Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất

BÀI ĐỌC I: St 18, 1-10a và PHÚC ÂM: Lc 10, 38-42

CHÚA NHẬT 16 THƯỜNG NIÊN, NĂM C – 21/07/19

BÀI ĐỌC I: St 18, 1-10a

“Đối với Thiên Chúa có gì khó đâu. Ta trở lại thăm ông và Sara được một đứa con trai”.

Trích sách Sáng Thế.

Trong những ngày ấy, Chúa hiện ra cùng Abraham dưới chòm cây ở Mambrê, đang lúc ông ngồi ở cửa lều giữa trưa nóng bức. Ông ngước mắt lên thấy ba người nam xuất hiện, đứng gần ông: Vừa trông thấy, từ cửa lều, ông chạy ra đón các vị ấy, rồi sấp mình lạy và thưa rằng: “Lạy Chúa, nếu con được đẹp lòng Chúa, xin đừng bỏ đi qua, con xin lấy ít nước để các Đấng rửa chân, và nghỉ mát. Con xin đem ít bánh mời các Đấng dùng để lấy sức lại rồi sẽ đi: chính vì thế mà các Đấng đã ghé vào nhà con”. Các Đấng ấy nói: “Như ông đã ngỏ, xin cứ làm”.

Abraham liền vào lều, và bảo Sara rằng: “Hãy mau mau trộn ba đấu bột làm bánh nướng”. Còn ông, ông chạy đến đoàn bò bắt một con bê non hảo hạng, trao cho đầy tớ đem đi nấu. Ông lấy bơ sữa và thịt bê đã chín, dọn ra trước mặt các Đấng. Chính ông đứng hầu các Đấng dưới bóng cây.  Ăn xong, các Đấng hỏi Abraham rằng: “Sara bạn ông đâu?” Ông trả lời: “Kìa, bạn con ở trong lều”. Một Đấng nói tiếp: “Độ này sang năm, khi Ta trở lại thăm ông, thì cả hai vẫn còn mạnh khoẻ, và Sara bạn ông sẽ được một con trai”.Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 14, 2-3ab. 3cd-4ab. 5

Đáp: Lạy Chúa, ai được cư ngụ trên núi thánh của Chúa? (c. 1a)

Xướng:1) Người sống thanh liêm và thực thi công chính, và trong lòng suy nghĩ điều ngay, và lưỡi không bịa lời vu khống. – Đáp.

2) Người không làm ác hại bạn đồng liêu, cũng không làm nhục cho ai lân cận. Người coi rẻ đứa bất nhân, nhưng kính yêu những ai tôn sợ Chúa. – Đáp.

3) Người không xuất tiền đặt nợ thu lời, cũng không ăn hối lộ hại người hiền lương. Người thực thi những điều kể đó, thì muôn đời chẳng có lung lay. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Cl 1, 24-28

“Mầu nhiệm ẩn giấu từ muôn thuở, nhưng nay đã được tỏ bày cho các thánh”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê.

Anh em thân mến, hiện nay tôi vui sướng trong những đau khổ tôi phải chịu vì anh em. Tôi bổ khuyết nơi thân xác tôi những gì còn thiếu sót trong cuộc thương khó của Đức Kitô, để Hội thánh là thân xác của Người được nhờ. Tôi đã được trở thành người phục vụ Hội thánh theo sự an bài của Thiên Chúa, Đấng đã trao phó cho tôi rao giảng đầy đủ lời Chúa, đó là mầu nhiệm ẩn giấu từ muôn thuở qua muôn thế hệ, nhưng nay đã được tỏ bày cho các thánh của Người. Thiên Chúa muốn tỏ bày cho họ biết thế nào là sự phong phú vinh quang của mầu nhiệm nơi dân ngoại, tức là Đức Kitô trong anh em, Người là niềm hy vọng vinh quang. Tôi loan báo Người, cảnh tỉnh mọi người, đem tất cả khôn ngoan mà dạy dỗ mọi người, để làm cho mọi người nên hoàn hảo trong Đức Giêsu Kitô.Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Mt 4, 4b

Alleluia, alleluia! – Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra. – Alleluia.

