Tiếng Kêu Cứu Của Linh Hồn Luyện ngục 

Chuyện có thật xảy ra tại Việt Nam, khi Đức Mẹ cho phép một linh hồn nơi luyện ngục về tiếp chuyện với một Đan-sĩ dòng Xitô. Những tiết lộ nơi luyện tội mà chúng ta không thể tưởng tượng nổi…

Trong dịp về thăm Việt Nam, chúng tôi được một nữ tu tặng cho cuốn băng cassette về cuộc nói chuyện của một nam tu sĩ (tạm gọi là thầy Nam), ở tỉnh Phan Rang, Việt Nam. Năm 1989, thầy Nam nói về sự kiện một linh hồn mồ côi được Đức Mẹ cho phép về nói chuyện với một giáo dân (tạm gọi là anh Trung). Anh Trung ghi chép mọi sự và giao cho thầy Nam để xin cầu nguyện cho các linh hồn mồ côi ở luyện ngục. Cho đến nay, chúng tôi vẫn không biết tên thật của vị tu sĩ này.

Kim Hà xin ghi lại theo nội dung của cuộc nói chuyện ghi lại từ băng cassette.

“Lần đầu tiên, vào một buổi tối ngày thứ tư, 15/6/78, khi anh Trung đang nằm trong mùng thì nghe tiếng nói của một linh hồn mồ côi ở bên tai. Chiếc mùng rung động. Thế rồi trong đêm tối, anh Trung ngồi dậy để ghi chép những điều mà linh hồn nói ra, dưới ánh sáng của chiếc đèn dầu kiểu “hột vịt”. Chép xong anh ta đưa cho thầy Nam để cầu nguyện và đặt thêm câu hỏi. Tiếng nói bắt đầu: Vì tín điều các thánh thông công, nên Đức Mẹ sai tôi về để xin quý vị một điều là vào giờ chầu Thánh Thể trong tối thứ bẩy này, xin hãy hát bài nhạc Kinh Hòa Bình. Tôi muốn anh nói với thầy Nam về bốn điều, và tôi sẽ cho biết nội dung sau.

Giữa thế gian này, ma quỷ như những tấm lưới buông xuống để bắt các linh hồn, chúng sẵn sàng bắt các linh hồn đã được Chúa xức dầu và các linh hồn thánh thiện. Nhiều khi hiện thân của ma quỷ là các phụ nữ đi dụ dỗ. Xin hãy thận trọng, Máu Thánh Chúa Giêsu Kitô đã đổ ra để cứu chuộc các linh hồn. Những linh hồn được xức dầu thì Thánh Tâm Chúa Giêsu yêu thương và ban ơn. Nhưng nếu các tâm hồn ấy tìm an ủi nơi người khác thì Thánh Tâm Chúa Giêsu đau buồn, còn người ấy thì cảm thấy cô đơn vì vắng bóng Chúa. Họ cảm thấy buồn bã. Hậu quả của việc từ bỏ Chúa là sự sa ngã.

Như vậy, khi một người đã được xức dầu mà còn lo ra, tìm an ủi nơi cô gái nào đó thì sẽ bị cô đơn, buồn bã, chán nản, thất vọng và sa ngã. Thiên Chúa chưa đủ sao mà còn tìm an ủi nơi người khác? Trong khi Chúa luôn mong mỏi cho người ấy trở về với Ngài. Đây là một chân lý mà không ai để ý: “Những kẻ cám dỗ không bao giờ trung thành. Thường thì kẻ cám dỗ sẽ trở nên hung ác như quỷ dữ để phạt người bị cám dỗ”.

Xin cầu nguyện cho các linh hồn mồ côi nhiều hơn. Xin thầy Nam dâng 1 lễ cầu cho các linh hồn mồ côi. Lễ của các thầy là kinh phụng vụ,  chúng tôi sẽ đền ơn thầy.

Những lúc rảnh rỗi, xin đọc cho các linh hồn mồ côi 3 hoặc 10 Kinh Kính Mừng.

Khi gặp lúc gay go, nguy hiểm xin làm giờ đền tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu 3 ngày, và đền tạ

Mẫu Tâm Mẹ Maria 3 ngày và cầu cho các linh hồn ở luyện ngục thì chúng tôi sẽ giúp đỡ cho quý vị.

(Lời thầy Nam: Thật sự con số 3 hay 10 Kinh Kính Mừng không nhiều mà họ phải xin, vậy mà đôi khi chúng ta chẳng nhớ mà đọc cho họ. Chúng ta thật thiếu sót).

Vậy khi các nhà Dòng hay các bậc bề trên gặp sự khó khăn hay có người sắp chết, thì cứ làm theo các điều mà linh hồn này chỉ dẫn thì kết quả rất tốt. Dĩ nhiên là chúng ta nên có các Thánh lễ kèm theo.

Gặp khi khó khăn, con đã âm thầm chầu Thánh Thể để đền tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu, và dành 3 ngày đền tạ Mẫu Tâm Mẹ Maria bằng cách lần hạt 7  sự thương khó Đức Mẹ Maria và lần chuỗi kinh Mân Côi.

