Ai không từ bỏ tất cả của cải mình có, thì không thể làm môn đệ Ta

CHÚA NHẬT 23 THƯỜNG NIÊN, NĂM C – 08/09/19

Bài Ðọc I: Kn 9, 13-18 “Ai có thể suy tưởng được sự Thiên Chúa muốn”.

Trích sách Khôn Ngoan.

Ai trong loài người có thể biết được ý định của Thiên Chúa? Hay ai có thể suy tưởng được sự Thiên Chúa muốn? Vì những ý tưởng của loài hay chết thì mập mờ, và những dự định của chúng tôi đều không chắc chắn. Vì xác hay hư nát làm cho linh hồn ra nặng nề, và nhà bụi đất làm cho lý trí hay lo lắng nhiều điều ra nặng nề.

Chúng tôi ước lượng cách khó khăn các việc dưới đất, và khó nhọc tìm thấy những sự trước mắt. Còn những sự trên trời, nào ai khám phá ra được? Ai hiểu thấu Thánh ý của Chúa, nếu Chúa không ban sự khôn ngoan, và không sai Thánh Thần Chúa từ trời cao xuống. Như thế, mọi đường lối những kẻ ở dưới đất được sửa lại ngay thẳng, và loài người học biết những sự đẹp lòng Chúa. Vì, lạy Chúa, những ai sống đẹp lòng Chúa từ ban đầu, thì được ơn cứu độ nhờ sự khôn ngoan.Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 89, 3-4. 5-6. 12-13. 14 và 17 Thân lạy Chúa, Ngài là chỗ chúng con dung thân, từ đời nọ trải qua đời kia. (c. 1).

Xướng: 1) Thực ngàn năm ở trước thiên nhan, tựa hồ như ngày hôm qua đã khuất, như một đêm thức giấc cầm canh. Chúa khiến cho con người trở về bụi đất, Ngài phán: “Hãy trở về gốc, hỡi con người”. – Ðáp.

2) Chúa khiến họ trôi đi, họ như kẻ mơ màng buổi sáng, họ như cây cỏ mọc xanh tươi. Ban sáng cỏ nở hoa và xanh tốt, buổi chiều nó bị xén đi và nó héo khô. – Ðáp.

3) Xin dạy chúng con biết đếm ngày giờ, để chúng con luyện được lòng trí khôn ngoan. Lạy Chúa, xin trở lại, chớ còn để tới bao giờ? xin tỏ lòng xót thương tôi tớ của Ngài. – Ðáp.

4) Xin cho chúng con sớm được no phỉ ân tình của Chúa, để chúng con mừng rỡ hân hoan trọn đời sống chúng con. Xin cho chúng con được hưởng ân sủng Chúa là Thiên Chúa chúng con, sự nghiệp tay chúng con làm ra, xin Ngài củng cố, xin Ngài củng cố sự nghiệp tay chúng con làm ra. – Ðáp.

Bài Ðọc II: Plm 9b-10. 12-17 “Con hãy tiếp nhận nó không phải như một người nô lệ, nhưng như một người anh em rất thân mến”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gởi cho Philêmon.

Con thân mến, Phaolô già nua, và hiện đang bị cầm tù vì Ðức Giêsu Kitô, cha nài xin con cho Ônêsimô, đứa con cha đã sinh ra trong xiềng xích.

Cha trao nó lại cho con. Phần con, con hãy đón nhận nó như ruột thịt của cha. Cha cũng muốn giữ nó lại để thay con mà giúp đỡ cha trong lúc cha bị xiềng xích vì Tin Mừng. Nhưng vì chưa biết ý con, nên cha không muốn làm gì, để việc nghĩa con làm là một việc tự ý, chớ không vì ép buộc. Vì biết đâu nó xa con một thời gian để rồi con sẽ tiếp nhận muôn đời, không phải như một người nô lệ, nhưng thay vì nô lệ, thì như một người anh em rất thân mến, đặc biệt đối với cha, huống chi là đối với con, về phần xác cũng như trong Chúa. Vậy nếu con nhận cha là bạn hữu, thì xin con hãy đón nhận nó như chính mình cha vậy.Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Ga 10, 27 Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Con chiên Ta thì nghe Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta”. – Alleluia.