 

PHÚC ÂM: Lc 10, 38-42

“Martha rước Người vào nhà mình. Maria đã chọn phần tốt nhất”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu vào một làng kia và có một phụ nữ tên là Martha rước Người vào nhà mình. Bà có người em gái tên là Maria ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người. Martha bận rộn với việc thết đãi khách. Bà đứng lại thưa Người rằng: “Lạy Thầy, em con để con hầu hạ một mình mà Thầy không quan tâm sao? Xin Thầy bảo em con giúp con với”. Nhưng Chúa đáp: “Martha, Martha, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện. Chỉ có một sự cần mà thôi: Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất”.

SUY NIỆM

LÀM VIỆC THEO Ý CHÚA

Trong cuốn Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá, Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã viết rằng: trong thời gian bị giam cầm, ngài quẫn trí hoang mang vì công việc tông đồ ngài đang thực hiện bị đình trệ, thì có tiếng Chúa nói lên từ đáy lòng và chỉ cho ngài biết rằng: chọn thánh ý Chúa, chứ không phải công việc của Chúa.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy cô Mácta muốn phục vụ Chúa thật nồng hậu bằng cách sửa soạn nhà cửa thật đẹp, chuẩn bị các bữa ăn thật ngon. Đó là những công việc tốt và đáng trân trọng, nhưng lại chưa đáp ứng trọn vẹn ý Chúa. Vì, Chúa muốn trước hết hãy tìm ý Chúa bằng cách lắng nghe lời Người. Chúa đã khen cô Maria biết chọn phần tốt nhất. Chọn phần tốt nhất không phải là phải chọn làm nhiều, nhưng là biết nghe, hiểu, và làm theo ý Chúa.

Image may contain: 2 people, people smiling, people sittingTư tưởng của Đức Hồng y thật phù hợp với bài học mà Chúa muốn dạy cho Mácta, Maria và tất cả chúng ta ngày nay. Nếu chúng ta cứ chăm chăm làm việc của Chúa thì quả thật, với sức người có hạn, chúng ta thật khó chu toàn giống như cô Mácta vậy. Rồi khi công việc gặp khó khăn, chúng ta bắt đầu quay sang tị nạnh và chỉ trích, làm mất đi ý nghĩa của việc phục vụ. Đây là một thực tế không hiếm gặp trong công việc phục vụ các hội đoàn và giáo xứ.

Như vậy, trong các việc phục vụ, trước hết chúng ta phải tìm hiểu ý Chúa, và sau đó, hãy làm việc vì Chúa chứ không làm vì bất kỳ một tư lợi nào. Thêm nữa, mẫu gương của cô Maria cũng gợi lên bài học về cách thức giải quyết những vấn đề trong đời sống thường ngày. Chúng ta hãy tự vấn lòng mình xem: Trong những lúc khó khăn, chúng ta có tìm ý Chúa để nhờ đó có thể vượt qua khó khăn, hay là tự mình đi tìm cách giải quyết theo cách của con người? Khi giáo dục con cái, chúng ta cậy dựa vào Chúa hay tự dựa vào sức mình?….

Lạy Chúa, chúng con chỉ là tôi tớ hèn mọn và yếu đuối. Xin Chúa giúp chúng con luôn ý thức rằng trước mọi khi bắt công việc, chúng con cần tự hỏi: Chúa muốn chúng con làm gì và làm như thế nào? Amen.

(Chấm nối chấm – Học Viện Đaminh)

Tại sao gọi linh mục

là “Đức Kitô thứ hai”?

Khi bàn về các linh mục, nhiều tác giả viết rằng: “linh mục là Đức Kitô thứ hai?”. Thuật ngữ ấy muốn nói lên điều gì? Các Kitô hữu có phải là “Đức Kitô thứ hai” không? 