Các linh hồn mong ước chúng ta năng lần hạt về Mầu Nhiệm Năm Sự Thương.

Vào ngày 19/6/1978, linh hồn này bảo anh Trung rằng lúc 8 giờ sáng hôm sau, linh hồn sẽ về nói chuyện nên xin anh Trung báo cho con (thầy Nam) biết, để con đặt câu hỏi cho linh hồn ấy trả lời.Thế là con ghi các câu hỏi để linh hồn trả lời. Rồi anh Trung ghi chép và viết ra câu trả lời như là cái máy thâu băng. Linh hồn này có thể về thăm vào bất cứ lúc nào: đêm, ngày, sáng, chiều. Có khi thì nói dài, có khi thì nói ngắn. Có lần, linh hồn chỉ nói như sau: “Bảo nó đừng đi. Đi sẽ bị bắt”. Hay: “Hãy ở nhà đi, đi lúc này không tiện”.

Có giai đoạn linh hồn nói với anh Trung khi anh đi lên rẫy, trên đường đi làm, anh vẫn nghe tiếng nói. Cách nói rất thân tình, tự nhiên, và thẳng thắn.

Ngày 15/8/1978, vì lễ Đức Mẹ Lên Trời là ngày Chúa Nhật nên dời vào ngày 21/8/1978. Tối
hôm thứ bảy, linh hồn ấy về và kể chuyện về tiểu sử của mình như sau:

Tôi là linh hồn mồ côi, ở trong luyện ngục được 55 năm. Lẽ ra, tôi phải ở trong luyện ngục 69 năm, nhưng nhờ lời cầu nguyện của anh (Trung) mà tôi được giảm 13 năm trong luyện ngục. Sang năm, ngày 15/8/1979 thì tôi sẽ được về trời. Nếu như thầy Nam mà làm linh mục thì tôi được nhờ biết mấy.

Sau đó, anh Trung đưa cho con 50 đồng để xin cha dâng lễ cầu nguyện cho các linh hồn mồ côi. Con bèn nhờ cha Huấn là LM Hạt trưởng, làm 10 lễ cầu cho các linh hồn mồ côi. Cha Huấn cũng cố gắng dâng lễ. Cầu xong mười lễ là ngày 5/9/1978. Trước đó 2 ngày, tiếng nói linh hồn cất lên:

Ngày vinh quy của tôi gần kề, tôi sẽ không về mà ở lại luyện ngục để đền tội, cầu nguyện và tạ ơn Chúa. Sau ngày vinh quy, thì tôi sẽ về, nếu muốn hỏi gì thì hỏi. Vào thứ ba 5/9/1978, lúc 6 giờ thì linh hồn tôi về trời, vậy thầy Nam muốn hỏi gì thì tôi trả lời.

Con bèn đặt câu hỏi. Quả nhiên, linh hồn về lúc 3 giờ sáng và 3 giờ chiều để trả lời các câu hỏi:
Hỏi: Các linh hồn ở đâu? Các linh hồn làm gì trong luyện ngục?

Đáp: Các linh hồn lúc sống phạm tội ở đâu thì lúc chết đền tội ở nơi đó. Ví dụ: lúc sống đi
đường, thấy hòn đá mà không dẹp đi, lại liệng ra đường cho người khác té chơi thì lúc chết sẽ quỳ đền tội ở bên đường đó. Lúc sống phạm tội trên đường, trong phòng, trong nhà thờ, thì sẽ đền tội ở các nơi đó. Người ta thường phạm tội ở trong phòng  của mình và trong nhà thờ, chẳng hạn các tội: nói chuyện, lo ra, chia trí, cầu nguyện mà ngủ gục…

Các linh hồn yêu mến Chúa và yêu mến người trần, nên họ xin Chúa ban ơn cho các người ở trần gian để khỏi phải rớt vào luyện ngục, khỏi rớt vào chốn trầm luân (hỏa ngục).
Hỏi: Ngài là ai để chúng tôi xin lễ cho ngài?

Đáp: Tôi không về với tính cách riêng tư, nhưng Đức Mẹ sai tôi đại diện cho các linh hồn mồ côi để xin mọi người trên thế gian cầu nguyện cho linh hồn ông bà, cha mẹ và những linh hồn mồ côi. Theo tín điều các thánh thông công thì các Thánh ở trên trời ban ơn, các người ở trần gian lập công để cứu các linh hồn, các linh hồn cầu nguyện cho người ở trên Trần gian.

Hỏi: Ngài là ai? Xin cho biết tiểu sử của ngài?

Đáp: Ngày hôm nay, Chúa nhân từ đoái thương mở cửa Thiên đàng cho tôi vào, Mẹ Maria đoái thương cho tôi về trời. Tôi xin tạ ơn Chúa và Mẹ Maria. Tôi vốn là một lực sĩ trong tỉnh. Tôi thường ném quả tạ nặng 5 ký lô đến một khoảng xa 13 thuớc rưỡi. Từ đó tôi thấy mình mạnh nên kiêu ngạo mà coi thường bạn bè. Sau đó, tôi chỉ còn ném xa có 5 thước ruỡi mà thôi. Lý do tôi xuống dốc vì tôi kiêu ngạo mà Chúa bỏ rơi tôi.

