Đại hội giới trẻ Công giáo Việt Nam tại Nhật Bản

Với tinh thần của Đại hội Giới trẻ Thế giới, Giới trẻ Công giáo Việt nam tại Nhật Bản với sự đồng hành của linh mục Antôn Vũ Khánh Tường sẽ tổ chức Đại hội Toàn quốc Giới trẻ Công giáo Việt Nam tại Nhật Bản lần thứ 1, vào ngày 4 & 5/ 5/2019, với chủ đề “Toả Sáng Đức Tin”.

 

Logo Đại hội

Hiện nay, số người Việt Nam sinh sống, làm việc và học tập tại Nhật ngày càng tăng. Ngày Đại hội Giới trẻ toàn quốc tại Nhật là dịp đầu tiên hơn 30 nhóm giới trẻ Công giáo trên toàn nước Nhật có cơ hội gặp gỡ, giao lưu, học hỏi, chia sẻ với nhau đời sống đức Tin của mình bằng nhiệt huyết, niềm vui và sự dấn thân.

Ngoài những giây phút sôi động qua các trò chơi sinh hoạt và những tiết mục văn nghệ đặc sắc của các nhóm Giới trẻ, có phần thi đố vui sách DOCAT như góp thêm ngàn cánh tay thực hiện ước mơ của Đức Thánh Cha Phanxicô “Cha ước mong một thế hệ Kitô hữu- một triệu các bạn trẻ sẽ trở thành chứng nhân sống động cho Giáo huấn xã hội.” Chương trình còn có những giây phút lắng đọng bên Thánh Thể, giờ học hỏi và thảo luận về đời sống đức Tin và Thánh Lễ bế mạc với Nghi thức Sai đi.

Facebook: https://www.facebook.com/daihoigioitreconggiaovietnam

Chương trình Đại hội

Văn Yên, SJ
19 tháng hai 2019, 15:42

Phỏng vấn sơ Maria Đặng Thị Hoàng về trại phong Quy Hoà

Trại phong Quy Hoà được nhiều người biết đến vì gắn liền với tên tuổi nhà thơ Hàn Mặc Tử, chúng tôi xin gởi đến quý vị một cuộc phỏng vấn ngắn với sơ Maria Đặng Thị Hoàng, Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ, đã nhiều năm phục vụ tại trại phong Quy Hoà.

Các câu hỏi phỏng vấn:

1. Xin sơ giới thiệu đôi chút về trại phong Quy Hoà!

2. Thưa sơ, số lượng hiện tại là bao nhiêu ạ?

3. Xin sơ cho biết các bệnh nhân được trợ cấp như thế nào?

4. Thưa sơ, việc hội nhập của họ / con cái họ với cộng đồng thế nào?

5. Bình thường khi nói đến trại phong thì sẽ thấy khổ và thiệt thòi rồi. Nhưng con xin có một câu hỏi ngược một chút. Cuộc sống thì luôn cần có những niềm vui và hy vọng, vậy xin sơ cho biết các bệnh nhân có những niềm vui nào trong cuộc sống của họ?

6. Để chăm sóc bệnh nhân thì cũng cần đến chuyên môn, vậy có phải tất cả các sơ đều học về y tế, hay có các mảng khác các sơ có thể dấn thân tại đây mà không đòi hỏi chuyên môn y tế?

7. Xin sơ kể một kinh nghiệm của sơ với trại phong Quy Hoà này.

Xin cảm ơn sơ!

Kính chúc sơ và cộng đoàn các sơ Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ Quy Hoà luôn tràn đầy niềm vui trong việc phục vụ. Xin Chúa cũng chúc lành và luôn đồng hành cùng các bệnh nhân!

 

Thực hiện: Văn Yên, SJ

16 tháng hai 2019, 12:44

Link trả lời phỏng vấn trên Youtube: https://youtu.be/-lLhv0iuWx0

Từ Một Chiếc Xương Sườn

Có người cho rằng chiếc xương sườn mà Thiên Chúa đã lấy từ Adam để làm nên Eva là chiếc xương đã giữ trái tim Adam quá chặt. Nó không cho trái tim được đập nhịp riêng tư. 

 

Từ chỉ một cái xương sườn thôi mà thế giới đã trở nên đổi khác. Một chiếc xương sườn được rút ra từ giấc ngủ say sưa, giấc ngủ cuối cùng của kiếp cô đơn buồn tủi. Một chiếc xương sườn để đổi lấy niềm hạnh phúc hân hoan. Từ một chiếc xương sườn mà có cái gọi là tình yêu chớm nở.

Tình yêu đến vào một khoảnh khắc bất ngờ. Nó là buổi ban mai của trang sử mới, là khởi đầu đầy hương hoa. Có tình yêu rồi, người ta mới thật sự hiện hữu, bằng không thì chỉ có thể gọi là tồn tại mà thôi. Người ta thấy cuộc sống của mình trở nên ý nghĩa khi họ cảm nghiệm được rằng mình đang yêu và đang được yêu.

Tình yêu làm cho người ta biết nói, khiến cho con tim biết mở lời, như Adam lần đầu tiên thấy Eva đã thốt lên trong niềm vui sướng “đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi”. Khi người ta thấy đôi phương là tất cả đối với mình, ấy là yêu.

Yêu là khi người ta biết nhớ biết mong, biết chờ đợi; là khi người ta biết đếm thời gian, biết giận, biết buồn, biết hờn vô cớ. Người ấy đôi khi trở nên vô lý đến mức lạ kỳ, có lối hành xử chẳng ai hiểu, nhưng họ chẳng quan tâm; họ chỉ biết là mình đang hạnh phúc. Thế thôi!

Tình yêu mang đến cho người ta một sức mạnh, làm người ta biết đổi và trở nên khác trước rất nhiều. Ai đã yêu thì không biết sợ, ngoại trừ cái sợ sẽ mất đi người mình yêu hay sợ người ấy không yêu mình, phản bội mình. Ai đã yêu, người ấy đủ sức mạnh để làm điều mà bấy lâu nay họ không bao giờ nghĩ là mình có thể làm được.

Yêu một người là thừa nhận sự yếu đuối và nghèo nàn của mình trước người đó. Ta chẳng ngại thổ lộ cho người đó biết là mình cần họ nhiều như thế nào, thậm chí là chẳng thể sống được nếu thiếu họ. Yêu ai thì xem người đó là sự sống của mình, là tất cả của mình. Nụ cười-nước mắt của người đó quyết định hạnh phúc-nỗi buồn của mình.

Yêu ai là dành cho người đó sự bất tử. Người đó không già đi, không chết đi nhưng luôn sống trong trái tim mình. Người đó mãi mãi trường tồn, hội tụ tất cả tinh hoa nét đẹp của trời đất. Dù mọi thứ có qua đi, dù thời gian có vô tình cuốn trôi tất cả, tình yêu luôn làm cho người ta sống, và mỗi ngày được sống cách viên mãn và tròn đầy hơn.

Có người cho rằng chiếc xương sườn mà Thiên Chúa đã lấy từ Adam để làm nên Eva là chiếc xương đã giữ trái tim Adam quá chặt. Nó không cho trái tim được đập nhịp riêng tư. Nó kiềm giữ Adam, khiến ông chỉ biết đến mình cùng mọi thứ cây cỏ muôn thú chung quanh mà chẳng để ý gì đến một thực tại khác. Con tim lúc ấy của Adam không thể thở, không thể có tiếng nói của mình, không thể rung cùng một nhịp đập với bất kỳ trái tim nào khác.

Chiếc xương đó phải bị lấy đi, để con tim kia bắt đầu được mở ra với thế giới mới, thế giới của tình yêu. Thế giới này sao có thể được coi là “tốt đẹp” nếu vắng bóng tình yêu? Đỉnh cao trong công trình sáng của Thiên Chúa và cũng là sáng kiến tuyệt hảo của Ngài là cho con người được hưởng nếm hương vị của tình yêu. Đắng có, ngọt có [như chiếc socola] nhưng như thế mới cuốn hút lòng người. Yêu là khi người ta để cho con tim lên tiếng, chứ không kìm kẹp nó bằng thứ lý lẽ của trí khôn. Yêu là yêu, chứ chẳng cần biết vì sao yêu, yêu thì được gì mất gì.

Dù là năm – mùa – ai khác – chỉ ta (14.02), hay mình – bức tường – ai cả – hàng nước mắt (14.02) thì ngày 14.02 cũng đã trở thành ngày để người ta nói về tình yêu, nghĩ về tình yêu và thật sự đắm chìm trong tình yêu. Có người hạnh phúc trong ngày này, có người “hai hàng lệ” rơi trong ngày này, nhưng tất cả đều hướng về “tình yêu”. Tình yêu làm cho người ta hạnh phúc đến vô bờ, cũng có thể khiến người ta đau khổ muốn hoá điên. Nó làm người ta nên tốt hơn, cũng có thể khiến người ta tồi tệ gấp ngàn lần. Nó chắp cánh cho người ta bay lên trời, cũng có thể dìm người ta xuống hoả ngục. Nó biến người ta thành thiên thần, cũng có thể làm người ta thành quỷ dữ.

Vâng, tất cả chỉ từ một chiếc xương sườn định mệnh! Một sự thất thoát nhỏ nhoi để có lại được cả nguồn sống dồi dào.

Cầu chúc cho những ai đang yêu, yêu bằng cả trái tim để cho tình yêu trở thành nguồn suối mát tưới vào những khô cằn, làm trổ sinh nơi đó những hoa thơm trái ngọt và biến thế gian thành cõi phúc Thiên Đường.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

10 Căn Bệnh Làm Băng Hoại Người Công Giáo

Bài nói chuyện của Tôi tớ Chúa là Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận khi còn làm Tổng Giám mục với giới trẻ Việt Nam hải ngoại tại Strasbourg, Pháp, chiều ngày 12.9.1998)

Mười căn bệnh gồm: 1. Bệnh quá khứ cục bộ 2. Bệnh tiêu cực bi quan 3. Bệnh phô trương chiến thắng 4. Bệnh cá nhân chủ nghĩa 5. Bệnh lười biếng tránh né 6. Bệnh chuẩn mực trần tục 7. Bệnh đợi chờ phép lạ 8. Bệnh tùy hứng vô định 9. Bệnh sống vô trách nhiệm 10. Bệnh bè phái chia rẽ.

Bệnh quá khứ cục bộ

Bệnh này thể hiện qua tâm trạng chỉ nhớ và khen cái quá khứ của mình mà thôi và đóng khung lại trong đó. Ngày tôi bị đưa đi tù ra Bắc, thỉnh thoảng gặp giáo dân và ai cũng hớn hở tâm sự: “Thưa cha, chúng con thấy sung sướng nhất là thời còn Đức khâm sứ. Chúng con đi rước kiệu đầy đường phố, quanh cả bờ hồ Hoàn Kiếm, và thấy Đức khâm sứ quỳ trên chiếc xe, tay cầm Mình Thánh Chúa, mặt ngài sáng láng đỏ hồng như mặt trời. Không biết bao giờ chúng con mới trở lại được như thời kỳ có Đức khâm sứ!”. Ta không quên quá khứ, vì đó là bài học kinh nghiệm, nhưng ta không dừng lại đó, ta nhìn tương lai để xây dựng còn đẹp hơn xưa.