Chúng ta phải chấp nhận rằng không phải lúc nào cũng có thể tìm được từ ngữ tương đương trong tiếng Việt để chuyển dịch nguyên gốc latinh, và điều này dễ gây ra hiểu lầm, chẳng hạn như khi dịch “cardinalis” là “hồng y”, người ta có cảm tưởng là các chú giúp lễ cũng như các cô dâu đều đáng gọi là hồng y, bởi vì họ mặc áo đỏ! Hơn nữa, ngay trong tiếng latinh, nhiều từ ngữ được sử dụng lâu đời nhưng cũng đã được sửa đổi cho phù hợp với thần học. Trong trường hợp chúng ta đang bàn, nhiều tác giả gọi các linh mục là “alter Christus” (có thể dịch là “Đức Kitô khác”, hoặc “Đức Kitô thứ hai”), nhưng ngày nay, vấn đề đã được xét lại bởi vì thấy không ổn; và thậm chí công đồng Vaticanô II đã tránh dùng thuật ngữ “alter Christus” và thay thế bằng những thuật ngữ khác.

Như vậy thuật ngữ “linh mục là Đức Kitô thứ hai” không đúng hay sao?

Nói rằng “không đúng” thì không có nghĩa là sai, cho bằng “thiếu sót”. Thiếu sót ở hai điểm: thứ nhất, bởi vì đặc trưng “Đức Kitô thứ hai” không chỉ dành riêng cho các linh mục; thứ hai, đặc trưng “Đức Kitô thứ hai” chưa diễn tả đầy đủ căn cước của linh mục.

Đặc trưng “Đức Kitô thứ hai” không chỉ dành riêng cho các linh mục bởi vì đức giáo hoàng mới thực sự là “đại diện Đức Kitô” phải không?

Đây là tính cách hàm hồ của thuật ngữ “Đức Kitô thứ hai” bởi vì nó mang nhiều nghĩa lắm. Tuy nhiên, trước khi nghĩ đến Đức Giáo hoàng, chúng ta hãy nói đến các Kitô hữu. Tân ước, cách riêng là thánh Phaolô, nói đến các Kitô hữu là “Đức Kitô thứ hai”. Nhờ bí tích rửa tội, họ đã được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô (Rm 8,29). Họ đã được Đức Kitô nhận làm em, thông dự vào điều kiện làm Con Thiên Chúa. Vì thế, tất cả mọi Kitô hữu hãy cố gắng sống xứng với danh dự của mình: họ hãy mặc lấy Đức Kitô (Gl 3,27), hãy mang những tâm tình của Đức Kitô (Pl 2,5), hãy sống trong Đức Kitô. Chúng ta có thể đọc thấy những điều này trong các thư của thánh Phaolô. Vào những năm sau công đồng Vaticanô II, có người khám phá rằng Tân ước còn áp dụng đặc trưng “Đức Kitô thứ hai” cho một hạng người khác nữa, đó là những người đói khát, trần truồng, đau ốm, không cửa không nhà. Thật vậy, trong dụ ngôn về cuộc phán xét chung ở chương 25 của Tin mừng thánh Matthêu, chúng ta đọc thấy rằng Chúa Giêsu coi những công việc bác ái dành cho những người vừa rồi thì được kể như là dành cho chính Chúa. Như vậy có nghĩa là họ chính là “Chúa Giêsu thứ hai” rồi.

Nếu các Kitô hữu và các người nghèo đã là “Chúa Giêsu thứ hai” rồi, thì không còn lý do để áp dụng cho các linh mục nữa phải không?

