà cũng hay phung phí thời giờ cách vô ích.

Ngay hôm sau 18-10-1721 toàn thể Cộng Đoàn rước lễ với ý chỉ cầu cho Linh Hồn nữ bá tước. Đúng một tuần sau, vào ngày thứ sáu 24-10-1721, nữ bá tước được vào hưởng hạnh phúc Thiên Đàng, nhờ đặc ân ngày thứ bảy của Hội Đức Bà Núi Camêlô mà nữ bá tước là thành viên và có mang Áo Đức Bà.

Tôi trông thấy nữ bá tước ở trên Thiên Đàng với niềm vui không thể nào diễn tả được và tôi nghe một bài hát tuyệt hay. Người ta hát ”Vanitas vanitatum – Phù Vân quả là phù vân” (Giảng Viên 1,2).

Lý do mà nữ bá tước được nhanh chóng bước vào cõi phúc trường sinh đó là vì mặc dầu là người mẹ còn rất trẻ, bà đã hoàn toàn chấp nhận thánh ý THIÊN CHÚA và chính bà đã tha thiết xin được lãnh các Bí Tích sau cùng!

Tôi cũng trông thấy các trẻ em ở trong Lửa Luyện Ngục. Em dâu tôi là Anne-Catherine tức là bà Winkler-Lindmayr có hai đứa con trai là Félix và Ignace. Félix chết ngày 23-3-1702. Ignace thương khóc em rất nhiều. Félix là một đứa trẻ có tính tình thật hiền dịu. Trong khi Ignace trái lại là một đứa trẻ hung hăng dữ tợn và cứng đầu nhưng lại rất thông minh. Tôi liền cầu nguyện rằng – nếu cháu không cần phải sống vì vinh quang THIÊN CHÚA – thì xin Chúa cất cháu về sớm khi cháu vẫn còn thơ ngây. Đang khoẻ mạnh bỗng vào ngày 20-5 Ignace bỗng thương nhớ em Félix và tỏ ra thật buồn bã. Cùng ngày hôm ấy Ignace lên cơn bệnh nặng và chịu đau đớn cho đến ngày 8-6. Sau đó thì bớt đau và chết vào ngày 14-6 trước khi tròn 4 tuổi.

Mấy ngày sau, tôi trông thấy cả ba cháu – Félix và một cháu khác chết trước Félix – hiện ra. Ignace đứng giữa. Ignace mặc chiếc áo cũn cỡn màu xám và tỏ ra bồi hồi bứt rứt. Tôi liền cầu nguyện cho cháu. Tôi được tỏ cho biết rằng Ignace đã phạm tội và vì thế đang ở trong Lửa Luyện Ngục. Hai hôm sau thì tôi trông thấy Ignace được Thiên Thần Bản Mệnh ẵm trong tay và đưa về Trời.

Tôi trông thấy nhiều trẻ em 4 tuổi ở trong Luyện Ngục. Vì thế tôi muốn nhấn mạnh rằng, khi các trẻ em gần chết, người ta nên cho các em dọn mình xưng tội, nhắc nhở các em phải ăn năn thống hối rồi ban phép giải tội và cho các em lãnh bí tích Xức Dầu.

… ”Lạy THIÊN CHÚA, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài. Như vậy, Ngài thật công bình khi tuyên án, liêm chính khi xét xử. Ngài thấy cho: lúc chào đời con đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai. Nhưng Ngài yêu thích tâm hồn chân thật, dạy con thấu triệt lẽ khôn ngoan. Xin dùng cành hương thảo rảy nước thanh tẩy con, con sẽ được tinh tuyền; xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết. Xin cho con được nghe tiếng reo mừng hoan hỷ, để xương cốt bị Ngài nghiền nát được nhảy múa tưng bừng. Xin ngoảnh mặt đừng nhìn bao tội lỗi và xóa bỏ hết mọi lỗi lầm. Lạy THIÊN CHÚA, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thủy. Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài. Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con” (Thánh Vịnh 51(50) 3-14).

(”Mes relations avec les Âmes du Purgatoire”, Marie-Anne Lindmayr, Éditions Christiana, 3ème édition française, 2000, trang 39-43 / 57+68)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Tuần lễ ăn chay và cầu nguyện

Từ thứ bảy 29-9 đến Chúa nhật 7 tháng 10 năm 2018

Đức Mẹ đã phán chuỗi Mân côi là vũ khí mang hòa bình đến cho thế giới

Mục đích của chương trình ăn chay và cầu nguyện trên toàn thế giới lần thứ 26

1- cho hòa bình và sự biến đổi của mọi người và mọi quốc gia.

2- Xây dựng nền văn hóa sự sống

3- Bảo vệ sự thánh thiện của hôn nhân và đời sống gia đình

4- Xin ơn Chúa cho sự thánh thiện của Hội Thánh

 

 

The IWOPF brings together people of all ages, backgrounds, and races. From September 29th – October 7th, 2018, we gather to pray for an end to the “culture of death,” and for a newfound appreciation for basic human rights, particularly in the United States of America.

By invoking the help of our Blessed Mother, the Virgin Mary, and by praying the Rosary, we play a crucial role in the conversion of nations and changing the course of world events.

How to Participate

All who are able to participate are invited to join us at the Basilica in Washington, DC for the International Week of Prayer and Fasting Opening Day prayer vigil on Saturday, September 29, 2018. The event is free, however, please register so that IWOPF can anticipate the number of prayer packets to provide for attendees. Register here. 9 am-4:30 pm. Mass at noon.

For those unable to make it to the nation’s capital, you can still participate in a very powerful way! Join our efforts in spirit by making a “Prayer Pledge,” here.

 

https://iwopf.org/

https://iwopf.org/about/what-iwopf