Bà con chỉ sống trong quá khứ, mong trở về quá khứ. Mà thời gian thì bao giờ quay trở lại ! Tôi đi nhiều nơi, gặp nhiều anh chị em tới một tuổi nào đó. Chén thù chén tạc bên nhau than thở: “Biết bao giờ bọn mình trở lại được thời Cộng hoà. Mọi thứ rẻ mạt. Lương tháng mấy nghìn. Một tạ gạo giá chỉ mấy trăm bạc. Sướng thiệt !”.

Ta đang ở năm 1998, làm sao mà lùi lại 1960 được! Do vậy mà chúng ta đâm ra thiển cận. Thay vì nhìn tới thì lại nhìn lui. Giống như người lái xe, không nhìn đằng trước mà cứ chăm chăm vào kính chiếu hậu để ngắm xe sau. Vậy làm sao mà tiến được.

Mà dù thế nào thì mình vẫn phải sống. Quá khứ không bao giờ trở lại. Và thời gian thì cứ tiến mãi.

Nhìn lại gương Chúa Giêsu. Từ trời cao xuống thế, Ngài cứ nhắm tới, một mạch đi tới và cứ nói: “Thầy sẽ lên thành Giêrusalem chịu nạn”. Ngài dư biết cuộc tử nạn sẽ rất đau đớn, nhưng vẫn đi tới, chấp nhận. Bởi qua cái đau khổ đó con người được cứu độ.

Cũng vậy, nếu chúng ta muốn cho Đất nước và Giáo hội mình tiến, thì phải nhìn về tương lai. Không quên quá khứ, vì đó là bài học cho tương lai. Nhưng đừng có viễn mơ lui lại quá khứ.

Mỗi người, mỗi thời đại đều có cái hay, cái đẹp. Phải làm sao biết khai triển cái hay cái đẹp đó cho hiện tại đang sống, chứ đứng đó mà than thở tiếc nuối thì ích gì ! Nhìn quá khứ để tạ ơn Chúa, để sám hối. Nhìn hiện tại để hăng say phục vụ với trách nhiệm – Nhìn tương lai với hy vọng.

Bệnh tiêu cực bi quan

 Những người mang bệnh này cứ chỉ trích kinh niên. Khi nào cũng có chuyện để chỉ trích. Một người làm cả đám phá. Một chính đảng lên thì các đảng khác xúm nhau phá. Phải đạp nó xuống thì mình mới lên được chứ !

Bệnh chỉ trích phát sinh từ lòng ích kỷ hoặc kiêu căng. Một biểu hiện song hành của bệnh này là người chỉ trích thường hay thiếu tự tin.

Người tiêu cực cái gì cũng chỉ trích. Nhưng khi được yêu cầu đưa đề nghị thì “để xem đã”, hoặc có ai đưa ra đề nghị gì thì lại lắc đầu “không làm nổi đâu” !

Người tiêu cực thì bất cứ một cơ hội nào cũng là một tai họa cho mình (for the pessimists every opportunity is a calamity). Trái lại, người lạc quan thì bất cứ tai họa nào cũng là một cơ hội cho mình (for the optimists every calamity is an opportunity).

Người ta kể câu chuyện: Một công ty lớn gởi hai đại diện sang một nước Phi châu để nghiên cứu thị trường tiêu thụ giày dép. Trở về điều trần, một vị lắc đầu: Thưa quý vị, không có cách gì tiêu thụ được; người dân ở đó chỉ đi chân đất, có ai đi giày dép đâu ! Trong khi đó vị kia lại hớn hở: Thưa quý vị, chuyến này chúng ta thắng lớn; cả một lục địa mênh mông chưa có ai có giày dép để đi cả !

Người tích cực thì lạc quan. Kẻ tiêu cực bi quan. Tùy theo cách nhìn mà vấn đề nẩy sinh. Người Pháp nói: Đừng trách rằng tối; tối là vì mình không chịu thắp đèn lên thôi ! Đức Gioan Phaolô II kêu gọi: “Đừng sợ”, vì ta tin vào Thiên Chúa quyền năng và yêu thương, ta tin con người có thiện chí, ta tin vào mình có Chúa giúp.

Bệnh phô trương chiến thắng

Làm gì cũng chỉ nhắm chuyện phô trương là chính. Bệnh này tiếng pháp gọi là triomphalisme; người Mỹ cũng có từ ngữ show up.

Thỉnh thoảng đây đó đọc trên những bản tin sinh hoạt cộng đoàn thật nức lòng: Đại lễ tổ chức vô cùng thành công, cuộc rước kéo dài cả nửa cây số, nhiều chục cha đồng tế, bữa tiệc kết thúc thật linh đình, bà con vô cùng hoan hỉ, chưa có bao giờ và có ai tổ chức được lớn như thế … Nhưng hết tiệc ra về rồi là hết. Đại lễ hôm qua hôm nay thành quá khứ xa lơ. Cảm xúc hôm qua hôm nay gọi mãi chẳng thấy về ! Hãy cai chứng bệnh phô trương, vì cái chiều sâu thực sự ít ai quan tâm. Ta bảo sáng danh Chúa, nhưng xét cho kỹ Chúa mấy phần trăm, ta mấy phần trăm?

Có những điều không cần phải phô trương. Nhưng nó sẽ từ từ thấm vào lòng người, người ta sẽ hiểu. Người ta hiểu, nhưng đồng thời người ta cũng có tự ái. Càng huyênh hoang, càng làm cho người ta ghét. Mà thành công đâu phải do mình tài giỏi gì. Nhưng mọi chuyện là nhờ ơn Chúa. Như vậy mình càng không có lý do gì để phô trương. Lúc đang huyênh hoang thì chính là lúc nguy hiểm nhất, tai hại nhất, vì đó là lúc mình mất cảnh giác. Khi nào thấy sau một cuộc lễ, có nhiều người ăn năn trở lại, Cộng đoàn hiệp nhất hơn, sốt sắng hơn, đó là dấu thành công thực sự.

Bệnh cá nhân chủ nghĩa

Các nhà phân tích cho hay người Âu châu bị bệnh này nặng hơn. Nhưng mình cũng không kém. Thời đại này đâu đâu cũng nghe người ta hô hào đoàn kết (Solidarité). Mà xem ra càng hô hào đoàn kết chừng nào, thì bệnh cá nhân lại nặng chừng nấy !

Biểu hiện của bệnh này: Mình là nhất, là trung tâm của vũ trụ. Mình chiếm độc quyền, ngay cả độc quyền thờ Chúa, độc quyền yêu Nước. Không muốn ai chia sẻ với mình, vì sợ người ta hơn. Người ta không tiếp tay với mình thì trách. Nhưng khi tiếp tay thì lại chỉ muốn họ đứng sau lưng mình mà thôi.

Cá nhân chủ nghĩa phát sinh từ lòng ích kỷ. Kính Chúa, yêu người thực chất là vì mình, vì lợi cho mình chứ chẳng phải vì Chúa vì người gì cả.

Người ta kể chuyện vui: Một số Hồng Y và Giám mục ngồi ăn cơm chung với Đức Thánh Cha. Có mấy vị hỏi ngài: Thưa ĐTC, nghe nói có bí mật Fatima, ĐTC có thể nói cho chúng con nghe được không. ĐTC bảo: Bí mật mà, nói sao được. Nghe thế các ngài càng tha thiết: ĐTC đừng sợ, chúng con cam đoan sẽ dấu rất kỹ, không hở miệng. Sau năm lần bảy lượt nghe năn nỉ, ĐTC mỉm cười trả lời: Đức Mẹ Fatima bảo rằng đóng cửa Đức Mẹ Lộ-Đức lại !

Câu chuyện khôi hài này muốn nói lên cái cá nhân chủ nghĩa của con người ngày nay. Đức Mẹ Fatima sợ Đức Mẹ Lộ Đức nổi tiếng hơn và do đó khách hành hương đến viếng đông hơn nên đề nghị dẹp Lộ-Đức.

Chẳng đâu xa xôi. Quanh ta cũng không thiếu thí dụ. Hai nhà thờ cạnh nhau, chuông bên này kêu thì bên kia phải làm sao để kêu hơn. Câu chuyện nầy có thật. Một giáo xứ xin Đức cha cho một quả chuông. Về đánh lên thì bà con giáo xứ bên cạnh sốt ruột khó chịu, liền cùng nhau kéo xin phép đổi một quả chuông lớn hơn. Khệ nệ mang về, đánh lên thì ai nấy thất vọng. Tưởng chuông lớn hơn thì tiếng phải hay hơn. Ai dè âm thanh của chuông thường đã được định chuẩn sẵn; theo nốt nhạc, cái chuông mới trùng một nốt nhạc với chuông cũ!

Trong Giáo hội có một điểm quan trọng, đó là tính đa diện (Pluralité). Giáo hội không đòi hỏi phải đồng bộ, nhưng trân trọng nét cá biệt của mỗi giáo hội địa phương. Khác nhau hầu bổ túc cho nhau, chứ không phải để rồi tôi đi đường tôi anh đi đường anh.

Bệnh lười biếng tránh né

Triệu chứng của bệnh này là sợ tốn sức tốn của, sợ liên lụy, a dua: ai mạnh thì hùa theo. Khi nói thì rất hăng, nhưng vào việc thì viện đủ lý do để che đậy cái hèn nhát và lười biếng của mình. Giữa đại hội thì phát biểu thật hùng hồn, lúc phân việc thì lẩn đâu mất.

Trong đội tù của tôi trước đây có một ông cũng từ miền Nam ra. Mỗi lần họp anh ta phát biểu ào ạt. Đụng chuyện gì cũng dơ tay phát biểu. Nói huyên thuyên mà thường lạc đề. Đến lúc chia việc thì im re. Riết anh em trong tổ ngán. Nên mỗi lần anh ta dơ tay phát biểu là anh em đồng loạt hô: Im mà nghe, đài Mát-cơ-va phát !

Chuyện kể hai nhà thông thái nọ muốn tìm hiểu xem thành phố Rôma có mấy người làm việc. Họ bắt đầu bằng một chuỗi phân tách loại trừ. Trước tiên trừ đi con số trẻ em chưa đến tuổi làm việc, đến số người bệnh tật, số người ở tù, rồi số dân biểu nghị sĩ quanh năm suốt tháng chỉ cãi nhau và dơ tay bỏ phiếu bất tín nhiệm chính phủ, số người làm nghề phê bình đá bóng… Cứ thế mà trừ, kỳ cùng chỉ còn lại hai người làm việc, đó là hai nhà thông thái. Nhưng rồi một ông lên tiếng ngay: tôi từ nãy giờ tính toán quá mệt rồi, nên chi tôi bầu anh làm việc tiếp để tôi nghỉ !

Để xây dựng cộng đoàn có trăm công ngàn việc. Việc gì cũng đáng làm. Chẳng cần phải ngồi ghế lãnh đạo mới là làm việc. Việc nào cũng có thể nên thánh, miễn là làm cho tới nơi tới chốn.

