Chúa Giêsu sinh ra bởi Đức Maria, đính hôn với Thánh Giuse con vua Đavít

22/12/2019 Chúa Nhật IV MÙA VỌNG Năm A

BÀI ĐỌC I: Is 7, 10-14 “Này trinh nữ sẽ thụ thai”.

Bài trích sách Tiên tri Isaia.

Ngày ấy, Chúa phán bảo vua Achaz rằng: “Hãy xin Thiên Chúa, Chúa ngươi, một dấu ở dưới lòng đất hay ở trên trời cao!” Nhưng vua Achaz thưa: “Tôi sẽ không xin, vì tôi không dám thử thách Chúa”. Và Isaia nói: “Vậy hãy nghe đây, hỡi nhà Đavít, làm phiền lòng người ta chưa đủ ư, mà còn muốn làm phiền lòng Thiên Chúa nữa? Vì thế, chính Chúa sẽ cho các ngươi một dấu: này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 23, 1-2. 3-4ab. 5-6 Chúa ngự qua, chính Ngài là Hoàng Đế hiển vinh (x. c. 7c và 10b).

1) Chúa là chủ trái đất và mọi vật làm sung mãn nó, chủ địa cầu và muôn loài cư trú ở trong. Vì chính Ngài xây dựng nó trên biển cả, và Ngài giữ vững nó trên chỗ nước nguồn.

2) Ai khá trèo lên cao sơn của Chúa, ai được đứng trong nơi thánh của Ngài? Người tay vô tội và lòng thanh khiết, người không để lòng xu hướng bả phù hoa.

3) Người đó sẽ được Chúa chúc phúc cho, và được Thiên Chúa là Đấng cứu độ ban ân thưởng. Đó là dòng dõi người tìm kiếm Chúa, người tìm long nhan Thiên Chúa nhà Giacóp.

BÀI ĐỌC II: Rm 1, 1-7 “Đức Giêsu, thuộc dòng dõi vua Đavít, là Con Thiên Chúa”.

Bài trích thơ Thánh Phaolô Tông đồ gởi tín hữu Rôma.

Phaolô, tôi tớ Chúa Giêsu Kitô, đã được kêu gọi làm Tông đồ và đã được tuyển chọn để rao giảng tin mừng Thiên Chúa. Tin mừng ấy Thiên Chúa đã hứa trước bằng lời các tiên tri trong Kinh Thánh về Con của Người; Người đã sinh ra theo huyết nhục bởi dòng dõi Đavít, đã được tiền định là Con Thiên Chúa quyền năng theo Thánh Thần, đã sống lại từ cõi chết. Đó chính là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, nhờ Người, chúng tôi đã nhận ân sủng và chức vụ tông đồ, để nhân danh Người, chúng tôi quy phục mọi dân tộc về Đức Tin, trong đó có cả anh em là những người mà Chúa Giêsu đã kêu gọi.

Tôi chúc tất cả mọi người trong thành Rôma được Thiên Chúa yêu mến và kêu gọi nên thánh, được ân sủng và bình an của Thiên Chúa là Cha chúng ta, và của Đức Giêsu Kitô là Chúa chúng ta. Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Mt 1, 21 Alleluia, alleluia! – Này đây trinh nữ sẽ mang thai, hạ sinh một con trai, và người ta sẽ gọi tên Người là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa-ở-cùng-chúng ta.

PHÚC ÂM: Mt 1, 18-24 “Chúa Giêsu sinh ra bởi Đức Maria, đính hôn với Thánh Giuse con vua Đavít”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: Mẹ Người là Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giuse, bạn của bà, là người công chính, không muốn tố cáo bà, định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo. Nhưng đang khi định tâm như vậy thì thiên thần Chúa hiện đến cùng ông trong giấc mơ và bảo: “Hỡi Giuse, con vua Đavít, đừng ngại nhận Maria về nhà làm bạn mình, vì Maria mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần: bà sẽ hạ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu: vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội”.