Vì biết như vậy nên tôi trở lại đi nhà thờ dự thánh lễ và cầu kinh. Ngày trước, tôi cũng giống như các thanh niên khác tức là không muốn đi nhà thờ. Nay vì thua thiệt nên tôi trở về với Chúa. Sau đó, tôi lấy lại sức mạnh và tôi có thể ném tạ xa 13 thước rưỡi như cũ. Tôi bèn thách thức Chúa. Tôi nay mạnh mẽ rồi, tôi không thể chết. Chúa chưa gọi tôi được. Trong lúc tập dượt, tôi ngồi nghỉ mệt và chỉ nửa tiếng sau, tôi ra trình diện trước Tòa phán xét của Chúa.

Chúa cho tôi đi qua Hỏa ngục, thật là kinh khiếp quá sức, không thể diễn tả được, tôi sợ phát điên được. Rồi tôi vào luyện ngục và gặp ba tôi ở đó. Ba tôi nhìn tôi và tỏ ý buồn rầu vì ba tôi thường nhắc nhở tôi về Chúa. Ba bảo tôi phải đi nhà thờ nhưng tôi không nghe. Vì thế mà ba tôi rất buồn khi thấy tôi ở luyện ngục.

Lúc tôi ra trước Tòa phán xét thì tôi thấy cả một biển vô ơn trước mặt. Tôi đến trước mặt Chúa với hai tay trắng trơn. Tôi thấy các việc tốt mà tôi đã làm như: Cúi chào trước Thánh Thể Chúa thật huy hoàng, hay những kinh Kính Mừng mà tôi đọc trước khi đi ngủ thật rạng sáng. Tuy những việc làm tốt của tôi nhỏ bé nhưng vì có Đức Mẹ Maria bầu cử nên tôi lãnh án 69 năm.
Tôi đã ở luyện ngục 55 năm rồi, nhờ anh Trung cầu nguyện nên tôi được giảm 13 năm. Rồi nhờ  thêm các Thánh lễ anh xin cho tôi, nên tôi được về trời.

Tôi thấy người ở trần gian không còn nhớ đến các linh hồn, không nhớ cầu nguyện và xin lễ cho các linh hồn. Tôi van xin quý vị hãy nhớ cầu nguyện cho các linh hồn.
Quý vị thường thích nhậu nhẹt và cờ bạc, mà không nhớ các linh hồn ông bà, cha mẹ một đời hy sinh cho các con cháu. Vầy mà dù một lễ cũng không cho. Nếu “kẹo” với ai thì “kẹo”, xin đừng “kẹo” với các linh hồn.

Nếu chỉ cứu một linh hồn ra khỏi luyện ngục thì mình có một ghế ngồi trên Thiên đàng. Nếu cứu nhiều linh hồn thì ghế ngồi của chúng ta càng gần Chúa hơn và càng rạng sáng.
Người ở thế gian kêu khổ, nhưng chịu khổ lâu năm thì quen. Còn các linh hồn ở luyện ngục thì ngày càng nóng thêm, rát, hối hận và đau khổ.

Xin quý vị hãy cầu nguyện cho các linh hồn mồ côi nhiều hơn. Nếu không bỏ vốn thì làm
sao có lời được? Nếu quý vị không giúp các linh hồn thì làm sao họ cầu nguyện cho mình? Khi đọc các tràng chuỗi Mân Côi, dự các Thánh lễ là như đóng tiền gửi các linh hồn giữ cho, rồi sau đó rút ra cả vốn lẫn lời.

Tràng chuỗi Mân Côi là một phương thuốc trường sinh giúp cho các linh hồn vững mạnh.
Mỗi tràng chuỗi Mân Côi là một nấc thang về trời.

 Ngày về trời của những ai lần chuỗi Mân côi rất rạng sáng.

Tràng chuỗi Mân Côi là thuẫn che chở con cái khỏi ma quỷ.

Tràng chuỗi Mân Côi là cách đóng tiền gửi vô nhà băng của Luyện ngục mà có cả vốn
lẫn lời.

Ban tối, trong gia đình nên đọc kinh chung với nhau. Đó là giờ phút chúng ta tạ ơn, tâm
sự với Chúa, đuổi ma quỷ ra khỏi nhà mình. Đó là lúc ta mời Chúa và Mẹ đến với gia
đình ta để chúc phúc, và như vậy sẽ không có người chết bất thình lình trong gia đình
đó
Nơi đâu có lời kinh Kính Mừng vang lên thì sẽ có Đức Mẹ Maria và các linh hồn sẽ bay về
đó để cùng họ đọc kinh mà tôn kính Đức Mẹ và nhận ơn của Mẹ. Vậy khi rảnh rỗi, xin
đọc chừng 3 hay 10 kinh Kính Mừng để cầu cho các linh hồn mồ côi.