Khi ở Dublin một tháng để học hỏi về Đạo binh Đức Mẹ tôi may mắn được gặp người sáng lập, ông Frank Duff. Tôi háo hức, tưởng sẽ diện kiến một nhân vật quốc tế tiếng tăm; người mà các Hồng Y, Giám mục khắp nơi đều phải ngồi nghe. Nhưng không ngờ, ông chỉ là một cụ già đưa thư. Hàng ngày khiêm tốn đạp chiếc xe cọc cạch ra bưu điện mang thư về cơ quan, bỏ vào hộp thư của gần một ngàn chi nhánh Đạo binh ở Dublin. Ngưởi ta nói công việc của ông bây giờ chỉ có thế; có tuổi rồi không còn giữ vai trò quan trọng nào nữa; nhưng khi ai cần ý kiến thì ông sẵn sàng đóng góp và hướng dẫn giải quyết. Đấy, công việc đưa thư hèn mọn có làm giảm tư cách con người đâu!

Bệnh chuẩn mực trần tục

Lấy tinh thần, não trạng trần tục làm chuẩn mực cho cuộc sống mình. Làm việc Chúa, nhưng không theo tinh thần Phúc Âm mà lại dùng tiêu chuẩn hoàn toàn trần tục để chuẩn định. Người Công Giáo kiểu đó thường hay trở thành Công Giáo tùy thời: Thịnh thì Công Giáo, suy thì chối.

Công Giáo vụ lợi: Có mùi vật chất thì tới, không thì miễn. Công Giáo danh dự: Chỉ siêng năng xuất hiện khi có lễ lạc được mời lên ghế danh dự, không thì biệt tăm chẳng bao giờ thấy.

Nhiều khi chẳng phải là bản chất, chẳng tội lỗi gì, nhưng là vì mình đua đòi. Chính đua đòi này làm cho cuộc đời khổ sở. Sang đây thấy người ta có xe đẹp, nhà rộng; mình đua đòi muốn hơn người nên phải nô lệ cho công việc, cả nhà làm việc quá mức.

Và chuẩn mực trần thế thường được căn cứ theo báo chí, truyền thanh truyền hình. Báo bảo cái gì hay là hay, cái gì số đông theo là tốt…mặc dù những cái đó không hợp với lương tâm.

Năm ngoái tôi ghé Na Uy tới thăm một bà giáo sư giữ một ghế thứ trưởng trong nội các. Na Uy đa số theo Tin lành và Giáo hội này, như tại các nước Tin lành khác, phải tùy thuộc thế quyền. Bà phàn nàn: nguy quá cha ơi, Giáo hội chúng tôi đang sa lầy trong vòng kềm toả dư luận.

Chính phủ ra lệnh cho Giáo hội; Quốc hội ra lệnh (bằng đạo luật) cho chính phủ; mà đạo luật thì lại hình thành do áp lực dư luận truyền thông; vừa rồi chính phủ mới cách chức hai mục sư vì họ chống lại việc phá thai!

Một số cơ quan truyền thông chửi bới Đức Giáo Hoàng, kết ngài vào tội thiếu thực tế, thiếu tiến bộ. Nhưng khi Đức Giáo Hoàng đến với giới trẻ thì hàng triệu anh chị em trẻ lại tuôn đến với ngài. Tất cả chỉ vì ngài là người dám nói lên sự thật, bất chấp dư luận. Tuổi trẻ hôm nay đang bị chao đảo trong một thế giới khủng hoảng niềm tin và giá trị. Nên chi họ cần người tín cẩn dám nói thẳng cho họ đâu là điều đúng, đâu là sai. Cái khó và nguy hiểm của ngày hôm nay là người ta phạm tội, nhưng lại bắt cả nhà nước và Giáo hội coi đó là nhân đức. Chẳng hạn như chuyện đồng tính luyến ái. Dư luận đang bắt mọi giới phải xem đó là chuyện hợp luân thường đạo lý. Giáo hội thương cảm, nhưng Giáo hội cần nói sự thật. Đức Thánh Cha nói: “không cần ai bỏ phiếu cho sự thật” vì sự thật vẫn là sự thật.

Bệnh đợi chờ phép lạ

Cứ chờ cứ đợi người khác, mà bản thân mình chả chịu làm gì. Mình có làm thì Chúa mới giúp được chứ. Chúa sinh ra mình không cần hỏi ý mình, nhưng để cứu mình Ngài phải cần đến sự cộng tác của ta.

Có bà suốt ngày cầu với Chúa: Con bao nhiêu ngày tháng hy sinh cho cộng đoàn. Nấu cơm, nấu chè, hết việc này đến chuyện nọ. Đâu cũng có mặt. Giúp ngày không đủ tranh thủ giúp đêm giúp thêm giờ nghỉ ! Con chỉ xin Chúa có một điều, vậy mà Chúa không chịu đoái nghe. – Chứ con xin điều gì ? – Dạ xin Chúa cho con trúng vé số, chỉ cần trúng một lần độc đắc thôi! – Ừ mà Chúa cũng đang đợi bà đây! – Dạ Chúa đợi gì con đây? – Thì Ta đang đợi bà mua vé số!

Trong một vụ lụt xe cứu thương rảo khắp phố phường kêu gọi người dân rời nhà di chuyển lên nơi cao để tránh nước lũ. Ông bố của một gia đình bảo với con cháu: Tụi bây đứa nào đi thì đi, còn tao không đi; tin tưởng phó thác vào Chúa thì sao Ngài bỏ rơi được. Nước lũ tới, dâng cao. Ghe cấp cứu lại kêu gào tản cư gấp. Ông già kê bàn kê ghế leo lên rồi giục: Mẹ con bây đi thì đi nhanh lên, tao không. Nước tiếp tục dâng cao, ông già leo lên mái nhà ngồi. Máy bay trực thăng lượn qua lượn lại, thả dây kêu gọi ông di tản. Ông nhất quyết không đi, bởi tin rằng có Chúa che chở. Và nước ngập cuốn ông đi luôn.

Ông gặp thánh Phêrô. Thánh Phêrô hỏi sao lại dạt vào đây. Ông già bực bội trách cứ, tại sao con đặt hết tin tưởng vào Chúa mà Ngài không cứu sống, lại để con chết trôi chết nổi thế này và ông yêu cầu thánh Phêrô mở cửa đưa ông vào Thiên đàng cấp tốc. Thánh Phêrô ngạc nhiên đáp lại: Chúa có cứu ông chứ! Ông có nghe đài báo tin không ? – Có. Ông nghe xe cứu thương kêu gọi không? – Có. Ông có thấy ghe máy, trực thăng đến cứu không ? – Có. Tại sao ông bảo Chúa bỏ ông?

Bệnh tùy hứng vô định

Người không có lý tưởng rõ ràng. Đời vô định hướng. Ai xúi thì nhắm mắt làm theo, bất kể hay dở, khôn dại. Xong rồi phủi tay. Chẳng có dự án và chẳng có một người nào làm lý tưởng cho đời mình. Đây là loại người tùy hứng.

Người ta hay nói đời là một giấc mơ. Nhưng đời có thật là một giấc mơ không ? Mơ là chuyện mộng, không bắt buộc phải hiện thực. Nhưng đời trái lại là cuộc sống thực tế của mỗi người, bắt mình phải hoàn thành.

Thánh Kinh nói đến giấc mơ của Thánh Giuse. Ông mơ thiên thần báo phải đem Hài nhi và Mẹ người trốn sang Ai Cập. Cái đặc biệt ở đây là Giuse đã thực hiện giấc mơ đó và nhờ vậy Chúa Giêsu thoát chết.

Người trẻ cần có lý tưởng và phải thực hiện cho bằng được. Nhưng phải định hướng cho trúng. Truyện kể có người khi còn trẻ quyết tâm sẽ thay đổi cả thế giới. Khi đứng tuổi thấy mình chả thay đổi được ai, bèn chuyển mục tiêu gần hơn: sẽ thay đổi gia đình mình. Đến khi về già quay lại thấy mình cũng chả thay đổi được gia đình, mới nhận chân ra rằng muốn thay đổi gia đình hay thế giới trước hết phải thay đổi chính con người của mình đã!

Bệnh sống vô trách nhiệm

Triệu chứng: thờ ơ trước những khó khăn của Hội thánh và Quê hương, trước những đau khổ của người khác. Chả thấy mình có trách nhiệm gì cả. Hoá ra những người mắc bệnh này chẳng hiểu gì về phép Rửa, chẳng còn nhớ gì sứ mạng được trao qua phép Rửa đó. Qua phép Rửa, được làm con Chúa, đó là Hồng ân, và phép Thêm sức làm cho ta nên chiến sĩ của Chúa đó là trách nhiệm, mỗi người chúng ta được trao ban cả Nước Trời trong lòng mình, đồng thời cũng được giao phó sứ mạng phải loan báo cho mọi người về Nước Trời mình đang mang. Vì không ý thức và quan tâm nên họ giữ đạo hời hợt, sống đạo một cách vô trách nhiệm.

Ngày xưa cha Hậu (cố Olivier) ở Sàigòn thường nói với bổn đạo: Anh chị em phải biết, mình quả thật sung sướng vì được Chúa cho cả Nước Trời trong lòng. Anh chị em cũng giống như một người mang trong mình vé số độc đắc đã trúng mà chưa lãnh. Và bổn phận của anh chị em là chia sẻ ân huệ và niềm vui đó cho người khác.

Mỗi người trong xã hội đều có trách nhiệm riêng. Chứ không phải giáo dân thì cứ đổ cho cha xứ, linh mục thì đổ cho giám mục, giám mục lại chỉ tay về Giáo hoàng. Như thế Giáo hoàng lại đổ cho Chúa à! Thái độ phủi tay không giải quyết được gì. Mà mỗi người, tùy vị trí và hoàn cảnh riêng, trước hết phải xắn tay nắm lấy mà giải quyết nhiệm vụ của mình.

Bệnh bè phái chia rẽ

Đây là căn bệnh trầm kha nhất. Vô cùng nguy hiểm vì nó thường là căn nguyên của các bệnh khác.

Một cơ thể mà các tế bào chống nhau thì làm sao sống được. Nội bộ một cộng đoàn mà chưa hợp tác với nhau được thì đừng nên bàn chuyện đấu tranh, giải phóng. Ai ở thôn quê đều biết hoàn cảnh cấy lúa. Một mảnh ruộng cần cả chục người cấy suốt ngày. Lưng đội trời nóng cháy da, tay xé lúa nhấn xuống bùn, bẩn và mệt. Nhưng cũng miếng ruộng đó chỉ cần một người thôi là chỉ trong vòng vài ba tiếng đồng hồ là nhổ sạch. Xây khó, phá rất dễ.