Tất cả sự kiện này đã được thực hiện để làm trọn lời Chúa dùng miệng Tiên tri phán xưa rằng: “Này đây một trinh nữ sẽ mang thai và hạ sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. Khi tỉnh dậy, Giuse đã thực hiện như lời thiên thần Chúa truyền: ông tiếp nhận bạn mìnhnhưng không ăn ở với nhau cho đến khi Maria sinh con trai đầu lòng, thì Giuse đặt tên con trẻ là Giêsu. Đó là lời Chúa.

Lm Peter Lê Thanh Quang
Lm Giuse Trần Đình Long

SUY NIỆM

THÁNH GIUSE

Thánh Bernarđô thành Clairvaux nói: “Thánh Giuse được chọn giữa mọi người, để là người bảo vệ và canh giữ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa; là người bảo vệ và cha nuôi của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người, và cũng là người cộng tác duy nhất trên trái đất. Ngài tin tưởng vào sự bí mật của Chúa trong công trình cứu chuộc nhân loại.”

image.png

Sứ thần Đức Chúa hiện ra với thánh Giuse trong giấc mơ để báo cho ngài biết việc Đức Maria sẽ thụ thai, hạ sinh Hài Nhi Giêsu, và báo trước về vận mệnh của đứa trẻ cũng như trao trách nhiệm cho thánh nhân trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Sứ thần mời gọi ngài cứ đón nhận Maria làm vợ, và chấp nhận hài nhi như con mình. Thánh nhân không hiểu hết lời của sứ thần, nhưng ngài vẫn vâng theo ý Chúa, đón Maria về nhà. Khi Giuse chấp nhận chương trình của Thiên Chúa, ngài được nhìn nhận là cha hợp pháp của Chúa Giêsu. Nhờ đó, Chúa Giêsu có thể được nhìn nhận là “con vua Đavít”.

Thánh Giuse đã để lại cho người tín hữu một tấm gương là luôn tuân hành thánh ý Thiên Chúa, sống âm thầm và cộng tác vào chương trình cứu độ, sống hy sinh và khiêm nhường, chịu đựng gian nan khó khăn và lắng lo cho gia đình. Nhìn vào thái độ của thánh Giuse và Đức Maria, mọi Kitô hữu được mời gọi sẵn sàng từ bỏ ý riêng để đón nhận thánh ý Chúa, dù đôi lúc ý muốn đó trái ngược với sở thích và hoạch định riêng của ta. Có như thế, mỗi người mới có thể trở thành chứng nhân cho những thực tại thánh thiêng và cho sự hiện diện đích thực của Chúa trong thế giới hôm nay. Lạy Chúa, giữa thế giới đầy tiếng ồn, xin cho con biết thinh lặng để lắng nghe tiếng Chúa trong tâm hồn. Xin dạy con biết gạt bỏ tư lợi để sẵn sàng làm điều có ích cho tha nhân trong ngày hôm nay. Amen.

(Chấm nối chấm – Học Viện Đaminh)

ĐTC: Gần đến Giáng sinh, tôi đang chuẩn bị cho Chúa thế nào?

Trong bài giáo lý, Đức Thánh Cha nhắc lại ý nghĩa của hang đá Giáng sinh: Thiên Chúa đã trở nên gần gũi với con người. Ngài mời gọi các tín hữu chuẩn bị cho Chúa Giáng sinh bằng cách thế đơn giản là làm hang đá tại gia đình và các nơi sinh hoạt, làm việc, như dấu chỉ về sự hiện diện của Thiên Chúa. Hang đá nói rằng Thiên Chúa hiện diện trong cuộc sống cụ thể của chúng ta.

Sáng thứ Tư 18/12, đã có khoảng 7000 tín hữu tham dự buổi yết kiến Đức Thánh Cha tại đại thính đường Phaolô VI. Còn đúng một tuần nữa là lễ Giáng sinh nên Đức Thánh Cha đã dành bài giáo lý trong buổi tiếp kiến chung này để chuẩn bị cho các tín hữu đón mừng Chúa Giáng sinh.