Phúc Âm: Lc 14, 25-33 “Ai không từ bỏ tất cả của cải mình có, thì không thể làm môn đệ Ta”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, có nhiều đám đông cùng đi với Chúa Giêsu, Người ngoảnh lại bảo họ rằng: “Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta. Còn ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta.

“Có ai trong các ngươi muốn xây tháp mà trước tiên không ngồi tính toán phí tổn cần thiết, xem có đủ để hoàn tất không? Kẻo đặt móng rồi mà không thể hoàn tất, thì mọi người xem thấy sẽ chế giễu người đó rằng: ‘Tên này khởi sự xây cất mà không hoàn thành nổi’.

“Hoặc có vua nào sắp đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên không ngồi suy nghĩ xem mình có thể đem mười ngàn quân ra đương đầu với đối phương dẫn hai mươi ngàn quân tiến đánh mình chăng? Bằng chẳng nổi, thì khi đối phương còn ở xa, vua ấy sai một phái đoàn đến cầu hoà. Cũng thế, bất kỳ ai trong các ngươi không từ bỏ tất cả của cải mình có, thì không thể làm môn đệ Ta”.

SUY NIỆM

CHỌN LỰA THEO ĐỨC GIÊSU

Triết gia Aristotle nói: “Sự ưu việt không phải là tình cờ. Nó luôn là kết quả của ý định vững vàng, nỗ lực thực sự, và hành động thông minh. Nó cho thấy sự lựa chọn sáng suốt giữa nhiều lựa chọn. Chính lựa chọn, chứ không phải sự tình cờ, quyết định vận mệnh của bạn.”

Chọn lựa là điều kiện mà Đức Giêsu nêu lên đối với những ai muốn theo Người làm môn đệ. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy, có rất nhiều người cùng đi với Đức Giêsu và Người mời gọi họ rằng: “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.” Trở thành môn đệ Đức Giêsu là một đòi hỏi hết sức gắt gao, phải mất rất nhiều công sức. Do đó, cần phải đắn đo suy nghĩ, tính toán kỹ lưỡng xem mình có đủ nghị lực để theo Người hay không. Điều này đòi buộc một thái độ quyết liệt, phải biết đặt Người lên trên hết mọi sự, trên của cải vật chất, trên cả những người thân yêu hoặc ngay cả mạng sống.

Cuộc sống là sự lựa chọn, mà chọn lựa là từ bỏ. Từ bỏ làm ta sợ hãi và luyến tiếc, cảm thấy mất mát và tổn thương. Sự cắt tỉa nào mà lại không gây đau đớn và xót xa? Tựa như việc phải cắt bỏ một phần cơ thể để giữ lấy mạng sống, có những điều tốt cần phải bỏ để chọn lựa một điều tốt hơn như: chọn trường học, nghề nghiệp, bậc sống. Nhưng nếu từ bỏ vì yêu thương ta sẽ không cảm thấy thiệt thòi, tiếc xót. Từ bỏ vì yêu thương sẽ làm ta cảm thấy nhẹ nhàng và hạnh phúc hơn.

Lạy Chúa, giữa những cơn cám dỗ trong cuộc sống đời thường, xin cho con đủ sức chống trả và sáng suốt chọn Chúa là cùng đích mọi sự. Amen.

(Chấm nối chấm – Học Viện Đaminh)

Theo Chúa Giesu
“Ai không bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được”