Một cách hay nhất để tránh và chữa bệnh này là lắng nghe người khác, sẵn sàng chấp nhận cái khác của người. Câu chuyện tổng thống Lincoln nước Mỹ là một bài học. Trong cuộc chiến Nam Bắc, ngày nọ trước ba quân ông xuống lệnh hành quân. Một anh sĩ quan phản đối và cho rằng Lincolnđiên khi hạ lệnh đó. Có người vào báo cáo. Lincoln cả giận. Nhưng thay vì tức khắc cho thi hành kỷ luật đối với thuộc viên, ông cho mời người đó vào. Và sau khi nghe trình bày phải trái, Lincoln đổi ý, trao trách nhiệm lớn cho vị sĩ quan đó. Ông biết lắng nghe nên đã tránh được đổ vỡ lớn cho binh sĩ và quốc gia.

Trong một giáo phận, một cộng đoàn, một hiệp hội, việc làm tổn thương, mất giờ để giải quyết nhất của Giám mục, của những người có trách nhiệm, là chứng bệnh triền miên bè phái, chia rẽ – mà những người mắc bịnh thường vẫn tưởng mình đạo đức. Có nhiều người “phạm tội vì Chúa”: lấy lý do “vì Chúa” mà loại trừ kẻ khác, không thuộc phe ta. Người Pháp đã nếm kinh nghiệm cay đắng tai hại của bịnh nầy nên có câu châm ngôn: “Đừng vì kính mến Chúa mà chống kẻ khác”. Chúa Giêsu biết trước điều nầy nên Ngài tha thiết cầu xin trước giờ tử nạn:

“Lạy Cha, xin cho chúng nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để thế gian tin Cha đã sai con” (Gioan. 17, 21). Nếu ta không hiệp nhất thì thế gian không tin.

Lời ông Gandhi đáng cho ta suy nghĩ: “Tôi yêu Chúa Kitô, nhưng tôi không yêu người Kitô hữu vì họ không giống Chúa Kitô”.

Tác giả: ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

Ở đây có bán Thượng Đế không ạ?

Vào thế kỷ 20, tại một thành phố nhỏ ở phía Tây nước Mỹ, một cậu bé khoảng 10 tuổi cầm trong tay đồng 1 đô la đi đến từng cửa hàng ở ven đường và hỏi rằng: “Xin hỏi, ở đây có bán Thượng Đế không ạ?”. Các chủ cửa hàng hoặc nói không có, hoặc cho là cậu bé phá phách bèn đuổi đi ngay.

unnamed (4) Khi trời sắp tối, cậu bé vẫn cố gắng đi đến hỏi cửa hàng thứ 69: “Xin hỏi, ở đây có bán Thượng Đế không ạ?”.

 Ông chủ là một bác khoảng 60 tuổi, tóc đã bạc trắng, nét mặt rất ôn hòa, ông mỉm cười hỏi cậu bé: “Cháu bé này, cháu hãy cho ta biết, cháu muốn mua Thượng Đế để làm gì?”.

 Có người trả lời mình nên cậu bé cảm động rơi nước mắt, cậu nói với ông chủ rằng cha mẹ của cậu qua đời từ sớm, bây giờ chú đang nuôi cậu. Người chú làm việc ở công trường xây dựng, vài ngày trước bị ngã khỏi giàn giáo, đến nay hôn mê chưa tỉnh lại. Bác sĩ nói, chỉ có Thượng Đế mới có thể giúp được ông ấy. Cậu bé nghĩ rằng nhất định Thượng Đế là một thứ gì đó vô cùng kỳ diệu.

 “Cháu phải mua Thượng Đế về cho chú của cháu ăn thì vết thương sẽ khỏi”.

 Nghe xong những lời cậu bé nói, mắt ông chủ cũng rơm rớm nước, ông hỏi: “Cháu có bao nhiêu tiền?”

 “1 đô la ạ!”

 “Cháu bé, thật may giá của Thượng Đế cũng vừa vặn 1 đô la”.

 Ông chủ nhận lấy đồng xu trong tay cậu bé, lấy một chai nước có dòng chữ “Nụ hôn của Thượng Đế” trên kệ xuống và nói: “Cháu bé, cháu cầm lấy đi này, chú của cháu uống xong bình ‘Thượng Đế’ này thì sẽ khỏe lại thôi”.

 Cậu bé vô cùng sung sướng hạnh phúc ôm chặt lấy chai nước trong lòng, vui mừng chạy đến bệnh viện. Khi vào đến phòng bệnh, cậu bé reo lên: “Chú ơi, cháu đã mua Thượng Đế về rồi, chú mau khỏe lại chú nhé!”.

 Ngày hôm sau, một nhóm các chuyên gia y học hàng đầu trên thế giới đã bay đến thành phố nhỏ này và đến bệnh viện nơi chú của cậu bé đang nằm và tiến hành hội chẩn. Không bao lâu sau, chú của cậu bé đã được cứu.

 Khi chú của cậu bé xuất viện, nhìn thấy hóa đơn tiền viện phí thì suýt chút nữa ngất đi. Thế nhưng, một tin tức từ phương xa đã hóa giải lo lắng của anh, được biết một người có tên là Bondi đã giúp anh trả hết tiền viện phí, nhóm bác sĩ cũng là do ông Bondi gửi đến.

 Sau này, người chú mới biết được ông Bondi là một tỷ phú, cửa hàng tạp hóa mà cậu bé đến mua “Thượng Đế” thuộc sở hữu của ông ấy, khi rảnh rỗi ông thường đến đó để thư giãn.

 Chú của cậu bé vô cùng xúc động, anh tập tức cùng cậu bé đến cảm ơn. Nhân viên cửa hàng nói với hai chú cháu rằng ông chủ đã đi du lịch rồi, bảo họ không cần bận lòng và trao cho người chú lá thư do chính ông Bondi viết.

 Trong thư viết rằng: “Chàng trai, cậu không cần phải cảm ơn tôi, cháu của cậu đã trả hết mọi thứ rồi. Điều tôi muốn nói đó là cậu có được cháu bé quả thật là quá may mắn đấy. Để cứu cậu, cháu bé đã cầm 1 đô la đi khắp nơi để mua Thượng Đế…. Hãy cảm ơn Thượng Đế, chính Người đã cứu cậu. Nhưng nhất định cậu phải luôn ghi nhớ rằng Thượng Đế thật sự chính là tình yêu thương của con người!”.

 Câu chuyện chưa kết thúc ở đây. Sau này, khi lớn lên, cậu bé thi vào trường y. Để cảm ơn tỷ phú Bondi từng cứu chú mình cũng như để giúp nhiều người bị bệnh khác, cậu bé đã phát minh ra băng dán cá nhân và đặt tên là Bondi.

 Chúc các bạn một ngày mới tốt lành

 ST

 


 

Sự quan tâm của Mẹ Maria trong tiệc cưới Cana

Đức Ma-ri-a tại tiệc cưới Ca-na và dưới chân Thập giá trong Tin Mừng Gio-an

Đức Ma-ri-a xuất hiện trong Tin Mừng Gio-an hai lần: lần đầu tại tiệc cưới Ca-na (Ga 2,1-12), lần sau tại đồi Cal-vê, dưới chân thập giá Chúa Giê-su (Ga 19,25-27). Đức Ma-ri-a trong Phúc âm thứ tư không được gọi tên như trong Tin Mừng nhất lãm: thay vì gọi đích danh Ma-ri-a, thì tác giả gọi Người là Mẹ Chúa Giê-su. Có lẽ, đó là điểm nổi bật có tính thần học trong Phúc âm Gio-an.

Quả thực, những gì thánh Gio-an trình bày trong Phúc âm thứ tư không chỉ đơn thuần là tường thuật những biến cố lịch sử cho bằng những suy tư về chính Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa. Ngài muốn cho thấy rằng những gì đã xảy ra trong đời sống Chúa Giê-su thì cũng đang diễn ra trong Hội thánh hôm nay. Do đó, từ một kỷ niệm xác thực, được tưởng nhớ nhờ sức mạnh của Thánh Thần, Phúc âm Gio-an đã diễn tả thành một câu chuyện lịch sử tiềm ẩn mang ý nghĩa thần học.

Theo ý hướng đó, trình thuật về dấu lạ đầu tiên tại Ca-na và biến cố thập giá Chúa Giê-su có nhiều ý nghĩa phong phú. Bởi lẽ, Đức Ma-ri-a trong Tin mừng Gio-an, không chỉ được diễn tả trong tư thế làm Mẹ Đấng Cứu Thế mà còn đóng một vai trò quan trọng trong công trình cứu độ của Chúa Cha ngang qua Chúa Giê-su.

Như thế, thử hỏi sự hiện diện của Đức Ma-ri-a trong hai biến cố quan trọng khởi sự và kết thúc sứ mạng của Chúa Giê-su có ý nghĩa như thế nào? Dưới đây, trong giới hạn của mình, tôi cố gắng lần lượt phác họa hình ảnh của Đức Ma-ri-a tại tiệc cưới Ca-na và dưới chân thập giá.

I. Đức Ma-ri-a tại tiệc cưới Ca-na

20070227022923!The_Marriage_at_Cana_-_DecaniBối cảnh tiệc cưới xảy ra tại vùng quê Ca-na miền Ga-li-lê (phân biệt với Ca-na miền Coelo-Syria), có sự hiên diện của Đức Ma-ri-a, Chúa Giê-su và các môn đệ của Ngài. Có lẽ Đức Ma-ri-a là một khách mời đặc biệt hoặc có liên quan đến việc tổ chức lễ cưới nên xem ra Đức Ma-ri-a rất lo lắng khi thấy thiếu rượu. Thật vậy, theo phong tục truyền thống Do-thái, đám cưới là một lễ hội rất long trọng và được tổ chức nhiều ngày. Khách mời và gia chủ cùng chia sẻ những ngày tiệc tùng vui vẻ là một cơ hội quan trọng trong đời. Đặc biệt, rượu là một thứ không thể thiếu trong đám cưới vì nó làm tăng niềm vui của khách mời và việc thết đãi rượu thịnh soạn dồi dào là một vinh dự của gia chủ. Hơn nữa, theo văn hóa Đông phương, đãi khách là một nhiệm vụ thiêng liêng, vì thế thiếu thức ăn, nước uống và rượu là một điều xấu hổ cho cô dâu, chú rể. Các Rab-bi thường nói: “Không rượu thì không vui”. Tuy nhiên, say rượu cũng là sự khiếm nhã nên khách mời cũng cần phải chừng mực. Tiếc thay, sự cố không vui đã xảy đến trong tiệc cưới tại Ca-na này: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3). Đức Ma-ri-a đã nhận ra điều đó và Mẹ đã can thiệp để điều tồi tệ nhất không xảy ra.