“Tôi đang chuẩn bị cho sự chào đời của “Đấng được mừng đón” như thế nào?!

Đức Thánh Cha bắt đầu bài huấn dụ bằng một câu hỏi. Ngài nói: Một tuần nữa là đến lễ Giáng sinh. Trong những ngày này, trong khi vội vàng chuẩn bị cho ngày lễ, chúng ta có thể tự hỏi: Tôi đang chuẩn bị cho sự chào đời của “Đấng được mừng đón” như thế nào?” Và ngài trả lời: Có một cách thế đơn giản nhưng hữu hiệu để chuẩn bị, đó là làm hang đá. Năm nay, tôi cũng chuẩn bị theo cách này: tôi đã đi Greccio, nơi thánh Phanxicô đã làm hang đá đầu tiên với dân chúng ở đó. Và tôi đã viết một tông thư để nhắc lại ý nghĩa của truyền thống này, hang đá có ý nghĩa gì trong mùa Giáng sinh.

 Hãy mang Tin Mừng vào nơi chúng ta sống

Đức Thánh Cha nhận định rằng trong thực tế, hang đá “giống như một Tin Mừng sống động” (Tông thư Dấu chỉ tuyệt với, 1) và ngài mời gọi: hãy mang Tin Mừng vào nơi chúng ta sống: trong các gia đình, trường học, tại các nơi làm việc và sinh hoạt, trong các bệnh viện và các nhà dưỡng lão, tại các nhà tù và ở các quảng trường. Và ở đó, nơi chúng ta sống, nhắc chúng ta một điều thiết yếu: Thiên Chúa không mãi cứ vô hình ở trên trời cao, nhưng Người đã đến thế gian, đã làm người, một hài nhi. Thiên Chúa luôn gần gũi dân Người, nhưng khi nhập thể và chào đời, Người trở nên quá gần, rất gần, vô cùng gần.

 Làm hang đá là cử hành sự gần gũi của Thiên Chúa

Đức Thánh Cha giải thích ý nghĩa của việc làm hang đá: Làm hang đá là cử hành sự gần gũi của Thiên Chúa: là tái phám phá rằng Thiên Chúa là thật sự, cụ thể, sống động. Thiên Chúa không phải là một ông chủ xa cách hay một quan tòa cách biệt, nhưng Thiên Chúa là Tình yêu khiêm hạ, hạ mình xuống cho đến bằng với chúng ta. Hài nhi nằm trong hang đá trao chuyền cho chúng ta sự dịu dàng của Người. Một số tượng nhỏ diễn tả “Chúa Hài đồng” với đôi tay mở rộng, để nói với chúng ta rằng Thiên Chúa đã đến để ôm lấy nhân loại chúng ta. Do đó, thật là đẹp khi đứng trước hang đá và ở đó, phó thác cho Chúa cuộc sống, nói với người về những con người và hòan cảnh mà chúng ta đã mang trong lòng, cùng với Người làm một tổng kết của năm đang kết thúc, chia sẻ những chờ mong và âu lo.

Chúng ta có thể mời Thánh Gia đến nhà của chúng ta

Gần bên Chúa Giêsu chúng ta nhìn thấy Đức Mẹ và thánh Giuse. Chúng ta có thể tưởng tượng ra các ý nghĩ và tình cảm của các ngài khi Hài nhi sinh ra trong nghèo khó: vui mừng nhưng cũng sợ hãi. Và chúng ta cũng có thể mời Thánh Gia đến nhà của chúng ta, nơi có niềm vui và lo âu, nơi mỗi ngày chúng ta thức dậy, ăn uống và mơ ước, gần gũi với những người thân yêu nhất. Hang đá là một Tin Mừng của gia đình. Từ hang đá, nghĩa đen của nó là “máng cỏ”, trong khi thành phố của hang đá, Bêlem, có nghĩa là “nhà của bánh”. Máng cỏ và nhà của bánh: hang đá mà chúng ta làm ở nhà của mình, nơi chúng ta chia sẻ cơm bánh và tình yêu thương, nhắc chúng ta rằng Chúa Giêsu là lương thực, bánh sự sống (x. Ga 6,34). Chính Người nuôi dưỡng tình yêu của chúng ta, chính Người ban cho gia đình chúng ta sức mạnh để tiến bước và tha thứ.