Image may contain: 6 people

Một bạn trẻ hỏi rằng, tại sao tôi phải theo đạo Công giáo, đi đạo thì có được lợi ích gì? Câu hỏi này thường xẩy ra với nhiều người trẻ, họ bị chất vấn giữa cái lợi và cái mất khi phải theo đạo, mà con người ngày nay thường đề cao giá trị vật chất lên trên hàng đầu. Người ta đi tìm hạnh phúc, sự giàu có và hưởng thụ, chẳng ai dại gì bỏ đi tiền bạc, của cải, và quyền lợi những thứ mình đang có và sở hữu.
Câu chuyện của chàng thanh niên giàu trong Tin mừng có thể là câu trả lời cho tất cả chúng ta lý do tại sao chúng ta đi theo Chúa. Một hôm anh ta đến gặp Chúa Giêsu và hỏi: “Tôi phải làm gì để được sống đời đời”. Chúa bảo: “Hãy bán hết của cải, phân phát cho người nghèo, rồi anh hãy đi theo tôi”. Anh ta buồn rầu, thất vọng và bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải. Mặc dù, anh ta biết chỉ có Chúa Giêsu mới ban cho anh ta hạnh phúc đời đời, nhưng của cải đã kéo ghì và chiếm lấy linh hồn anh ta, anh ta khước từ đi theo Chúa. Cũng như đám đông người theo Chúa trong Tin mừng hôm nay, họ cũng đi theo Chúa. Họ muốn đi tìm chân lý và sự sống đời đời, đó là động lực thúc đẩy để họ bước theo Chúa. Mục đích của họ rất rõ ràng, nhưng khi thực hiện được mục đích đó thì con người dễ bị buông xuôi để chạy theo phú quý, vinh hoa của thế gian, mà quên đi giá trị trường tồn vĩnh cửu. Đến khi nghe Chúa Giê-su nói:” Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.”, thì họ bỏ đi.
Lời Chúa nói thường đi ngược lại với ý nghĩ và hành động của con người. Tại sao tôi phải hy sinh và từ bỏ.? Lời kêu gọi hy sinh và từ bỏ để vác thập giá mình có ý nghĩa đối với chúng ta?. Từ kinh nghiệm cuộc sống và qua những biến cố xẩy ra trong đời sống hằng ngày, chúng ta sẽ rút ra điều gì khi Chúa Giêsu công bố trong Tin mừng hôm nay. Ngài bảo họ: “Ai đến với toi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được.”
Khởi đi từ đám đông, họ rất hăng hái đi theo Chúa Giêsu, nhiệt thành làm việc phục vụ tông đồ, nhưng sau đó họ đã thối lui và bỏ cuộc. Họ bỏ cuộc vì họ không đạt được ước vọng và mong muốn. Ở đời chẳng ai muốn mình thua thiệt và mất mát. Chẳng ai bỏ hết mọi sự để làm phúc đức và cho người khác, nếu như họ không nhận được từ cái khác. Chính vì thế, Chúa Giê-su cần có những con người dám dấn thân và dứt khoát hơn, người theo Chúa cần phải đi ra cái tôi chật hẹp và ích kỷ của con người, họ cần có tầm nhìn một thế giới rộng lớn hơn, thế giới của những con người biết siêu thoát trước những cám dỗ của thế gian, thì mới có thể là người mục tử chính hiệu.
Từ bỏ là không bám víu vào cái bụi trần, những thứ làm cho con người xa lìa Thiên Chúa, ta chỉ biết cái thực tại trước mắt mà quên đi cái vĩnh cửu trường tồn. Những thánh nhân lỗi lạc luôn là những người sống thanh cao, siêu thoát hướng về chân thiện mỹ, bởi vì họ nhận ra giá trị đích thực không phải là những gì thuộc về thế gian ban tặng. Vì không có cái gì của thế gian là trường tồn vĩnh cửu, nó sẽ tan biến theo thời gian, đó là quy luật của sinh tồn. Cho nên, vác thập giá đi theo Chúa cũng có nghĩa là chấp nhận từ bỏ những cái không cần thiết, những thứ có thể làm cho ta mất đức tin. Thập giá của Chúa Giê-su là biểu tượng của đau khổ và vinh quang. Ai muốn được vinh quang thì phải đi qua con đường của thập giá.

Image may contain: one or more people

Thập giá đời thường có thể là gánh nặng của kiếp nghèo, ốm đau bệnh tật, nỗi đau mất đi người thân, bị kẻ gian ác đàn áp, vết thương của sự hận thù.., mà đời người, ai cũng phải trải qua. Cũng vậy, nếu tôi đi theo Chúa, làm môn đệ của Chúa Giêsu, thì tôi sẽ chấp nhận con đường của thập giá, bắt chước, học hỏi và làm theo lời của Ngài, đó là con đường của Chúa Giêsu.
Tóm lại, điều quan trọng nhất lời giáo huấn của Chúa Giêsu là dành cho những ai đi tìm chân lý và sự sống vĩnh cửu nơi Thiên Chúa. Giống như nhà vua phải biết tính toán để đi giao chiến với vua khác, phải đương đầu với đối phương. Nếu không đủ sức thì sẽ thua.
Lạy Chúa, cuộc sống thế gian có biết bao thứ cám dỗ đang rình rập và chiếm lấy linh hồn của chúng con vào những đam mê, lạc thú, giàu có, tiền bạc và danh vọng, đang làm chúng con chạy theo và kiếm tìm, thì xin Chúa cho chúng con biết nhận ra chính mình để thức tỉnh, từ bỏ, và chấp nhận vác thập giá hằng ngày đi theo Chúa. Cho dẫu chúng con có phải chịu đau đớn và thua thiệt, nhưng có Chúa nâng đỡ và dẫn dắt chúng con mọi nẻo đường, vì Chúa là ánh sáng, con đường, sự thật và sự sống cho chúng con đạt tới hạnh phúc mai sau. Amen.
Lm. John Nguyễn.