1. Sự can thiệp của Đức Ma-ri-a

Rượu là một yếu tố quan trọng góp phần làm nên niềm vui trong tiệc cưới, nhưng tiếc thay, tiệc cưới Ca-na chưa tàn đã hết rượu. Đức Ma-ri-a đã nhận ra tình hình tồi tệ ấy và đã can thiệp cách chủ động. Tuy nhiên, thái độ và cung cách của Đức Ma-ri-a cho thấy Mẹ thực sự quan tâm đến nhu cầu của người khác và Đức Ma-ri-a đã không yêu cầu cách trực tiếp nhưng bằng một thái độ đức tin và có sự tín thác.

a. Đức Ma-ri-a luôn quan tâm đến nhu cầu của người khác

Đức Ma-ri-a hiện diện trong tiệc cưới Ca-na được tác giả Phúc âm thứ tư diễn tả như một vị khách đặc biệt. Đức Ma-ri-a sát cánh bên Chúa Giê-su và dường như điều ấy làm cho các nhân vật khác trong tiệc cưới trở thành thứ yếu. Tuy Đức Ma-ri-a không tỏ ra là một nhân vật chủ chốt, nhưng điều Mẹ lưu tâm là một công việc quan trọng và cấp thiết, công việc của một ông quản tiệc. Đức Ma-ri-a đã lên tiếng với Chúa Giê-su về tình hình nghiêm trọng xắp xảy đến: thiếu rượu.

Có thể nói, Gio-an đã đặt sự quan tâm của Đức Ma-ri-a về việc thiếu rượu trong tiệc cưới như một dấu chỉ khởi sự dấu lạ đầu tiên của Chúa Giê-su, Đấng được Thiên Chúa sai đến. Vì thế, theo ý định của Gio-an, việc can thiệp của Đức Ma-ri-a hay việc biến nước thành rượu không phải là trọng tâm của biến cố cho bằng việc giới thiệu và minh chứng về Đấng Thiên Sai muôn dân đang mong đợi. Ngài đến để đem ơn cứu độ và đổi mới mọi sự.

Chúng ta sẽ thấy Gio-an thường trình bày các dấu lạ nhắm mục đích thay thế các luật lệ cũ của người Do-thái. Thêm vào đó, khi Chúa Giê-su đến, giáo lý và hệ thống tôn giáo cũ có thể trở nên vô nghĩa nên không thể tồn tại. Do vậy, sự lưu ý của Đức Ma-ri-a về việc thiếu rượu có thể được hiểu theo một nghĩa tượng trưng về tình trạng của dân Do-thái. Trước hết, thiếu rượu được diễn tả như thể “họ đang trở nên trống rỗng và là nạn nhân của những luật lệ vô nghĩa của nhóm biệt phái”[1]. Tiếp đến, nước để dùng trong nghi lễ thanh tẩy theo luật cũ tại tiệc cưới Ca-na không còn cần thiết nữa nhưng giờ đây, nó được thay thế bằng rượu mới thượng hạng là chính Chúa Giê-su. Cuối cùng, khung cảnh tiệc cưới là hình ảnh sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và dân Người (x. Is 54,4-8; 62,4-5); hình ảnh bữa tiệc cánh chung của Đấng Mê-si-a; và rượu là hình ảnh quen thuộc của tình yêu Thiên Chúa và loài người (x. Is 25,6-9). Chúa Giê-su cũng đã nói về những giáo huấn của Ngài như rượu mới không thể chứa đựng trong bầu da cũ (x. Mt 9,17). Đây chính là lúc cần phải thay thế rượu cũ bằng một thứ rượu mới hoàn hảo hơn.

b. Đức Ma-ri-a luôn tín thác vào quyền năng Thiên Chúa

Wedding-at-Cana-of-GalileeMặc dù trong trình thuật không nói gì đến lý do tại sao thiếu rượu, và dường như người ta cũng thờ ơ về việc đó. Sự thiếu sót trong việc thiếu rượu thuộc trách nhiệm của ông quản tiệc: “Người quản tiệc nếm thử nước đã hóa thành rượu mà không biết từ đâu ra” (Ga 2,9). Tuy nhiên, Đức Ma-ri-a đã nhận ra điều đó. Vai trò của Đức Ma-ri-a lúc này trở nên rất quan trọng, Mẹ đã can thiệp để làm cho tiệc cưới được thêm vui, để cho cô dâu và chú rể không bị bẽ mặt. Cách can thiệp của Đức Ma-ri-a thật nhẹ nhàng thể hiện sự tín thác vào quyền năng Thiên Chúa. Nếu đem so sánh, chúng ta có thể nhận ra hai hình ảnh tương phản: Đức Ma-ri-a đối thoại với Chúa Giê-su (x. Ga 2,3); và lời phàn nàn của ông quản gia với vị tân lang của mình (x. Ga 2,10). Trong khi ông quản tiệc trách cứ tân lang thì lời của Đức Ma-ri-a là một lời “cầu xin”, vừa kín đáo, nhẹ nhàng, vừa thể hiện một niềm cậy trông tín thác. Có thể nói, hình ảnh của Đức Ma-ri-a lúc này thật tuyệt vời, vì Đức Ma-ri-a không đứng ở vị thế của một người Mẹ uy quyền mà ra lệnh và quyết định. Trái lại, Đức Ma-ri-a chỉ gợi ý về hoàn cảnh của gia chủ và để Chúa Giê-su hoàn toàn tự do định liệu. Có lẽ, đó là giờ của Đức Ma-ri-a, giờ Mẹ hiểu rằng đây chính là thời điểm ý Chúa được tôn vinh, và quyền năng Thiên Chúa được tỏ hiện.

Từ giờ phút này, Đức Ma-ri-a được mời gọi vượt lên trên tương quan với Chúa Giê-su như một người Mẹ dẫn dắt con thơ trong tình Mẫu Tử tự nhiên để xuất hiện như người môn đệ. Dù không nói, nhưng cách thức của Đức Ma-ri-a như lời của Gio-an Tẩy giả: “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3,30).

2. Đức Ma-ri-a, người môn đệ đầu tiên

Chúng ta có thể gọi Đức Ma-ri-a là môn đệ đầu tiên và hoàn hảo của Chúa Giê-su không chỉ do chính lòng tin của Mẹ vào Thiên Chúa mà do Đức Ma-ri-a còn làm cho các môn đệ Chúa Giê-su tin vào Người: “Các môn đệ đã tin vào Người” (Ga 2,11). Thật vậy, ngay từ biến cố truyền tin, Đức Ma-ri-a đã tin rằng những điều Chúa phán với Mẹ sẽ thành hiện thực (x. Lc 1,26-38). Đức Ma-ri-a trở thành môn đệ hoàn hảo của Chúa Giê-su ngang qua sự hiện diện âm thầm và luôn lắng nghe tiếng Chúa.

a. Đức Ma-ri-a luôn hiện diện trong âm thầm

Người môn đệ không phải là người đi trước, nhưng luôn theo sau Thầy mình. Chúng ta có lý do để nói rằng sự hiện diện của Đức Ma-ri-a trong tiệc cưới Ca-na như một vị khách độc đáo và danh dự. Có lẽ ở đây, Đức Ma-ri-a là khách mời chính, còn Chúa Giê-su và các môn đệ cùng tháp tùng Mẹ. Tuy thế, Đức Ma-ri-a đã thể hiện sự khiêm tốn và đúng vai trò của mình khi lui lại đằng sau Chúa Giê-su, để qua Chúa Giê-su, vinh quang của Chúa Cha được tỏ hiện và để giờ của Chúa được khởi sự.

Nói cách khác, trong tiệc cưới Ca-na, Đức Ma-ri-a đã thể hiện tư cách mẫu mực của người môn đệ. Từ đó, Mẹ bắt đầu theo Chúa Giê-su trong hành trình rao giảng của Người. Tuy nhiên, Đức Ma-ri-a hiện diện bên Chúa cách âm thầm và gắn bó. Thực ra, không ai có thể chối bỏ mối tương quan khắng khít giữa Chúa Giê-su và Mẹ Ngài. Chúa Giê-su và Đức Ma-ri-a sát cánh như hình với bóng và điều đó nâng đỡ hành trình rao giảng của Chúa Giê-su và hoàn tất sứ mạng Từ Mẫu Con Thiên Chúa của Mẹ. Thánh Phao-lô nói: “Hãy mặc lấy Chúa Ki-tô” (Rm 13,14). Đức Ma-ri-a đã mặc lấy Chúa Ki-tô ngay từ giây phút Mẹ thưa tiếng “xin vâng” (x. Lc 1,38), và Đức Ma-ri-a vẫn còn mặc lấy Chúa trong suốt quãng đường còn lại của đời Mẹ.

Hơn nữa, chính sự hiện diện tuy âm thầm nhưng khăng khít của Đức Ma-ri-a bên Chúa Giê-su là một mẫu gương cho căn tính Ki-tô hữu của chúng ta. Quả thế, “Đức Ma-ri-a nhắc lại cho chúng ta nguồn gốc và căn tính của chúng ta. Cùng với Đức Ma-ri-a, các Ki-tô hữu đã khởi sự hiện hữu như cộng đoàn của những kẻ tin và những kẻ dõi theo bước Chúa Giê-su. Ngoài ra, Đức Ma-ri-a cũng được ca tụng là thành phần tuyệt hảo, là kiểu mẫu đầu tiên và mẫu gương trổi vượt nhất của đức tin và đức ái”[2].

Tóm lại, hình ảnh Đức Ma-ri-a điềm tĩnh trước lời xem ra từ chối của Chúa Giê-su là một minh chứng rõ ràng cho việc Đức Ma-ri-a lắng nghe lời Chúa trong sự xin vâng và tín thác. Đức Ma-ri-a đã gác lại tư cách làm Mẹ qua một bên để cùng Con Mẹ hướng về mục đích phụng sự sứ mạng của Chúa. Theo A. Vanhoye; “Đức Ma-ri-a hoàn toàn chấp nhận định hướng Chúa Giê-su đã tỏ ra khi Mẹ nói chuyện với Chúa. Đức Ma-ri-a đã từ bỏ cấp độ quan hệ với Con Mẹ trước kia và nhận một cấp độ khác vô cùng tích cực. Ảnh hưởng của Đức Ma-ri-a không còn áp đặt lên Chúa Giê-su nhưng được quy hướng về việc phụng sự Ngài”[3].

b. Đức Ma-ri-a luôn lắng nghe và thực thi Lời Chúa

“Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5), là lời nói cuối cùng của Đức Ma-ri-a trong Phúc âm Gio-an. Lời nói ấy không chỉ cho thấy Đức Ma-ri-a hiểu rõ Con mình, nhưng còn thể hiện một thái độ tin tưởng và vâng phục như người tôi tớ. Thái độ âm thầm, điềm tĩnh của Đức Ma-ri-a không phải là một sự hụt hẫng thụ động, nhưng là một niềm tin đang thúc bách hành động. Đức Ma-ri-a chờ đợi trong tin tưởng, vì thế phép lạ đã xảy ra.

Thật vậy, Chúa Giê-su chỉ rời gia đình khi Ngài ba mươi tuổi. Trong thời gian trước đó, Ngài sống gắn bó với gia đình, với Mẹ Ngài một cách khắng khít. Chắc chắn giữa Mẹ và Con có nhiều niềm vui, nhiều nỗi lo lắng vất vả chia sẻ với nhau. Vì thế, khi Đức Ma-ri-a mở lời với Chúa Giê-su, dù Mẹ không hiểu Chúa sẽ làm gì, thậm chí còn gặp một phản ứng có vẻ như khước từ thẳng thắn của Chúa (2,4), nhưng Đức Ma-ri-a vẫn hoàn toàn tin tưởng và dặn người giúp việc làm theo ý Chúa. Tin tưởng hoàn toàn ngay cả khi không hiểu, xem ra là một sự liều lĩnh, nhưng thực sự cũng là một kinh nghiệm và hiểu biết chín chắn. Đức Ma-ri-a biết Mẹ tin vào ai và kết quả sẽ như thế nào. Lòng tin của Đức Ma-ri-a là một bài học cho chúng ta. Trong đời sống có khi đen tối không lối thoát, nếu chúng ta biết đặt trọn tin tưởng nơi Chúa, dù không biết Chúa sẽ làm gì, nhưng chắc chắn Chúa sẽ thực hiện những điều tốt đẹp nhất cho chúng ta.