Hang đá mời gọi dừng lại, suy chiêm

Đức Thánh Cha nói thêm: Hang đá còn trao cho chúng ta một giáo huấn khác về cuộc sống. Trong những nhịp sống đôi khi điên cuồng ngày nay, nó là một lời mời gọi suy chiêm. Nó nhắc chúng ta về tầm quan trọng của việc dừng lại. Bởi vì chỉ khi chúng ta biết suy tư chúng ta mới có thể đón nhận những gì là quan trọng trong cuộc sống. Chỉ khi chúng ta để cho những ồn ào của thế giới ở bên ngoài ngôi nhà của chúng ta, chúng ta mở lòng mình ra để lắng nghe Thiên Chúa, Đấng nói trong sự thinh lặng.

Hang đá là thực tế, là cảnh thực của mỗi gia đình

Đức Thánh Cha chia sẻ: Hôm qua, người ta tặng tôi một tấm ảnh nhỏ về một hang đá đặc biệt có tên “Chúng ta hãy để cho bà mẹ nghỉ ngơi”. Có Đức Mẹ đang ngủ và thánh Giuse ở đó với Hài nhi và đang giỗ cho Hài nhi ngủ. Bao nhiêu người trong anh chị em, vợ chồng phải chia nhau thức đêm bởi vì đức con nhỏ khóc, khóc rồi lại khóc… “Chúng ta hãy để cho bà mẹ nghỉ ngơi”: sự dịu dàng của một gia đình, của một cuộc hôn nhân. Chúng ta sống trong một xã hội vội vã, luôn luôn chạy, nhìn thấy và quên đi nhiều thứ, điên cuồng theo đuổi những của cải vật chất. Hang đá giáng sinh, trong sự đơn giản thực sự của nó, nhắc nhở chúng ta rằng trong cuộc sống, số lượng vật chất không quan trọng, nhưng chính là chất lượng của tình cảm. Và, trong khi thu hút ánh nhìn của chúng ta vào Thiên Chúa, nghèo khó về vật chất nhưng giàu tình yêu, nó nhắc nhở chúng ta về những gì là thiết yếu.

Hang đá còn mang ý nghĩa của hòa bình

Hang đá thì hiện tại hơn bao giờ hết, trong khi mỗi ngày có rất nhiều vũ khí và rất nhiều hình ảnh bạo lực được tạo ra trên thế giới, đi vào trong các đôi mắt và trái tim. Ngược lại, hang đá là một hình ảnh thủ công của hòa bình. Trong khi sự hủy hoại của con người là mỗi người đi theo con đường riêng của họ, thì trong hang đá, mọi người đều quy hướng về phía Chúa Giêsu, Hoàng tử hòa bình trong đêm của thế giới. Xung quanh Người, trong hang động được chiếu sáng bởi sự dịu dàng, chúng ta tìm thấy sự hài hòa. Ở đó, chúng ta thấy những người rất khác nhau: các đạo sĩ và các mục đồng, các vua và người nghèo, những trẻ em và người già. Và cũng có sự hài hòa giữa con người và công trình sáng tạo, như được gợi lên bởi sự hiện diện của con bò và con lừa và cảnh quan thiên nhiên.