Tại sao gọi Đức Thánh Cha là Giáo hoàng? 

Hôm thứ năm vừa qua giáp 2 năm ngày đức Bênêđictô XVI đắc cử Giáo hoàng. Chức vụ chính thức của ngài là gì: đức giáo hoàng hay đức thánh cha?

Thỉnh thoảng ở Việt Nam, có người đặt lại vấn đề: nên gọi “Giáo hoàng hay Giáo chủ?”, chứ không phải là: “đức giáo hoàng hay đức thánh cha”. Chắc chị còn trẻ, cho nên không còn được nghe các danh xưng được lưu hành cách đây 50 năm về trước, đó là “Đức Giáo Tông và Đức Thánh Phapha”. Tôi xin để dành việc tranh luận về Giáo hoàng và Giáo chủ cho những nhà chuyên môn ngữ học trong tiếng Việt, và ở đây tôi chỉ tìm hiểu ý nghĩa các danh hiệu trong tiếng Latinh, hoặc đối chiếu với tiếng Ý khi cần. Theo tôi nghĩ, trong các danh hiệu thân thương hơn cả, đứng hàng đầu là Papa, mà trước đây được phiên âm sang tiếng Việt là đức thánh phapha.

“Papa” là gì? có phải là “bố” không?

Tùy theo cách sử dụng ở mỗi nơi mỗi thời. Trong nguyên gốc Hy-lạp, pappas có nghĩa là cha. Tiếng La-tinh cũng vậy. Đến khi dịch sang các ngôn ngữ khác thì ta thấy không còn trùng hợp nữa. Thí dụ trong tiếng Pháp người ta phân biệt giữa “papa” được dành để gọi “bố, ba”, còn chức vụ giáo hoàng được dịch ra “pape”; đặc biệt là trong tiếng Ý, tuy cùng viết là “papa”, nhưng có hai đánh dấu khác nhau: pápa nếu là giáo hoàng, papá nếu là bố. Khi sang tiếng Anh thì không còn sự liên hệ nữa, bởi vì bố là “daddy” còn giáo hoàng là “pope”. Mặt khác, có nhiều học giả đã giải thích rằng papa trong tiếng La-tinh không phải là một từ đơn thuần mà chỉ là viết tắt của một thuật ngữ dài dòng hơn, tựa như SIDA là viết tắt của 4 từ khác nhau trong tiếng Pháp, còn trong tiếng Anh là AIDS. Vì thế mà đôi khi chính các giáo hoàng cũng ký tên mình kèm theo hai chữ viết tắt “pp.”

Như vậy Papa viết tắt của chữ gì?

Có đến ba cách giải thích. Một, viết tắt của 2 âm đầu pastor pastorum (mục tử của các mục tử). Hai, viết tắt của hai âm đầu pater patris (cha của các người cha, cha cả). Ba, viết tắt một danh hiệu dài hơn nữa Petri Apostoli Potestatem Agens (Giữ quyền hành của Phêrô Tông đồ). Theo tôi nghĩ, lối giải thích thứ ba quá phức tạp. Thiết tưởng nên trở về với nguồn gốc Hy-lạp pappas có nghĩa là “cha”. Nên biết là các thượng phụ chính thống bên Ai cập cũng mang tước hiệu papa.

Trước đây, trong tiếng Việt, người ta dịch Papa là Đức Thánh Phapha, ngày nay dịch là Đức Thánh Cha phải không?