Thầy Nam kể tiếp: Ngài (linh hồn mồ côi) nói tiếp:

“Vì Thiên Chúa thương yêu loài người nên Ngài cho con người được tự do. Nếu Chúa muốn phạt loài người thì Ngài chỉ cần lấy đi sự tự do. Nếu bị mất tự do thì đó là hình phạt lớn nhất. Lúc ấy, con người chỉ còn như loài vật. Chính vì có tự do nên con người có tự ái và ý riêng. Vì có tự ái và ý riêng mà loài người, kể cả các linh mục và tu sĩ nam nữ, đã làm mất nhiều ơn phúc mà Chúa ban cho”.

-Ngài nhắc đến mầu nhiệm Năm Sự Thương:

“Ôi Đấng Rất Thánh mà còn phải cúi lưng vác Thánh giá nặng nề thay vì tôi là đứa gian ngược, tội lỗi đầy dẫy mà còn dám phạm tội nữa sao?”

-Ngài còn nói đến Thánh Vịnh thứ 115:

“Con biết lấy gì đền đáp cho Chúa để đền ơn những gì mà Chúa đã ban cho con?”

-Sau đó, ngài khuyên mọi người hãy tiếp tục cầu nguyện.

-Ngài còn giải thích rằng sở dĩ các linh mục phải vào tù (cải tạo) trong thời gian (1975) trở đi vì những người dùng quyền bắt các linh mục là những kẻ lầm đường lạc lối. Họ cần tìm về sự thật qua sự dậy dỗ của các cha. Như vậy nên các cha phải vào tù để dậy dỗ họ. Sớm muộn gì thì các cha cũng được về.

-Vào các năm 1978, 1979 là thời gian căng thẳng nhất, nhiều chủng viện và nhà Dòng bị tịch thu, các tu sĩ buộc phải ra khỏi Dòng. Ngài nói:

“Cho dù có mất hàng trăm, hàng ngàn ngôi nhà thờ cũng không tiếc bằng việc có một linh mục đi lấy vợ”.

-Ngài lập lại lần nữa: ”Những người cám dỗ không bao giờ trung thành”.

-Ngày 5/9/1978 là ngày mà ngài về trời, ngài nhắc anh Trung kêu con đặt câu hỏi cho ngài. Ngài kể cảnh tượng mà ngài thấy trên Thiên Đàng như sau:

Tôi thấy Đức Mẹ quỳ xuống để cầu xin Chúa Giêsu tha tội cho nhân loại. Đức Mẹ cầm tay Chúa lại để ngăn cản Ngài đừng phạt thế gian. Nếu loài người thấy được điều ấy thì họ phải quỳ gối xuống để đền tội của mình, chứ không thể đứng. Nếu loài người thấy được các linh hồn quỳ đền tội của họ thì người ấy sẽ không còn thấy mọi sự trên trần gian có giá trị gì nữa mà phải ăn năn, khóc lóc mà đền tội của mình. Chúa đã ban cho loài người có tự do, có lựa chọn thì hãy sống thánh thiện và vâng lời Hội thánh”.

Sau đó, thầy Nam ngừng lại để xin cử tọa đặt câu hỏi cho thầy giải đáp. Sau đây là những câu trả lời của thầy, dựa theo các câu hỏi của cử tọa gồm có Đức Viện phụ, các linh mục và các tu sĩ:
-Thời gian mà linh hồn mồ côi ấy về nói chuyện là từ 15/6/78 đến 5/9/78. Khi ngài về trời, thì ngài vẫn dùng tiếng nói. Con có hỏi khi ngài nói chuyện với người trần thì ngài có hưởng Nhan Thánh Chúa không, thì ngài đáp:

“Tôi đi đây là làm theo ý Chúa và Ý Đức Mẹ, vì tôi được Mẹ sai đi, nên tôi vẫn hưởng Nhan Thánh Chúa”.

-Ngài gọi tháng 5 là tháng Hồng Phúc vì trong tháng này, ơn Chúa đổ xuống nhiều, qua việc mọi người đọc nhiều chuỗi Kinh Mân Côi để tỏ lòng sùng kính Mẹ Maria.

-Ngài gọi tháng 6 là tháng Cứu Độ vì là tháng kính Thánh Tâm Chúa. Trong tháng 6 này, chúng ta nên cầu nguyện đền tạ Thánh Tâm Chúa để xin Chúa ban ơn bình an cho mọi người.
-Ngài gọi tháng 10 vốn là tháng Mân Côi, là tháng An Ủi vì tháng này mọi người đọc nhiều
chuỗi kinh Mân Côi nên ơn Chúa tuôn đổ nhiều như mưa rơi.

-Ngày 2 tháng 11, lễ các Đẳng Linh Hồn là ngày Tết của các linh hồn ở luyện ngục.