Phần nào đúng như vậy, tùy theo chúng ta hiểu đặc trưng “Đức Kitô thứ hai” theo nghĩa nào. Dĩ nhiên là chỉ có một Đức Kitô, chứ không có đến hai, ba Đức Kitô! Khi nói đến “Đức Kitô thứ hai”, chúng ta muốn nói sự hiện diện của Người ở giữa thế giới hôm nay, qua những chứng nhân, những dấu chỉ. Theo nghĩa này, toàn thể Hội thánh là “Đức Kitô thứ hai” bởi vì Hội thánh được thiết lập với sứ mạng mang sứ điệp và những hồng ân cứu độ của Đức Kitô đến với hết mọi người. Nhờ lời giảng và các bí tích do Hội thánh cử hành, nhân loại có thể lãnh nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô. Hơn thế nữa, Chúa Kitô còn muốn hiện diện giữa trần thế hôm nay không những qua các ân huệ siêu nhiên, nhưng còn qua cuộc sống đức hạnh, chẳng hạn tình yêu vô vị lợi, sự khiêm tốn phục vụ. Trong các thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, thuật ngữ “Đức Kitô thứ hai” được hiểu theo nghĩa đạo hạnh: nhờ lối sống đạo đức mà chúng ta hoạ lại chân dung của Đức Kitô. Vào thời Trung cổ, người ta thấy có sự chuyển hướng, người ta bàn đến linh mục như là “Đức Kitô thứ hai” theo nghĩa là thi hành quyền thánh chức. Chúng ta có thể thấy một thí dụ nơi các sử gia viết tiểu sử thánh Phanxicô Assisi. Một đàng, họ coi thánh nhân như “Đức Kitô thứ hai” bởi vì Người cố gắng sống trọn sứ điệp Tin mừng, đặc biệt bởi vì Người mang những thương tích của Đức Kitô trên thân mình. Đàng khác, họ viết rằng thánh nhân (không phải là linh mục) tỏ lòng tôn kính các linh mục, coi các ngài lớn hơn các thiên thần bởi vì là hiện thân của Đức Kitô, khi cử hành bí tích Thánh Thể.

Như vậy thuật ngữ “linh mục là Đức Kitô thứ hai” ra đời từ thời Trung cổ hay sao?

Các sử gia thú nhận rằng không thể xác định thuật ngữ này ra đời từ thời nào, kể cả khi áp dụng cho các tín hữu. Thật vậy, tuy rằng thánh Phaolô và các giáo phụ (chẳng hạn như thánh Augustinô) nhắc nhở các tín hữu là họ phải nên giống như đức Kitô, nhưng không gọi các tín hữu là “Đức Kitô thứ hai”. Thánh Cyprianô và thánh Augustinô còn dám nói mạnh hơn nữa: “anh em là Đức Kitô”. Vào thời Trung cổ, khi nói về các linh mục, thánh Tôma sử dụng thuật ngữ “in persona Christi” (trong cương vị của Đức Kitô) lấy từ bản văn của công đồng Latêranô IV (năm 1215). Nói chung, các nhà thần học kinh viện sử dụng thuật ngữ này để giải thích vai trò của các linh mục khi cử hành các bí tích: tại sao linh mục có thể đọc các lời truyền phép “đây là Mình Thầy, đây là Máu Thầy”, hoặc đọc lời tha tội “Cha tha tội cho con”? Họ giải thích rằng: bởi vì do bí tích truyền chức, các linh mục nhận được ấn tích (character), thông ban quyền năng để nhân danh Chúa Kitô chủ sự các bí tích. Vì thế các linh mục cử hành các bí tích “nhân danh Chúa Kitô” (nomine Christi), hiện thân cho Chúa Kitô (re-praesentatio Christi), tuy rằng thực sự chính Chúa Kitô mới là Đấng ban ơn thánh. Cũng trong bối cảnh đó mà đức thánh cha được gọi là “đại diện của Đức Kitô” (vicarius Christi), hoặc “người giữ chìa khóa thánh Phêrô” nhìn dưới khía cạnh pháp luật, nghĩa là người cai quản Hội thánh thay mặt cho Chúa Kitô.

Lúc nãy cha nói rằng ngày nay, người ta nhận thấy có nhiều thiếu sót khi áp dụng thuật ngữ “Đức Kitô thứ hai” cho các linh mục. Thiếu sót ở chỗ nào?