Không phải, Đức Thánh Cha dịch từ Santo Padre tiếng Ý, (tương đương với Saint Père tiếng Pháp và Holy Father tiếng Anh). Như chị thấy, trong các tiếng châu Âu chỉ có 2 từ, còn sang tiếng Việt thì thêm tiếng “Đức” ở đầu để tỏ lòng tôn kính. Dù sao, cần phải phân biệt hai yếu tố: “Cha” và “Thánh”. Cha là một từ ngữ được áp dụng cho các vị mục tử ngay từ cổ thời, trước là cho các giám mục thừa kế các thánh tông đồ, rồi đến các linh mục. Các vị đã sinh thành dưỡng dục chúng ta trong đời sống thiêng liêng bằng lời giảng và các bí tích. Bên Á Đông, ngoài các “dưỡng phụ”, chúng ta còn nghe nói đến các “sư phụ” nữa. Còn tiếng Thánh thì phức tạp hơn. Theo các sử gia, biệt hiệu “thánh” được gán cho ngài không phải vì tôn kính đức độ (kiểu như “Đức” trong tiếng Việt: Đức Phật, Đức Khổng), nhưng chỉ là một tước hiệu đã được các hoàng đế Rôma sử dụng từ xưa. Điều này càng rõ rệt hơn nữa ở một tước hiệu chưa bao giờ dịch ra tiếng Việt: Sua Santità (Ý), Sa Sainteté (Pháp), His Holiness (Anh), một lối xưng hô dành cho các hoàng đế Rôma (đại khái cũng tương đương với từ “Thánh Thượng” trong tiếng Việt, dành cho nhà vua). Nên biết là các thượng phụ Chính thống giáo cũng được gọi là “Sua Santità”.

Danh hiệu “Giáo hoàng” có nghĩa là Vua chúa hoàng đế không?

Không có danh hiệu nào chính thức tương đương với chức vụ “Vua” hết. Theo tôi nghĩ, có lẽ tiếng “Giáo hoàng” dịch từ tiếng Pháp “Souverain Pontife”. Nhưng mà ở đây Souverain không có nghĩa là ông hoàng, nhưng là “chóp đỉnh”. Thực vậy, khi truy sang tiếng La-tinh, ta thấy chức vụ này được gọi là Summus Pontifex (Chủ tế tối cao), một tước hiệu xưa mà các hoàng đế Rôma dùng vì họ tự xưng là “Giáo chủ tối cao”, bởi vì cũng như tại Việt Nam, trước đây các vua cũng chủ sự lễ tế trời. Khi đế quốc Rôma trở lại Kitô giáo, các hoàng đế trao lại chức vụ “chủ tế tối cao” cho vị lãnh đạo của Giáo hội, và chỉ giữ lại cho mình quyền cai quản chính trị mà thôi. Như vậy, tước hiệu này bắt nguồn từ tôn giáo Rôma cổ, chứ không phải từ Kinh thánh.

Có tước hiệu nào sát với Kinh Thánh không?

Nếu muốn đi sát với Kinh Thánh hơn cả, thì có lẽ chỉ có danh hiệu “người kế vị thánh Phêrô”. Thánh Phêrô được đặt làm đầu Hội thánh của Chúa Kitô, vì thế ai kế vị thánh Phêrô thì cũng làm đầu Hội thánh.

Lấy tiêu chuẩn gì để xác định người kế vị thánh Phêrô?

Tiêu chuẩn là giám mục Rôma. Các giáo phụ đã lập luận như thế này. Thánh Phêrô đã đến Rôma và điều khiển cộng đoàn Kitô hữu tại đây. Ngài đã chịu tử đạo ở Rôma. Vì thế Rôma là toà cuối cùng của ngài. Từ đó, các giám mục Rôma được nhìn nhận như là kế vị thánh Phêrô; hay nói ngược lại cũng vậy: ai được đặt vào chức vụ kế vị thánh Phêrô thì cũng làm giám mục Rôma. Trên thực tế, danh hiệu cổ điển nhất để gọi đức giáo hoàng là “giám mục Rôma” (Romanus Pontifex), như còn thấy trong các văn kiện chính thức của bộ giáo luật (tiếng Anh: Roman Pontiff; tiếng Pháp: Pontife Romain). Các giáo hoàng tiên khởi vẫn ký tên là giám mục Rôma; mãi đến năm 385, mới thêm tước hiệu papa.

Ngoài danh hiệu Đức Thánh Cha và Đức Giáo hoàng, còn có danh hiệu nào nữa không?