-Tháng 11 cũng là tháng mưa Hồng Ân vì các con cháu thường hay quên, nhưng đến tháng này thì họ nhớ đến ông bà cha mẹ nên xin lễ cho ông bà cha mẹ. Vì thế ơn Chúa dồi dào như mưa tuôn.
-Con quên nên không hỏi ngài về ý nghĩa của tháng 3 là tháng kính Thánh Giuse. Xin hãy cầu nguyện với Thánh Giuse. Khi còn ở trần gian, Cha Thánh Giuse đã lao động vất vả. Nay ở trên Thiên đàng, cha Thánh Giuse vẫn lao động để kéo ơn Chúa xuống cho con cái trần gian. Cha Thánh Giuse đặc biệt thương yêu giới trẻ. Nơi nào có các bạn trẻ lần chuỗi Mân Côi là nơi ấy có sự cứu giúp đặc biệt của Cha Thánh Giuse.

-Trong vòng một năm linh hồn ấy hiện về khoảng trên 50 lần, có khi dài, khi ngắn. Anh Trung vẫn nghe tiếng nói bên tai như sau: “Ngày mai hội ngộ lúc 8 giờ, anh nói thầy đặt câu hỏi để tôi trả lời”.

H-Có những câu hỏi mà linh hồn không trả lời, chẳng hạn như con có hỏi rằng linh hồn ông bà nội con bây giờ ở đâu?

Đ-Linh hồn ấy trả lời:“Thầy đã được Chúa chọn, chẳng lẽ các linh hồn ông bà, cha mẹ lại ở chốn trầm luân hay sao?

Sự ấy không thể xẩy ra như vậy được”.

Như vậy có thể suy luận rằng Chúa luôn để ý chăm sóc đến các linh hồn ông bà, tổ tiên của các gia đình có người được Chúa chọn.

-Có những câu hỏi mà con đặt ra nhưng ngài nói rằng không được phép trả lời vì đó là bí mật của Thiên Chúa. Ngài chỉ được nói trong phạm vị sứ mạng của ngài. Còn những câu hỏi do sự tò mò thì ngài gạt đi, không được phép trả lời.

-Ngài xin các linh mục hãy sốt sắng dâng lễ. Các linh mục không biết rằng các ngài nắm trong tay một phương tiện cao trọng vô cùng, đó là Thánh lễ. Dâng Thánh lễ để thờ phượng Thiên Chúa và đền tội cho nhân loại. Có một số cha dâng lễ khô khan quá, thiếu sự dọn mình.

-Ngài nói rằng các tu sĩ thời buổi này có thánh giá nặng hơn vì phải đi lao động. Khi gặp khó khăn thì phương thuốc đặc biệt là đọc kinh với tràng chuỗi Mân Côi. Đó là phương thuốc trường sinh để trỗi dậy. Ở Phan Rang có một linh mục đang gặp khó khăn, con bèn xin với cha ấy hãy thử đọc kinh Mân Côi, làm 3 ngày đền tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu, 3 ngày đền tạ Mẫu Tâm Mẹ Maria và cầu cho các linh hồn mồ côi. Cha ấy thực hành và thoát cảnh khó khăn.

-Tuy nhiên không phải lúc nào cầu nguyện như thế là đều có thể tránh cảnh khó khăn, không phải lúc nào cầu nguyện với các linh hồn là tai qua nạn khỏi đâu. Chẳng hạn như trường hợp của con, con bị bệnh hen suyễn, suốt ngày khọt khẹt, cơn bệnh làm cho con phiền lắm nên con xin linh hồn cầu cho con khỏi bệnh. Linh hồn ấy bảo con là:

“Có khi cơn bệnh của mình là do sự quan phòng của Thiên Chúa dùng để thanh luyện mình”. Vì thế, nếu mình bị cơn đau đầu hay các cơn bệnh khác là do Chúa dùng cơn bệnh ấy để cứu người khác. Mình mang thân phận người là phải chịu khó khăn, khổ đau rồi.

Con xin kể câu chuyện mà con nhờ các linh hồn và được giúp:

Ngày ấy, con mượn cái kéo cắt cây của cha Phó Thịnh. Cha dặn con rằng sáng thứ bẩy phải đem cái kéo trả lại cho cha. Đến thứ bảy, con đã để sẵn cái kéo ngay trước cửa, định bụng sẽ đem trả cho cha Thịnh. Thế mà con quên, khi đi đến nửa đường, con mới chợt nhớ ra là mình quên cái kéo ở nhà. Bây giờ trở lại lấy thì mất công quá.

Lúc con gặp cha Thịnh, cha hỏi cái kéo thì con đành nói rằng mình bỏ quên ở nhà. Cha Thịnh nhăn mặt. Con bèn năn nỉ cha:

Xin cha thông cảm, con để quên kéo ở nhà, con sẽ về lấy rồi đem trả lại cho cha”.