Bên cạnh đó, thái độ của Đức Ma-ri-a không chỉ diễn tả một niềm tin tuyệt đối nhưng còn biểu lộ sự vâng phục hoàn toàn ý muốn của Thiên Chúa. Lời nhắn nhủ cuối cùng của Đức Ma-ri-a thật ngắn gọn nhưng là một kinh nghiệm dấn thân cả đời Mẹ. Đức Ma-ri-a đã không ngần ngại ban tặng cho chúng ta bí quyết sống của Mẹ. Hãy vâng nghe lời Chúa thì mọi sự tốt đẹp sẽ xảy ra. Trong thực tế, vâng phục ý Thiên Chúa không phải luôn luôn là một đòi hỏi đáp lại những ý định rõ ràng dễ hiểu, nhưng có khi mọi sự ấy chìm trong bóng đêm của những lo lắng và ngờ vực. Vì thế, sự vâng phục đòi hỏi một niềm tin vững vàng và một tâm hồn bén nhạy để lắng nghe những biến cố trong đời và suy đi nghĩ lại trong lòng. “Đức Ma-ri-a đã lắng nghe và đón nhận sứ điệp của tất cả, và trong lúc phục tùng, Đức Ma-ri-a đã trở nên người tớ nữ của Nước Thiên Chúa”[4].

Tóm lại, với tư cách của người môn đệ theo sát chân Chúa Giê-su, Đức Ma-ri-a đã sống một cuộc đời của người nữ tỳ trung tín luôn lắng nghe và thực thi ý Chúa. Sứ điệp về nước Thiên Chúa là sứ điệp của sự hiệp nhất, yêu thương và phục vụ lẫn nhau. Việc làm cho “ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” (Mt 6,10) là kim chỉ nam hướng dẫn mọi suy nghĩ và hành động của Mẹ. Vì thế, đã có lần Đức Ma-ri-a không chỉ được tuyên dương như một người Mẹ diễm phúc nhưng còn được đề cao với tư cách của người môn đệ hoàn hảo luôn trung tín trong việc lắng nghe và thực thi lời Chúa: “Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là Mẹ tôi” (Mc 3,35).

Đức cố Giáo hoàng Phao-lô VI đã tuyên bố trong diễn văn kết thúc khóa III của Công đồng Va-ti-can II như sau: “Trong cuộc sống dương thế, Đức Ma-ri-a đã trở nên môn đệ hoàn hảo của Chúa Giê-su, đã đồng hóa mình với lời chúc phúc của Chúa Giê-su. Vì thế, trong Đức Ma-ri-a, Hội thánh có được một mẫu gương hoàn hảo nhất trong công việc noi gương Chúa Giê-su”.

II. Đức Ma-ri-a dưới chân thập giá

MaryAtFootOfCrossTrong tiệc cưới Ca-na, Chúa Giê-su đã nói với Đức Ma-ri-a: “Giờ của tôi chưa đến” (Ga 2,4). Khi trả lời cho Mẹ Ngài câu này chắc hẳn Chúa Giê-su ý thức rõ ràng về mục đích sứ vụ của mình. Vì thế, dường như mọi sự xảy đến không theo ước muốn và ý riêng của Ngài nhưng theo kế hoạch của Chúa Cha. Có lẽ “giờ” ở đây không thể được hiểu theo khung thời gian nhưng là thời điểm ý định của Thiên Chúa được tỏ hiện. Bởi đó, giờ, theo ý nghĩa thần học, là thời điểm mà Chúa Giê-su thiết lập giao ước mới vĩnh cửu với nhân loại trên Thập giá. Nơi Thập giá có sự hiện diện của Mẹ Ngài và những người phụ nữ khác. Chính nơi đây, giờ của Đức Ma-ri-a và giờ của Chúa gặp nhau, và chính nơi đây Đức Ma-ri-a vừa hoàn tất sứ mạng cũ từ Chúa Cha vừa đón nhận sứ mạng mới từ Đấng Cứu Thế.

1. Đức Ma-ri-a, dấu chỉ giao ước mới

“Dưới chân thập giá”, các Tin mừng nhất lãm đề cập đến một nhóm phụ nữ đứng nhìn từ đàng xa (x. Mt 27,55-56; Mc 15,40-41; Lc 23,49), nhưng không nói gì về Đức Ma-ri-a trong số đó. Tuy nhiên, Phúc âm Gio-an không chỉ nói đến nhóm phụ nữ đứng “gần thập giá” nhưng còn nhắc đến sự hiện diện của “Thân Mẫu Người” (Ga 19,25). Hơn nữa, ở giữa họ, Đức Ma-ri-a có một vị trí rất quan trọng không đơn thuần là một sự gần gũi thể lý cho bằng sự gần gũi tinh thần. Chính giờ phút này, giờ của Con và giờ của Mẹ gặp nhau và Mẹ Thiên Chúa trở nên Mẹ của toàn thể Hội thánh.

a. Giờ của Đức Ma-ri-a và giờ của Chúa

Thánh Gio-an đã nhiều lần nhắc đến “giờ” của Chúa Giê-su: trong tiệc cưới Ca-na (x. Ga 2,4); lời tiên báo về cuộc hiến tế (x. Ga 12,23.27; 13,1; 16,32; 17,1). Các giờ này nhắm đến thời điểm Chúa Cha đã ấn định để Chúa Con hoàn tất công trình của Người cách vinh quang trên thập giá (x. Ga 7,30; 8,20; 12,27; 13,1; 17,1; 19,27). Như thế, theo tác giả Phúc âm thứ tư, giờ phút Chúa Giê-su trút hơi thở trên thập giá chính là giờ phút vinh quang của Ngài. Vào giờ ấy, chắc chắn có sự hiện diện của Mẹ Ngài, bởi lẽ, Đức Ma-ri-a đã hiện diện và theo sát Con mình trong suốt hành trình cuộc đời ẩn dật và rao giảng công khai của Ngài, và đây là giờ Mẹ cần phải hiện diện hơn bao giờ hết. Chính giờ này, Mẹ có thể chia sẻ nội tâm một cách sâu xa với Chúa Giê-su vượt lên trên những khoảng cách của thể lý.

Ngay dưới chân thập giá, cuộc đối thoại tương tự trong tiệc cưới Ca-na lại diễn ra nhưng theo chiều ngược lại. Lần này, Đức Ma-ri-a lặng im, còn Chúa Giê-su nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà” (Ga 19,26). Nếu tại Ca-na năm xưa, câu trả lời của Chúa Giê-su: “Thưa Bà, chuyện đó can gì đến Bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến”, tiên báo mối liên hệ Mẫu Tử theo thể lý giữa Mẹ và Con chấm dứt, thì hôm nay, câu nói của Chúa Giê-su một lần nữa báo trước rằng Mẹ sẽ mất Con mình về phương diện thể lý khi Ngài trút hơi thở cuối cùng. Có lẽ, chỉ có Chúa Giê-su mới hiểu thấu lòng tin và sự đau khổ đang xâu xé tâm hồn Mẹ.

Ngoài ra, khi Chúa Giê-su gọi Đức Ma-ri-a là “Bà” (Γύναι: gunai), thoạt nghe có vẻ chói tai, dễ gây hiểu lầm. Tuy nhiên, “từ ‘Bà’ là kiểu nói lịch sự của người Do-thái thời đó để gọi một phụ nữ. Nó không mang ý nghĩa tiêu cực, thiếu lễ độ, nhưng cũng không phải là một tước hiệu tỏ lòng tôn kính”[5]. Vì thế, để có thể diễn tả từ “Bà” ở đây một cách lịch sự nhã nhặn, chúng ta có thể nói “thưa Bà”. Lời nói này có một ý nghĩa đặc biệt, nó đi sâu vào mầu nhiệm độc đáo của Đức Ma-ri-a liên quan đến nhiệm cục cứu độ Mẹ đã đón nhận. Đó chính là thời điểm Đức Ma-ri-a sẽ hoàn tất hời hứa phúc âm dành cho Mẹ: “Dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi” (St 3,15).

Nếu câu trả lời của Chúa Giê-su tại Ca-na là lời xác quyết, theo đó, Chúa làm phép lạ đầu tiên này như lời loan báo về giờ sẽ được hoàn tất trên thập giá, và Đức Ma-ri-a được mời gọi hướng về sứ mạng của một E-và mới vượt lên trên tình Mẫu Tử, thì đưới chân thập giá vai trò làm Mẹ trong bình diện cứu độ của ân sủng đạt đến đỉnh cao khi mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giê-su được hoàn tất. Đức Ma-ri-a chia sẻ tình yêu cứu độ với Con mình đồng thời hoàn tất sứ mạng “đầy ân sủng” của một nữ tỳ trong niềm tin. “Như thế, Phúc âm Gio-an đã suy nghĩ về Đức Ma-ri-a dựa trên bối cảnh của Sách Sáng thế, chương 3: Người là Đức Ma-ri-a của Đấng Mê-si-a. Vai trò của Đức Ma-ri-a là cuộc chiến chống lại Sa-tan: con rắn. Và cuộc chiến đó lên đến tột đỉnh của nó vào giờ của Chúa Giê-su, nên Mẹ sẽ xuất hiện ở dưới chân cây thập giá để được trao phó ‘dòng dõi’ cho Mẹ bảo trợ cho cuộc chiến còn tiếp diễn giữa Sa-tan và các tín hữu sẽ theo chân Đấng Mê-si-a. Như thế, Đức Ma-ri-a đúng là E-và mới, hình ảnh của Hội thánh”[6].