Như tôi đã nói, hai danh hiệu “Đức Thánh Cha” và “Đức Giáo hoàng” không hoàn toàn trùng hợp với các danh hiệu trong tiếng La-tinh. Dù sao, trong các danh hiệu, chúng ta nên phân biệt hai thứ ngôn ngữ: ngôn ngữ hành chánh và ngôn ngữ thần học. Ngôn ngữ hành chánh áp dụng cho các cơ cấu tổ chức hệ thống phẩm trật: ngôn ngữ này thay đổi tuỳ theo thời gian. Lúc nãy, tôi đã nói rằng Đức Thánh Cha kế vị thánh Phêrô trong cương vị là giám mục Rôma. Nhưng nếu hỏi thánh Phêrô: giám mục Rôma là gì, thì chắc là đương sự không trả lời nổi, bởi vì thời ấy chưa có sự phân chia tổ chức các giáo phận giáo xứ. Những cơ chế này được thành hình dần dần. Theo cơ chế hiện hành, đức thánh cha là giám mục của giáo phận Rôma (trên thực tế ngài giao việc quản trị cho hồng y Tổng đại diện), tổng giám mục giáo tỉnh Rôma, giáo chủ (primas) các giáo hội tại Italia. Theo ngôn ngữ thần học, ngài là người kế vị thánh Phêrô, thủ lãnh tập đoàn các giám mục. Trong nhiều văn kiện hành chánh, ngài cũng tự xưng là “tôi tớ các tôi tớ của Chúa” (servus servorum Dei). Nội dung của danh xưng này biểu lộ tính cách độc đáo của chức vụ trong Giáo hội theo tinh thần Phúc âm, đó là: ai lớn nhất thì phải trở nên kẻ làm đầy tớ theo gương Chúa Giêsu, Đấng đã đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ (Mt 20,26-27). Tuy nhiên, theo các sử gia, tước hiệu “tôi tớ các tôi tớ Thiên Chúa” được đức Grêgôriô Cả sử dụng trong khung cảnh biện bác, nhằm đối lại Thượng phụ Constantinople xưng mình là “Thượng phụ giáo hội công giáo”.

Đức Thánh Cha cũng được gọi là “Đại diện Chúa Kitô” phải không?

Đúng thế, ngài là đại diện hữu hình của Chúa Kitô để lãnh đạo Giáo hội. Nhưng xét theo nghĩa thần học, thì ngài không độc quyền làm đại diện Chúa Kitô, bởi vì các giám mục và các linh mục cũng là đại diện Chúa Kitô khi các ngài rao giảng Lời Chúa và ban bí tích. Thậm chí phải nói rằng tất cả các Kitô hữu đều là đại diện Chúa Kitô, theo nghĩa là họ đã mặc lấy Đức Kitô khi lãnh bí tích rửa tội; do đó họ hãy ăn ở làm sao để cho người đời nhận ra Đức Kitô đang nói năng hành động nơi họ.

Ngoài những danh hiệu dành cho chức vụ nói chung, mỗi Giáo hoàng lại còn chọn cho mình một danh hiệu riêng nữa, chẳng hạn như Gioan Phaolô, Bênêđictô. Tại sao vậy?

Việc đổi tên khi đắc cử làm giáo hoàng mang nhiều nguồn gốc. Có người muốn bắt chước các vua chúa khi lên ngôi thì lấy danh hiệu hoàng đế. Có người thì mang tên ngoại quốc hoặc tên ngoại giáo, vì thế khi lên ngôi thì chọn một danh hiệu từ một vị thánh Kitô giáo theo lối đọc tiếng La-tinh. Dù sao, việc chọn tên gọi trở thành tục lệ kể từ cuối thế kỷ X. Trong suốt 10 thế kỷ, các giáo hoàng chọn những tên đã có từ trước; mãi đến năm 1978, mới thêm một danh hiệu mới là Gioan Phaolô I, kế đến là Gioan Phaolô II. Trong số các tên hiệu, nhiều nhất là Gioan (23), rồi tới Grêgôriô và Bênêđictô (16), Clêmentê (14), Innocentê và Lêô (13), Piô được 12 vị, trong số này 3 vị thuộc thế kỷ XX. Nên biết là chỉ có 1 Phêrô và 6 Phaolô.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.