Sau đó, con nghĩ lại, hôm ấy con sẽ bận rộn vì phải soạn bài giảng cho ngày Chúa nhật. Con bèn xin các linh hồn mồ côi giúp con bằng cách làm sao cho có ai đi lên Phan Rang xưng tội thì xin các linh hồn kêu họ ghé đến đây, rồi cầm cây kéo lên đó để trả lại cho cha Thịnh. Nếu các linh hồn giúp con như vậy thì con sẽ xin một Thánh lễ để cầu cho các ngài. Bây giờ con vừa đạp xe vừa lần chuỗi để cầu cho các ngài.

Con về đến nhà lúc 9:30 sáng, định nghỉ ngơi một chút rồi đến 10:30 sáng sẽ đạp xe lên Phan Rang để trả kéo cho cha Thịnh. Thình lình có hai cô vào gặp con và nói rằng họ sắp lên Phan Rang đi xưng tội, vậy thầy có gửi gì cho các cha không. Mới đầu, con còn chưa nhớ ra cái kéo, một hồi mới nhớ ra, con bèn xin hai cô ấy giúp đem trả cái kéo giùm. Một cô còn nói: Cũng vì cái kéo mà chúng con vô đây!”

Thật là chuyện hi hữu. Từ đó, khi làm việc gì con cũng cầu xin với các linh hồn.

Một lần kia, con cùng với 4 chú giúp lễ đi dọn cái hàng ranh (mương). Thường thì người ta hay liệng đủ thứ rác xuống mương. Hôm ấy, một chú cuốc vào một vật gì cứng, mới đầu tưởng là cục đá, ai dè đó là quả lựu đạn. Cả bọn chúng con sợ lựu đạn nổ nên nằm sấp xuống. Vừa đó, có xe bộ đội đi ngang qua, sau khi con nhờ họ coi xem thì họ nói:

”Số thầy và mấy chú hên lắm. Trái lựu đạn này đã gẫy rồi mà không nổ, nếu nó nổ thì mấy thầy trò banh xác rồi”.

Đó cũng là nhờ ơn các linh hồn cầu bầu cho chúng con.

-Con vẫn nhớ câu nói của linh hồn ấy: “Giúp chúng tôi một,chúng tôi trả lại vô vàn. Sống một giây trong luyện ngục còn chịu không nổi, huống gì chúng tôi phải sống rất nhiều năm”.

-Thánh lễ là lúc Chúa ban ơn, ơn dành cho kẻ sống và người chết. Các linh hồn mồ côi là
những người chết mà con cháu không nhớ đến để mà xin lễ cho ông bà cha mẹ của mình.
-Theo tín điều các thánh thông công, thì các thánh trên Thiên Đàng, các người ở trần gian, và các linh hồn ở luyện ngục là ba anh em ruột. Các Thánh cầu bầu cho người trần, người trần lập công và cầu nguyện cho các linh hồn, và các linh hồn cầu nguyện và cứu giúp người trần.
Các linh hồn ở luyện ngục là các vị thánh phải chờ đợi để đền tội xong, rồi sẽ hưởng Nhan Thánh Chúa. Chẳng hạn như linh hồn một bà mẹ đang đền tội ở trong nhà thờ, nhưng bà nhìn thấy trước là con của bà sắp gặp nguy hiểm, nên bà bèn xin Chúa và Mẹ thương con của bà. Bà có thể xin Chúa và Mẹ Maria cho bà ra chỗ con bà sắp gặp nguy hiểm để cứu con bà.

-Các Thánh có thể nhìn thấy Chúa trong Thánh Thể. Còn các linh hồn chỉ nhìn thấy vòng ánh sáng chung quanh Thánh Thể chứ chưa được nhìn thấy Chúa. Các linh hồn chỉ được nhìn thấy Chúa khi ra tòa phán xét, nay phải xa cách Chúa, thì lòng các ngài thuơng nhớ, yêu mến và muốn được hiệp thông với Chúa lắm, nhưng phải chờ đến khi đền hết tội mới được về Trời. Quỷ cũng chỉ thấy ánh sáng chung quanh Mình Thánh Chúa mà thôi.

*Các linh hồn van xin người trần gian hãy làm bạn với chúng tôi. Hãy cầu nguyện và xin Thánh lễ cầu cho chúng tôi, chúng tôi sẽ cứu giúp, phù trì, che chở để các bạn khỏi bị cheo leo, nguy hiểm.
– Khi ta gieo giống thì chỉ có một hạt nhưng khi gặt thì được nhiều hạt giống.

-Khi nghe tiếng chuông nhà thờ thì các linh hồn đang đền tội ở khắp nơi đều bay về nhà thờ để hiệp cùng cộng đoàn dâng lời thờ lạy Chúa. Khi xong lễ, mọi người thế gian về, còn chúng tôi quỳ lại để cảm tạ Chúa.

-Theo giáo lý thì khi người chết rồi thì đi thẳng đến toà phán xét. Còn tôi lại được dắt đi qua hỏa ngục, luyện ngục và tòa phán xét. Đó là vì sứ mạng mà Chúa chuẩn bị cho tôi ngày hôm nay. Vì thế, Chúa muốn tôi thấy các nơi ấy để nói lại cho mọi người biết. Chúa đã thấy 55 năm về trước nên Ngài cho tôi đi lòng vòng.