Tôi đã nhắc tới một thiếu sót rồi, đó là đặc tính “Đức Kitô thứ hai” không chỉ dành riêng cho các linh mục mà còn được áp dụng cho tất cả các tín hữu nữa. Điều thiếu sót thứ hai là khi áp dụng cho các linh mục, thuật ngữ “Đức Kitô thứ hai” ra như chỉ chú trọng đến quyền hành: linh mục lãnh quyền thánh chức để thay mặt Đức Kitô ban bí tích Thánh Thể và hoà giải. Nếu chỉ giới hạn vào khía cạnh này thì nó chưa diễn tả đầy đủ tất cả căn cước và linh đạo của linh mục. Thực vậy, các vị giáo hoàng thời cận đại, kể từ thánh Piô X, áp dụng thuật ngữ “Đức Kitô thứ hai” (alter Christus) vào đời sống tâm linh của các linh mục, để nhắn nhủ các ngài hãy có cung cách cư xử giống như đức Kitô (thông điệp E supremi apostolatus 4/10/1903, thông điệp Haerent animo 4/8/1908). Nói cho đúng, thuật ngữ “alter Christus” xuất hiện trong các tác phẩm đạo đức nhiều hơn là trong các văn kiện của các giáo hoàng. Điều đáng lưu ý là công đồng Vaticanô II không sử dụng thuật ngữ “alter Christus” cho các linh mục, nhưng diễn tả căn cước và linh đạo của các linh mục với những lối tiếp cận khác. Ý tưởng then chốt là linh mục cần phải họa lại tấm gương của Đức Kitô mục tử nhân lành, kẻ đã tận tâm phục vụ đoàn chiên đến nỗi hiến mạng sống của mình.

Công cuộc phục vụ này được diễn tả cách cụ thể qua ba tác vụ: giảng dạy, thánh hoá và cai quản. Linh mục tiếp nối sứ vụ của Đức Kitô khi rao giảng Tin mừng, khi chuyển thông ơn cứu độ, khi mang tình thương đến với mọi người. Đức Kitô được nhìn như là thầy dạy, ngôn sứ, thượng tế, mục tử, thủ lãnh, hôn phu. Tuy nhiên, một điều mới của các văn kiện Vaticanô II ở chỗ là bên cạnh việc trình bày căn cước của linh mục qua mối tương quan với Đức Kitô, công đồng còn định nghĩa linh mục qua mối tương quan với Giáo hội nữa. Điều này được diễn tả qua hai thuật ngữ “in persona Christi” (hay “nomine Christi) và “in persona Ecclesiae”.

Mối tương quan của linh mục với Giáo hội có thể hiểu theo nhiều khía cạnh. Thứ nhất, linh mục nhận lãnh chức thánh không phải chỉ nhằm thánh hóa bản thân nhưng để phục vụ cộng đoàn Dân Chúa. Thứ hai, linh mục nhận lãnh sứ mạng từ Hội thánh để thi hành sứ mạng mà Chúa Kitô đã uỷ thác. Thứ ba, linh mục không chỉ thay mặt Chúa Kitô để phục vụ Hội thánh nhưng còn nhân danh Hội thánh để dâng hy lễ lên Thiên Chúa, cũng như nhân danh Hội thánh dâng lời chuyển cầu cho nhân loại.

Thực ra, xét về việc chuyển cầu thì không chỉ các linh mục mà các tu sĩ cũng tham gia qua việc nguyện kinh phụng vụ nhân danh Giáo hội nữa. Tuy nhiên, có một khía cạnh của chiều kích Giáo hội mà từ cổ thời chỉ có giám mục mới thực hiện chứ linh mục không được hưởng, đó là giám mục đại diện cho giáo hội địa phương. Điều này xem ra bắt nguồn từ sách Khải huyền, khi tác giả gửi 7 lá thư cho thiên thần của 7 giáo đoàn. Các tác giả giải thích rằng các thiên thần được hiểu về các giám mục. Dù sao, trong các thế kỷ đầu tiên, các giám mục đến tham dự công đồng như là đại biểu của các giáo đoàn, “nhân danh giáo đoàn do mình cai quản”. Dù sao, khi mô tả căn cước của linh mục, xem ra công đồng Vaticanô II muốn quy chiếu về Chúa Kitô và về Giáo hội không chỉ vì muốn nêu bật rằng hai chiều kích đó liên kết mật thiết với nhau, nhưng còn muốn đến vị trí trung gian của linh mục: thay mặt cho Chúa Kitô trước mặt cộng đoàn, và thay mặt cộng đoàn trước mặt Đức Kitô.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

(24-03-2010)