1576661954901.JPG

Chúa Giêsu đến trong cuộc sống cụ thể của chúng ta

Cuối cùng, Đức Thánh Cha nói đến một giáo huấn khác cũng được rút ra từ ý nghĩa của hang đá. Đức Thánh Cha nói: Chúng ta nhìn thấy những khung cảnh hàng ngày: các mục đồng với các con cừu, những người thợ rèn đập sắt, những người thợ làm bánh mì; đôi khi chúng ta thêm vào các cảnh quan và tình huống của miền đất nơi chúng ta sống. Thật là đúng, vì hang đá nhắc chúng ta rằng Chúa Giêsu đến trong cuộc sống cụ thể của chúng ta. Đây là điều quan trọng. Làm một hang đá nhỏ ở nhà, bởi vì nó nhắc rằng Thiên Chúa đã đến với chúng ta, đã sinh ra giữa chúng ta, đồng hành với chúng ta trong cuộc sống, là người như chúng ta, làm người vì chúng ta. Trong cuộc sống mọi ngày, chúng ta không còn cô đơn nữa, Thiên Chúa ở với chúng ta. Người không thay đổi các sự việc một cách ma thuật nhưng nếu chúng ta đón nhận Người, mọi sự có thể thay đổi.

Cơ hội mời Chúa Giêsu vào trong cuộc sống

Tôi chúc anh chị em khi làm hang đá sẽ là cơ hội mời Chúa Giêsu vào trong cuộc sống. Khi chúng ta làm hang đá ở nhà, như là mở cửa và nói: “Chúa Giêsu,xin mời vào!”, là làm cho sự gần gũi này trở nên cụ thể, làm cho lời mời Chúa Giêsu đến trong cuộc sống của chúng ta. Bởi vì nếu Người hiện diện trong cuộc sống của chúng ta, cuộc sống sẽ tái sinh. Và nếu cuộc sống được tái sinh thì đó thật sự là Giáng sinh. Chúc mừng Giáng sinh tất cả anh chị em!

Hồng Thủy – Vatican

18 tháng mười hai 2019, 13:42

Chúa Giêsu sinh ra vào năm nào?

Giáo hội đang chuẩn bị mừng kỷ niệm hai ngàn năm Chúa Giêsu giáng sinh. Thế nhưng có người quả quyết rằng Chúa Giêsu không phải sinh vào năm 1, nhưng là trước đó mấy năm. Chuyện thực hư như thế nào?

Chúng ta vừa mới bắt đầu một năm mới, và bóc một quyển lịch mới. Thường các quyển lịch bày bán ở Việt Nam đều có ghi dương lịch và âm lịch. Chúng ta thường nghe giải thích rằng dương lịch là lịch dựa theo mặt trời, còn âm lịch thì dựa theo mặt trăng. Và không thiếu lần để cho giản tiện hơn, người ta gọi dương lịch là lịch tây, còn âm lịch là lịch ta. Tính theo dương lịch thì năm nay là 1996, còn âm lịch là Bính tý. Đối với âm lịch, chúng ta biết rằng cách tính dựa trên sự phối hợp giữa thập can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) với thập nhị chi (Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi). Do sự phối hợp giữa các can với các chi ta sẽ có một chu kỳ 60 năm. Thí dụ năm Bính tý lần trước cách đây 60 năm, vào năm 1936. Còn năm dương lịch thì căn cứ vào đâu? Khởi đầu từ đâu mà chúng ta tính ra 1996 năm? Người Kitô hữu biết rằng tính từ năm Chúa Cứu thế giáng sinh, khởi đầu một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên Kitô, tuy rằng ở Việt Nam để tránh né mầu sắc tôn giáo người ta gọi là “công nguyên”.

Nhưng mà vừa khi Chúa Giêsu mới sinh ra thì thiên hạ bắt đầu thay đổi niên lịch ngay hay sao?