-Lẽ ra khi chết đi thì không còn thời gian hay nơi chốn, nhưng vì muốn cho rõ thời gian đền tội nên vẫn dùng thời gian của trần gian để tính năm tháng phải đền tội ở luyện ngục.

*Ai càng thuộc về Chúa thì càng bị cám dỗ. Giám mục thì bị cám dỗ nhiều hơn linh mục, hơn thầy sáu, hơn các tu sĩ nam nữ, hơn giáo dân. Nếu cũng một tội mà giáo dân phạm thì chỉ đền ít hơn, còn các vị có chức Thánh thì đền lâu vô vàn.

-Một điều để thấy rõ là các đấng có chức Thánh mà sắp chết thì họ năng quỳ Chầu Chúa. Trên khuôn mặt của họ có nét vui tươi hớn hở.

Thầy Nam kể tiếp: *Hiện tượng người chết hiện về:

Đức Mẹ có cho phép các linh hồn hiện về thì mới được về. Nếu linh hồn hiện về là để xin gia đình hãy cầu nguyện cho họ. Trong tín điều các thánh thông công thì Đức Mẹ đóng vai trò lớn lao. Khi chúng tôi (các linh hồn) không có ai cầu nguyện cho thì chúng tôi thường chạy đến với Tòa Đức Mẹ và Tòa Cha Thánh Giuse vì các Ngài luôn thương xót giúp đỡ chúng tôi, nhất là Đức Mẹ cho chúng tôi hưởng nhận ơn qua các tràng chuỗi Mân Côi mà người thế gian dâng lên Mẹ.
-Trong đời sống của linh hồn mồ côi này, các việc lành mà ngài làm chỉ là việc cúi đầu chào Thánh Thể rạng sáng, các chuỗi Mân Côi huy hoàng. Nhưng ngài biết giữ mình sạch sẽ, và không mắc tội trọng. Vì thế khi bị chết bất thình lình thì ngài vào luyện ngục, chứ không vào hỏa ngục, như vậy là khá rồi.

-Ngài dặn chúng ta hãy giữ mình sạch sẽ, đừng vào luyện ngục mà khốn vì ở đó đau khổ lắm, dù một giây cũng chịu không nổi đâu. “Vậy mà chúng tôi phải ở đây!”

Ngài nói chúng ta cứ xin lễ cho các linh hồn mồ côi là ngài cũng được hưởng rồi, không cần xin lễ đích danh cho ngài.

-Xưa nay chúng ta thường hay quên việc cầu nguyện cho các linh hồn mồ côi. Vậy xin Đức Viện Phụ và các cha, các thầy hãy dâng lễ cầu cho linh hồn các thầy Dòng, các linh hồn mồ côi, các linh hồn ân nhân để xin các ngài bầu cử cùng Chúa cho nhà Dòng, dù khi bình thường cũng như khi nguy hiểm, ta cũng cần xin ơn lành để Chúa bảo vệ chúng ta khỏi mọi sự dữ.
-Nãy giờ con tâm tình để cùng chia sẻ ơn lành của Chúa, chứ không phải là khoe khoang. Con không có ý kiêu ngạo, vì con biết Chúa rất ghét và kỵ sự kiêu ngạo. Khi chúng ta gặp thử thách thì hãy dâng 3 ngày đền tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu, 3 ngày đền tạ Mẫu Tâm Mẹ Maria và 3 ngày cầu cho các linh hồn mồ côi. Nhớ rằng phải xưng tội và dọn mình cho xứng đáng, nghĩa là phải sạch tội để lãnh nhận ơn Chúa. Nếu có ai gặp chuyện không hay, hoặc gặp trắc trở trong ơn gọi thì nên áp dụng việc chầu Mình Thánh Chúa, hay sùng kính Mẹ Maria là tốt rồi.

-Câu chuyện này xẩy ra nhưng anh Trung phải giữ thinh lặng cho đến chết. Còn con cũng phải giữ kín danh tính anh ta cho đến chết luôn, giống như các linh mục ngồi tòa giải tội, phải giữ kín việc người ta xưng tội với mình. Lúc này chưa được nói ra. Anh Trung chỉ việc viết ra và đưa cho con. Còn con thì tuỳ theo sự khôn ngoan mà muốn làm chi thì làm.

-Tiếng nói ấy nói rằng khi thầy yếu đuối, chán nản thì hãy nhìn lên  ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, hay ảnh Chúa Giêsu ở trong phòng là được an ủi và nâng đỡ ngay. Phòng con có ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp và Chúa Giêsu nên con thường nhìn lên và cầu nguyện. Đây cũng là  kinh nghiệm mà các linh hồn mời gọi. Các ảnh tượng của các Thánh đã làm phép rồi thì là vật Thánh. Những khi vất vả, chán nản thì nhìn lên tượng Đức Mẹ, ảnh Chúa Giêsu và ảnh Thánh Giuse mà cầu xin. Chúng ta có sự liên lạc đặc biệt giữa Chúa Giêsu, Đức Mẹ, Cha Thánh Giuse với các linh hồn và con người trần gian.