Tóm tại, theo thánh Gio-an không ai có thể định đoạt về giờ của Đức Ki-tô, kể cả Thân Mẫu của Người. Nhưng có thể nói, kế hoạch ân sủng của Thiên Chúa được thực hiện dưới tác động của Chúa Thánh Thần từ giây phút Ngôi Lời Nhập Thể đến giây phút khai sinh Hội thánh đã được nối kết ngang qua mầu nhiệm Đức Ma-ri-a. Ngay dưới chân thập giá, giờ của Con và giờ của Mẹ được tương phùng. Công đồng Va-ti-can II xác định: “Cuối cùng, sau thời mong đợi lời hứa được thực hiện, thời gian đã nên trọn và nhiệm cuộc mới được thiết lập với Ngài, người Thiếu Nữ Si-on cao sang khi Con Thiên Chúa mặc lấy bản tính nhân loại nơi Ngài để giải thoát con người khỏi tội lỗi nhờ các mầu nhiệm của thân xác Chúa” (LG 55).

b. Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ Hội thánh

Mother-ChurchThánh Phao-lô nói đầu và thân thể thì không tách rời nhau, và Đức Ki-tô là Đầu của Hội thánh (x. 1Cr 12,12-30). Thánh Lê-ô Cả nhận định: “Sinh nhật của Đầu là sinh nhật của thân thể”[7], và đó cũng là quan điểm của Công đồng Va-ti-can II: Hội thánh là Thân thể Mầu nhiệm của Đức Ki-tô và Đức Ki-tô là Đầu của Thân thể Mầu nhiệm này (x. LG 7). Vì thế, “Đức Ma-ri-a sinh ra Đức Ki-tô, và trong Đức Ki-tô, Đức Ma-ri-a cũng sinh ra Ki-tô hữu”[8]. Vậy, Đức Ma-ri-a là Mẹ Chúa Giê-su và cũng là Mẹ Hội thánh thể hiện qua “Mẫu tính Mẹ Thiên Chúa”, và “Mẫu tính thiêng liêng: Mẹ Hội thánh”.

Mẫu tính Mẹ Thiên Chúa[9]. Mẫu tính là ân sủng đặc biệt Chúa ban cho người phụ nữ. Ơn gọi làm “Mẹ chúng sinh” (St 3,20) được chính Thiên Chúa đặt vào trái tim E-và và các phụ nữ. Do đó, trong lòng họ luôn có một niềm khao khát làm mẹ. Tuy nhiên, chỉ có Thiên Chúa mới có quyền “đóng – mở” khả năng sinh sản của người mẹ và chỉ có Thiên Chúa mới có thể thắng được sự vô sinh (x. 1Sm 1,2-2,5).

Mẫu tính của Đức Ma-ri-a, không chỉ trong tương quan thể xác với Chúa Giê-su như những người mẹ thông thường, nhưng sâu xa hơn đó là mẫu tính thiêng liêng phổ quát cho mọi người. Khi người ta thán phục Thân Mẫu Chúa Giê-su, chính Ngài đã nói: “Ai là anh em tôi, ai là Mẹ tôi?” (Mt 12, 48-50). Đối với Chúa Giê-su, không chỉ Đức Ma-ri-a là Mẹ nhưng tất cả những ai nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa, đều là mẹ của Ngài. Điều này một lần nữa lại được Chúa Giê-su biểu lộ rõ ràng trên thập giá: “Đây là Mẹ của anh” (Ga 19,27). Sự hiện diện và can thiệp của Đức Ma-ri-a tại tiệc cưới Ca-na có một tầm quan trọng đặc biệt. Trong trình thuật dấu chỉ khởi đầu ấy, thánh Gio-an đã đặt Đức Ma-ri-a làm người đại diện và hiện thân của những người bước theo Đấng Mê-si-a. Với thái độ hoàn toàn tin tưởng và vâng phục Con mình, Đức Ma-ri-a không chỉ biểu lộ đức tin cá vị sâu xa của Mẹ nhưng còn nói lên niềm tin của toàn thể tín hữu. Nói cách khác, đức tin của Đức Ma-ri-a không chỉ chuẩn bị cho phép lạ được xảy ra mà còn cộng tác vào công cuộc hoàn tất việc qui tụ các môn đệ và cộng đoàn tín hữu mới quanh Chúa Giê-su khởi đi từ Ca-na. Giờ đây, Đức Ma-ri-a là Mẹ của toàn thể nhân loại, Mẹ của Hội thánh.

Tắt một lời, thánh Công đồng Va-ti-can II xác quyết: “Vì đã cưu mang sinh hạ và nuôi dưỡng Chúa Ki-tô, đã dâng Chúa Ki-tô lên Chúa Cha trong đền thánh và cùng đau khổ với Con mình chết trên thập giá, Đức Ma-ri-a đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Đấng Cứu Thế, nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt, để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn. Bởi vậy, trên bình diện ân sủng, Ngài thật là Mẹ chúng ta” (LG 61).

Mẫu tính thiêng liêng: Mẹ Hội thánh. Một cuộc trao gửi kỳ diệu: “Đây là Con của Bà”. Đức Giê-su đã làm Con của Đức Ma-ri-a bấy nhiêu năm, chắc hẳn Ngài nhận được sự ân cần chăm sóc, dưỡng dục và lo lắng của Mẹ. Nay Ngài cũng muốn Mẹ tiếp tục chăm sóc các môn đệ của Ngài như Mẹ đã từng chăm sóc Ngài. Đức Ma-ri-a đón nhận và xem Gio-an như con của mình. Tiếp đến là bổn phận của Gio-an: đón Mẹ về nhà. Đức Giê-su đã ban tặng Mẹ mình cho nhân loại để làm Mẹ thiêng liêng. Chính lúc Đức Ma-ri-a sắp mất đi người Con duy nhất thì Mẹ nhận sứ mạng làm Mẹ của các môn đệ.

Giờ đây, Mẹ Chúa Giê-su trở thành Mẹ của các môn đệ. Đức Ma-ri-a trở nên Mẫu tính thiêng liêng đối với người môn đệ Chúa yêu (x. Ga 19,28) cũng là Mẹ của tất cả những người Chúa yêu (x. Lc 2,14) và những người hợp nhất với Chúa. Thánh Công đồng Va-ti-can II nói: “Với tình Từ Mẫu, Đức Ma-ri-a chăm sóc những anh em của Con Mẹ” (LG 62). Những người anh em của Chúa Giê-su không chỉ là người môn đệ Chúa yêu mà còn là các môn đệ và tất cả các tín hữu: một đàn em đông đúc (x. Rm 8,29). Điều đó ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã loan báo: người Nữ son sẻ hạ sinh một dân tộc chỉ trong một ngày (x. Is 54,1; 66,7-8). Đó chính là Đức Ma-ri-a, và cũng là Hội thánh.

Tóm lại, dưới chân thập giá, Mẹ đã từ khước Mẫu tính nhân linh để đón nhận sứ mạng làm Mẫu tính thiêng liêng của toàn thể tín hữu của Đức Ki-tô. Hơn nữa, “Đức Ma-ri-a xuất hiện như là nữ tử Si-on, sau khi chịu tang các con mình, đã được Thiên Chúa ban cho một dòng dõi mới, không theo xác thịt nhưng theo Thần Khí, một dòng dõi đông đảo hơn dòng dõi ban đầu”[10]. Từ giờ ấy, Mẹ sẽ luôn hiện diện và đồng hành với con cái Mẹ trong Hội thánh lữ hành. Đức Ma-ri-a hằng ở bên để thông ban sự sống và nối kết Hội thánh trong tình yêu không bao giờ phai mờ của Thiên Chúa dành cho loài người. Trong Hội thánh Đức Ma-ri-a cũng được đón nhận và tôn vinh với cùng một đức tin, đức cậy và đức mến như Mẹ đã tin cậy nơi Chúa Cha. Thánh Công đồng Va-ti-can II nói: “Đức tin dẫn chúng ta đến chỗ nhìn nhận địa vị cao cả của Mẹ Thiên Chúa, và thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của Mẹ chúng ta” (LG 67).

2. Sứ mạng mới của Đức Ma-ri-a

Thánh Công đồng Va-ti-can II nói: “Vai trò làm Mẹ của Đức Ma-ri-a đối với loài người không làm lu mờ hay giảm bớt vai trò trung gian duy nhất của Chúa Ki-tô chút nào, trái lại còn làm sáng tỏ mãnh lực của sự trung gian ấy. Thật thế, mọi ảnh hưởng có sức cứu rỗi của Đức Trinh Nữ trên nhân loại không phát sinh từ một sự cần thiết khách thể nào nhưng từ ý định nhân lành của Thiên Chúa và bắt nguồn từ công nghiệp dư tràn của Chúa Ki-tô” (LG 60). Như thế, vai trò làm Mẹ của Đức Ma-ri-a gắn bó và chia sẻ vào sự trung gian duy nhất của Chúa Giê-su. Qua đó, Đức Ma-ri-a đón nhận sứ mạng mới từ Đấng cứu thế và tiếp tục sự hiện diện của Người giữa lòng Hội thánh.

a. Đức Ma-ri-a hiện diện như là trung gian

Với thiên chức làm Mẹ Đấng Cứu Thế, khi đón nhận sứ điệp truyền tin, Đức Ma-ri-a đã quảng đại cộng tác vào công trình cứu độ của Thiên Chúa. Hơn nữa, suốt hành trình ấy, Đức Ma-ri-a đã không ngừng hiện diện trong mầu nhiệm cứu độ của Chúa Ki-tô và kết hiệp cách mật thiết với công trình và sứ vụ của Người: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa” (Lc 1,38). Lời nói của Đức Ma-ri-a không chỉ đặt Mẹ vào tương quan lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa mà còn là trung gian giữa Thiên Chúa và loài người. Từ đây, Đức Ma-ri-a theo bước Con mình tới chân thập giá để Mẹ tiếp tục đón nhận từ Chúa Cứu Thế một sứ mạng mới: “Đây là Mẹ anh”. Đức Ma-ri-a khởi sự làm Mẹ Hội thánh mới khai sinh, và Mẹ tiếp tục sứ mạng mới này cho đến khi hoàn tất vĩnh viễn.

Có thể nói, không chỉ từ biến cố Ca-na hay dưới chân thập giá, Đức Ma-ri-a mới bắt đầu cộng tác vào hoạt động cứu độ của Con mình. Đúng hơn, ngay từ đầu đón nhận sứ điệp truyền tin, Đức Ma-ri-a đã hiến dâng trọn vẹn cuộc đời và tình Mẫu Tử cho Đấng Cứu Thế và Hội thánh của Người. Khi nghe tiếng khóc của con thơ, người mẹ biết con mình cần đến bác sĩ như thế nào, thì Đức Ma-ri-a cũng biết rằng loài người cần đến Chúa Giê-su, Con yêu dấu của Mẹ như vậy. Đức Ma-ri-a không phải là Đấng Cứu độ nhưng Mẹ đã đem chúng ta đến với Đấng Cứu độ[11].

Tắt một lời, tại Ca-na, vai trò làm Mẹ của Đức Ma-ri-a được làm nổi bật bởi chiều kích mới mẻ thực sự: làm Mẹ tinh thần chứ không theo thể xác. Đó là vì Đức Ma-ri-a đã lo lắng cho sự “thiếu thốn” của loài người. Các nhu cầu của con người liên hệ đến chiều kích sứ mạng Thiên Sai của Đấng Cứu Thế. Giờ đây, Đức Ma-ri-a ở giữa Con mình và nhân loại, Đức Ma-ri-a hành động như một trung gian trong hoàn cảnh thiếu thốn khổ đau của nhân loại. Nhờ lòng tin và sự cầu bầu của Mẹ mà dấu lạ đầu tiên của Chúa Giê-su được thực hiện dù giờ của Ngài chưa đến. Vì thế, giờ đây và mãi mãi Đức Ma-ri-a luôn hiện diện và đồng hành với Hội thánh lữ hành trong niềm tin vào quyền năng cứu độ của Thiên Chúa.

b. Đức Ma-ri-a tiếp tục sự hiện hiện của Chúa Giê-su

CornerImageHolyMotherOfGodTừ chân thập giá, người môn đệ được trao cho Mẹ và Mẹ được trao cho môn đệ, và “kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,27). Đây là sự hiến dâng và đáp lại trọn vẹn bằng tình yêu và sự tin tưởng tuyệt đối. Rõ ràng “cả hai lần Đức Ma-ri-a xuất hiện trong phúc âm Gio-an, đều xuất hiện với các môn đệ của Chúa Giê-su. Ở Ca-na, Đức Ma-ri-a hoàn tất việc qui tụ các môn đệ với Chúa Giê-su. Dưới chân thập giá, Đức Ma-ri-a được đặt làm Mẹ của người môn đệ được Chúa yêu thương là hình ảnh của Hội thánh, và như vậy, Đức Ma-ri-a được giao trách nhiệm trông coi và bảo vệ những người con của Hội thánh”[12].