Làm gì có chuyện đó được! Chúa Giêsu không sinh ra như một hoàng tử trong cung điện! Người chỉ là một hài nhi con nhà nghèo ở Bêlem một thôn nhỏ bé chẳng có tiếng tăm gì. Phúc âm không cho biết là Chúa Giêsu sinh vào năm nào. Chỉ có vài dấu chỉ để từ đó suy đoán thôi, thí dụ như vào thời Vua Hêrôđê cai trị miền Giuđê (Luca 1,5), cuộc kiểm tra dân số dưới thời hoàng đế Augustô (Luca 2,1-2). Có người còn muốn đi xa hơn nữa khi họ muốn gắn liền ngôi sao xuất hiện cho các chiêm tinh bên Đông (Mt 2,1-2) với hiện tượng sao chổi xuất hiện. Tuy nhiên, xem ra các thánh sử không đặt nặng thời điểm của Chúa Giêsu sinh ra cho bằng thời điểm Ngài bắt đầu cuộc đời công khai. Thực vậy, ở đầu chương 3, thánh Luca cho biết rằng Chúa Giêsu bắt đầu thi hành sứ mạng “vào năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Tibêriô”, và ở câu 23 Luca thêm rằng lúc đó Ngài trạc ba mươi tuổi.

Vậy là quá rõ rồi, còn muốn gì hơn nữa?

Dĩ nhiên rồi: chỉ cần biết hoàng đế Tibêriô lên ngôi năm nào, rồi đi ngược lại 15 năm là biết được năm sinh của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, trước khi đi vào chi tiết chúng ta nên ghi nhận cách tính niên lịch thời đó. Thánh Luca tính theo triều đại của một hoàng đế Rôma, một phương pháp khá thịnh hành kể cả tại Việt Nam trước đây, thí dụ cho đến thế kỷ XX này, các cụ còn tính niên lịch theo triều của nhà Vua; rồi sau khi chế độ quân chủ cáo chung, người ta lại tính niên hiệu từ ngày thành lập nền Cộng hoà (Việt Nam Cộng hoà năm thứ nhất, thứ hai vv). Trong những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, các tín hữu sinh sống trong lãnh thổ của Đế quốc Rôma nên cũng theo cách tính niên lịch của Rôma. Người Rôma có hai niên lịch. Một đàng là dựa theo năm thành lập thành phố Rôma (ab Urbe condita), tương đương với năm 753 trước công nguyên; cách thứ hai là dựa theo các quan Tổng tài (consul) và hoàng đế. Sang đến thế kỷ III lại nảy ra một cách tính thứ ba nữa, đó là tính từ năm hoàng đế Đioclêxianô lên ngôi. Thực ra thì lúc đầu lịch này chỉ phổ biến ở miền Cận đông, nhưng mà dần dần nó cũng lan sang các vùng khác nữa, và trở thành khá phổ thông kể cả trong Giáo hội. Tiếc rằng hoàng đế Đioclexianô là ông vua bắt đạo dữ nhất, cho nên nhiều người tín hữu không muốn nhắc tới tên của hoàng đế. Đó là lý do đưa tới việc nghĩ tới một niên lịch mới, nhất là kể từ khi Kitô giáo không còn bị bách hại nữa nhưng trở thành quốc giáo. Sáng kiến này thành hình vào thế kỷ VI (khoảng năm 533) ở Rôma, khi một tu sĩ tên là Điônixiô bắt đầu tính niên lịch theo kỷ nguyên Kitô, nghĩa là khởi đầu từ khi Chúa Giêsu sinh ra. Nhưng mà Chúa sinh ra năm nào? Lấy gì để làm mốc? Thực ra chúng ta không còn giữ được tài liệu làm việc của tu sĩ Điônixiô, nhưng đại khái có thể hình dung cách lập luận như thế này. Như đã nói trên đây, thánh Luca cho biết Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ vào năm thứ 15 của triều Tibêriô, và lúc ấy Chúa khoảng 30 tuổi. Như vậy là Chúa sinh ra vào năm thứ 15 trước khi Tibêriô lên ngôi. Do đó, có thể lấy mốc điểm là năm lên ngôi của hoàng đế Tibêriô.

Hoàng đế Tibêriô lên ngôi năm nào?

Hoàng đế Tibêriô kế vị hoàng đế Augustô vào ngày 19 tháng 8 năm 767 theo lịch của Rôma (nghĩa là tính từ khi thành lập thành phố Rôma). Năm thứ nhất của hoàng đế tính từ tháng giêng năm 768; trừ đi 15 năm thì ra năm 753. Như vậy Chúa Giêsu sinh ra vào ngày 25 tháng chạp năm 753 theo lịch Rôma. Kỷ nguyên Kitô (hay công nguyên) bắt đầu vào ngày 1 tháng giêng năm 754 của lịch Rôma.

Vì đâu mà người ta lại đưa ra giả thuyết là Chúa Giêsu sinh ra vài năm trước công nguyên?

Lịch Rôma không đơn giản như ta nghĩ, vì thế mà có nhiều vấn nạn đặt ra cho cách tính của tu sĩ Điônixiô, ngay từ thế kỷ VIII (do tu sĩ Bêđa bên Anh) và vào thế kỷ IX (do tu sĩ Reginô Prum bên Đức). Vấn nạn quan trọng nhất là vua Hêrôđê qua đời vào năm 750 của lịch Rôma, tương đương với năm thứ 4 trước công nguyên. Như vậy là tính sai rồi: Chúa Giêsu phải sinh ra trước khi vua Herôt qua đời chứ, bởi vì vua đã truyền sát hại các hài nhi ở Bêlem từ 2 tuổi trở xuống mà! Do đó, tối thiểu thì Chúa Giêsu phải sinh ra trước năm thứ 4 trước công nguyên. Nói cách khác, tu sĩ Điônixiô tính sai khoảng 4 hay 6 năm gì đó. Sự sai lệch đó có thể giải thích được, ở chỗ tu sĩ Điônixiô có lẽ không lưu ý tới cách tính lịch của Rôma và lối hành văn của thánh Luca. 1/ Xét về cách tính lịch của Rôma, thì nên biết rằng có hai lối để tính khởi điểm của triều hoàng đế Tibêriô. Lối tính thông thường hơn cả là bắt đầu kể từ khi vua Augustô băng hà và Tibêriô lên kế vị, vào năm 767 như đã nói trên. Nhưng mà có nơi khác thì niên hiệu khởi đầu từ khi ông Tibêriô được đặt làm phụ quyền nhiếp chính, nghĩa là 2 năm trước đó. Như vậy là đã có thể sai lệch 2 năm rồi. 2/ Một lý do khác đưa tới sự sai lệch là thánh Luca nói rằng Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ vào trạc 30 tuổi. Ta nên lưu ý là thánh sử không quả quyết rằng lúc ấy Chúa vừa tròn 30 tuổi, mà chỉ trạc 30: như vậy thì có thể là chưa tới 30 (27-28) mà cũng có thể là hơn một tí (32-33 gì đó). Một số nhà chú giải nhận xét rằng số 30 chỉ có tính cách tượng trưng mà thôi. Theo họ, Cựu ước nói tới việc ông Đavit được phong vương vào lúc 30 tuổi (2 Sam 5,4); ông Edêkiel nhân được ơn gọi ngôn sứ vào lúc 30 tuổi (Ed 1,1); ngoài ra sách Dân số chương 4 đòi hỏi tối thiểu phải được 30 tuổi thì mới có thể được tấn phong tư tế. Do đó, rất có thể thánh Luca không có ý kể lại tuổi thật của Chúa Giêsu cho bằng nêu bật sứ vụ công khai của ngài mang tính cách của một vua, ngôn sứ và tư tế.

Như vậy, nếu muốn sát với lịch sử thì phải mừng 2000 năm Chúa giáng sinh vào năm 1995-1996, chứ đâu cần phải chờ tới năm 2000?