Ngày nay, Đức Ma-ri-a hiện diện giữa Hội thánh để tiếp nối sự hiện diện của Chúa Giê-su trong Hội thánh. Trong Hội thánh, Đức Ma-ri-a vừa là người “môn đệ đầu tiên” tin tưởng vào Thiên Chúa vừa là “chứng nhân” tiên khởi cho tình yêu cứu độ của Chúa Cha. Do đó, Đức Ma-ri-a luôn dạy cho con cái mình lời Mẹ đã từng nói với các gia nhân nơi tiệc cưới Ca-na: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5). Như thế, Đức Ma-ri-a vừa ước mong con cái mình tin tưởng vào Chúa Giê-su, Đấng “là Đường, là sự Thật và là sự Sống” (Ga 14,6), vừa mong muốn con cái mình tin tưởng vào Mẹ như Mẹ đã hằng tin tưởng nơi Chúa Cha.

Ngay dưới chân thập giá, khi Chúa Giê-su được Chúa Cha tôn vinh thì Đức Ma-ri-a cũng được tôn vinh làm Mẹ các môn đệ, và Mẹ các tín hữu. Các tín hữu bắt đầu gắn bó với tình Mẫu Tử của Mẹ và Mẹ đón nhận, chăm sóc họ với cùng một tình Mẫu Tử mà Mẹ đã dành cho Chúa Giê-su, Con Mẹ. Do đó, chúng ta có thể đến với Chúa Giê-su nhờ Đức Ma-ri-a (Ad Jesum per Mariam), và nhờ Chúa Giê-su, chúng ta hiểu biết Đức Ma-ri-a hơn[13]. Chẳng thế mà Varitas đã dám khẳng định: “Đức Ma-ri-a trở nên nguồn mạc khải và một tưởng niệm sống động về Chúa Giê-su”[14]. Do đó, trong các cử hành phụng vụ Hội thánh, khi “tưởng niệm” các biến cố của Đức Ki-tô, Hội thánh cũng tỏ lòng sùng kính Đức Ma-ri-a, Đấng đã luôn hiện diện và cộng tác với Chúa Giê-su trong sứ mạng của Người.

Trong Tông huấn “Rosarium Virginis Mariae” (Chuỗi Mân côi dâng kính Đức Trinh Nữ Ma-ri-a), Đức cố Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II đã lưu ý sự hiện diện của Đức Ma-ri-a trong các mầu nhiệm của Chúa Ki-tô. Đó là năm mầu nhiệm được gọi là các mầu nhiệm “đầy ánh sáng”: (1) Phép rửa của Người tại sông Gior-dan; (2) Việc Người tự mạc khải tại tiệc cưới Ca-na; (3) Việc loan báo về Nước Trời với lời kêu gọi sám hối; (4) Việc hiển dung; và cuối cùng (5) việc thiết lập Bí tích Thánh Thể[15]. Mỗi mầu nhiệm là mạc khải về Nước Trời được biểu lộ ngang qua Đức Giê-su; và chắc hẳn, Đức Ma-ri-a cũng luôn hiện diện trong các mầu nhiệm này, dù chỉ âm thầm phía sau hay công khai như tại tiệc cưới Ca-na hoặc trong các hoạt động khác của Chúa Giê-su (x. Mc 3,31-35; Ga 2,12). Bởi lẽ, qua lời “xin vâng”, Đức Ma-ri-a đã hiến dâng đời mình để cộng tác với công trình cứu chuộc của Chúa Cha nơi Chúa Giê-su ngay từ đầu sứ mạng công khai của Người.

Cũng vậy, nếu Hội thánh nhìn nhận Đức Ma-ri-a là trung gian chuyển cầu và nối kết các Ki-tô hữu với Chúa Giê-su, Con của Mẹ, thì khi cử hành Mầu nhiệm Cứu độ của Đức Ki-tô qua Bí tích Thánh Thể, các Ki-tô hữu nhận thức sự hiện diện thực sự của Chúa Ki-tô trong thân xác được sinh ra bởi Đức Ma-ri-a. Vì thế, việc tôn thờ Thánh Thể luôn gắn liền với lòng sùng kính Thánh Mẫu Thiên Chúa. Hơn nữa, các Ki-tô hữu tin rằng, chính Đức Ma-ri-a đã đem họ đến với Chúa Ki-tô trong Bí tích Thánh Thể ngang qua chức vị Từ Mẫu đầy ân sủng của Mẹ nên Đức Ki-tô ở đâu thì có sự hiện diện của Đức Ma-ri-a ở đó, và ở đâu có Chúa Ki-tô hoạt động thì ở đó cũng có Đức Ma-ri-a hoạt động[16].

Tóm lại, nếu lời Mẹ khuyên nhủ tại tiệc cưới Ca-na (x. Ga 2,5) biểu lộ sự chăm sóc từ mẫu của Mẹ và trở nên khuôn mẫu cho các Ki-tô hữu trong việc thực thi ý Chúa, thì sự hiện diện của Mẹ trong “hy tế” thập giá của Đức Ki-tô (x. Ga 19,25-27) là đỉnh cao của ân sủng cứu độ trong vai trò làm Mẹ Đấng Cứu Thế và Mẹ Hội thánh của Mẹ. Như thế, “vai trò làm Mẹ thật mới mẻ này của Đức Ma-ri-a được thiết lập trong đức tin, là hoa trái của tình yêu mới mẻ, một tình yêu thấm sâu vào Mẹ dưới chân thập giá, qua việc Mẹ chia sẻ vào tình yêu cứu độ của Con mình”[17]. Công đồng Vatican II nói: vai trò làm Mẹ của Đức Ma-ri-a được nối dài cách “mới mẻ” trong Hội thánh và nhờ Hội thánh (LG 25). Bởi lẽ, “theo ý định muôn đời của Thiên Chúa quan phòng, vai trò Thánh Mẫu Thiên Chúa của Đức Ma-ri-a phải trải rộng khắp Hội thánh, như thánh truyền đã xác quyết, qua đó, vai trò làm Mẹ của Đức Ma-ri-a đối với Hội thánh là phản ánh và sự nối dài vai trò làm Mẹ của Ngài đối với Con Thiên Chúa”[18].

Thay lời kết

Trong Phúc âm Gio-an, Đức Ma-ri-a đã hiện diện ngay từ đầu trong hành trình rao giảng của Chúa Giê-su, khởi đi từ tiệc cưới Ca-na miền Ga-li-lê. Do trực giác của người Mẹ trước nhu cầu và sự thiếu thốn của nhân loại, Mẹ đã cầu bầu cùng Chúa Giê-su, Đấng Thiên Sai, và Người đã làm phép lạ đầu tiên tại Ca-na. Tại đây, Đức Ma-ri-a đã biểu lộ lòng tin của mình vào Thiên Chúa, nhờ đó, Mẹ trở thành tác nhân qui tụ và hoàn tất việc kêu gọi các môn đệ Chúa Giê-su. Thánh Ambrosio dạy rằng Mẹ Thiên Chúa là mẫu mực của Hội thánh trên bình diện đức tin, đức ái và hiệp nhất hoàn hảo với Chúa Ki-tô[19]. Hơn nữa, chính Mẹ đón nhận vị trí khiêm tốn của người môn đệ đích thực. Và với tư cách môn đệ, Mẹ tiếp bước theo Chúa Giê-su trong sự phó thác và trung tín. Mẹ thật là môn đệ đầu tiên hoàn hảo của Chúa Giê-su.

Cuộc lữ hành trong đức tin của Mẹ càng lộ rõ khi Mẹ và Chúa Giê-su, Con Mẹ, hiệp nhất trên thập giá. Chính nơi thập giá, Mẹ đã cùng Con mình cảm nếm, chia sẻ nỗi đau đớn cùng cực và Mẹ cũng dự phần vào hy lễ của Con mình bằng tất cả tấm lòng của người Mẹ, trong thể xác lẫn tinh thần. Cũng ngay chân thập giá, khi Thiên Chúa tôn vinh Đấng Cứu Thế thì Mẹ cũng được tôn vinh. Vì thế, nơi chặng cuối cùng của vai trò làm Mẹ Chúa Giê-su, Mẹ Thiên Chúa, Đức Ma-ri-a được chính Con Mẹ, Đấng Cứu Thế trao cho một sứ mạng mới, sứ mạng làm Mẹ của môn đệ: “Thưa Bà, này là con Bà” (Ga 19,26-27).

Từ nay Mẹ bắt đầu cưu mang một đàn con mới, đàn em đông đúc của Chúa Giê-su (x. Rm 8,29). Đó là Hội thánh mới được sinh ra. Mẹ trở thành Mẹ Hội thánh, Mẹ nhân loại. Mẹ sẽ hiện diện giữa Hội thánh như nối dài sự hiện diện của Đức Ki-tô, để nâng đỡ, cầu bầu và hiệp nhất toàn thể nhân loại. Vai trò mới của Mẹ như là “trung gian” giữa Thiên Chúa và nhân loại. Vì thế, “Từ nay khi nhân loại nhìn lên thập giá, sẽ thấy Đấng Cứu Thế và dưới chân thánh giá là Mẹ của ân sủng thần linh (Mater divinae gratiae). Người luôn đứng dưới chân thánh giá để thông ban ơn cứu độ cho con cái loài người và để làm chứng về tình thương Từ Mẫu của Thiên Chúa”[20].

Trong suốt hành trình lữ hành dương thế, Hội thánh sẽ trông lên Mẹ và nhờ Mẹ cầu bầu. Thánh Công đồng Va-ti-can II nói: “Trong Hội thánh, Đức Trinh Nữ được kêu cầu qua các tước hiệu: Trạng Sư, vị Bảo Trợ, Đấng Phù Hộ và Đấng Trung Gian” (LG 62). Trong lòng các tín hữu, Mẹ vừa là Mẹ cầu bầu, vừa là mẫu gương nhân đức sáng ngời cho con cái Mẹ tiến lên trong đức tin, đức cậy và đức mến. Qua đó, con cái Mẹ luôn tìm kiếm, lắng nghe và vâng theo thánh ý Thiên Chúa trong mọi sự.

Sao Băng, S.J.