Dưới khía cạnh toán học, thì quả đúng như vậy, bởi vì tu sĩ Điônixiô đã tính trật đi mất 5-6 năm. Tuy nhiên, chúng ta không mừng một hiện tượng thiên văn (tựa như 2 ngàn năm sao chổi xuất hiện) nhưng mà chúng ta cử hành một biến cố lịch sử. Biến cố Chúa giáng sinh đã khai mạc một kỷ nguyên mới trong lịch sử của loài người. Biến cố ấy đã trở thành trung tâm điểm của lịch sử nhân loại: tất cả các biến cố khác đều quy chiếu vào đó, nghĩa là dựa vào đó mà tính, hoặc là trước khi đức Giêsu sinh ra hay là sau khi đức Giêsu sinh ra. Sở dĩ các Kitô hữu đặt biến cố đức Giêsu sinh ra làm trung tâm điểm của lịch sử là bởi vì họ tin rằng đức Giêsu không phải chỉ là một vĩ nhân xuất chúng, nhưng là Thiên Chúa đã làm người, đi vào lịch sử của con người, chia sẻ kiếp sống của con người, để rồi dẫn đưa con người về với Thiên Chúa.

Nhưng đó là quan điểm của các Kitô hữu; còn các tín đồ của các tôn giáo khác thì sao?

Ở Việt Nam, chúng ta biết là các Phật tử sử dụng một niên lịch riêng (gọi là Phật lịch) tính từ Phật đản. Nếu tôi không lầm thì năm nay là 2540 PL. Các tín đồ Hồi giáo cũng có niên lịch riêng, khởi hành từ việc ông Mohamed phải bỏ Mecca để đi Medina, năm 622. Dù sao, thì ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sử dụng niên lịch theo kỷ nguyên Kitô. Như đã nói ở đầu, để khỏi đụng chạm, người ta gọi là “công nguyên”. Trên thực tế, việc áp dụng đã được tiến hành tuần tự: vào cuối thế kỷ VI tại Italia, vào thế kỷ VII tại Anh, Tâyban-nha, Pháp. Phải chờ đến thế kỷ X thì mới phổ cập khắp Âu châu. Luôn tiện cũng nên biết là vì muốn gắn liền biến cố Chúa giáng sinh với thời gian, cho nên vào thời Trung cổ có vài nơi bắt đầu năm mới vào ngày 25 tháng chạp hay là 25 tháng 3. Từ thế kỷ XVI trở đi, tục lệ khởi sự đầu năm vào ngày 1/1 mới thành phổ quát.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

* Tôi lại không biết Đức Trinh Nữ Rất Thánh đã chọn tôi chỉ vì tôi là người dốt nát nhất hay sao? Nếu như đã tìm được một ai đó còn dốt nát hơn tôi, có lẽ Đức Mẹ đã chọn người ấy rồi. Đức Trinh Nữ Rất Thánh sử dụng tôi như một cây chổi. Quí vị sẽ làm gì với một cây chổi sau khi đã quét xong? Quí vị sẽ cất nó vào chỗ của nó, ở phía sau cánh cửa. (Thánh Bernadette)

* Làm sao chúng ta có thể cảm thấy nhu cầu chúng ta cần đến sự trợ giúp của Thiên Chúa, sự lệ thuộc của chúng ta vào Người, món nợ của chúng ta đối với Người, hoặc bản chất tặng ân Người ban cho chúng ta, nếu như chúng ta không nhận biết bản thân mình…. Đó là lý do nhiều người trong thời đại này (và trong tất cả các thời đại) đã trở nên vô thần, rối đạo, lạc đạo, bất trung với Giáo Hội…. Họ chưa từng cảm nghiệm được quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa, bởi vì họ chưa bao giờ nhận ra tình trạng yếu đuối và nhu cầu của chính bản thân họ. (Đấng đáng kính hồng y John Henry Newman)