-Đối với các người sống độc thân thì linh hồn bảo như vầy: “Trong phòng thầy thì đừng bao giờ cho các phụ nữ vào, chỉ trừ mẹ thầy và em gái thầy mà thôi”.

H-Để trả lời các thắc mắc như: “Làm sao có thể nói rằng các linh hồn đang đền tội mà giúp đỡ và cầu bầu cho chúng ta?”.

Đ-Cũng dễ hiểu thôi: Nếu trong gia đình có người con đau yếu thì cha mẹ thương đứa con đau yếu hơn, nên nó xin gì cũng được cha mẹ dễ chấp thuận. Vì thế, các anh chị em thường hay nhờ đứa em đau yếu xin cha mẹ giùm mình. Cũng vậy, các linh hồn mồ côi có số phận hẩm hiu. Họ là các người con đáng thương của Chúa, cho nên họ trở nên mạnh thế trước tòa Chúa. Chúa thương yêu các linh hồn mồ côi hơn vì họ bị bỏ rơi, không có ai cầu nguyện cho.

*Giới tu sĩ là những người sống ơn gọi tận hiến, thì xin hãy sống bậc trọn lành. Ngài nhắc đi nhắc lại như sau: “Đã chọn Chúa thì đừng mơ ước thế gian. Hãy bỏ các tư tưởng đàng rộng là xác thịt. Kẻ thù là ba thù: ma quỷ, thế gian, xác thịt, chung quy là tính xác thịt. Để chống trả lại các cơn cám dỗ của xác thịt thì có phương thuốc hiệu nghiệm: Đó là tràng chuỗi Mân Côi.
Các tu sĩ và linh mục hãy uống thuốc là tràng chuỗi Mân Côi. Thuốc này sẽ giúp các tu sĩ tận hiến. Khi một tu sĩ bị lo ra, hay sa ngã thì hãy chỗi dậy, hãy nắm lấy tràng chuỗi Mân Côi mà cầu nguyện.

Riêng các linh mục đã bước dấn thân, khi là thầy sáu là bước Kitô 1, là linh mục là bước Kitô 2, thì Chúa phải là gia nghiệp của mình, tại sao còn mơ ước xa xôi? Hỡi các linh mục sa ngã, hãy trỗi dậy mà cầm tràng chuỗi Mân Côi của Đức Mẹ.

-Ngài rất chú trọng đến tràng chuỗi Mân Côi. Khi Đức Mẹ Maria hiện ra tại nhiều nơi trên thế giới, chẳng hạn như ở Lộ Đức, Fatima, thì tay Mẹ luôn có tràng chuỗi Mân Côi. Mẹ không đeo nhẫn hay đeo đồng hồ, mà trang sức của Mẹ là tràng chuỗi hạt Mân Côi. Đó là món trang sức cao trọng, xứng với Đức Chúa Trời, đó cũng phải là trang sức của các linh mục và tu sĩ nam nữ.
Vì sao? Vì đó là phương thuốc rẻ tiền, quý báu và công hiệu. Xin lưu ý, xin hãy nhớ lời ngài nói:

”Ở đâu có lời kinh Kính Mừng vang lên là có Đức Mẹ Maria hiện diện và có các linh hồn mồ côi bay đến để tôn kính và nhận  ơn của Mẹ. Vậy khi các cha,  các thầy đi làm lao động, thỉnh thoảng xin hãy đọc 3 kinh Kính Mừng để kết hợp với Đức Mẹ và cầu cho các linh hồn”.
-Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu phán:

”Ma đâu có xác thịt như các con đã thấy Thầy đây?” Trong giáo lý có nói về các Thiên thần, linh hồn và trong đó có một số tà thần. Tất cả đều là các tạo vật, do Chúa dựng nên, nhưng họ không thể tự mình muốn làm gì thì làm. Ma quỷ không phải là tự nhiên mà có, chúng không thể tự mình làm gì thì làm. Ngài nói: ”Tôi được về đây là do Mẹ sai về, về có mục đích làm lợi ích cho mọi người“.

-Người dân gian thường có lối giáo dục sai lầm, khi bà mẹ hay người chị ru em thì thường hù dọa con em mình rằng: “Coi chừng, ma, kẹ kìa”. Không có ma theo nghĩa dân gian mà chỉ có các Thiên thần, các Thánh, các linh hồn luyện tội hay các tà thần. Họ không tự lập được mà họ lệ thuộc vào Thánh Ý Chúa.
-Có khi các linh hồn cha mẹ, ông bà về là để xin các con cháu hãy xin lễ cầu nguyện cho họ.
-Ngài khuyên đừng có ai ở trần gian vào chốn luyện ngục. Muốn khỏi vào luyện ngục thì xin làm việc đền tội ngay trên trần gian này. Các tội đã xưng ra và đền tội rồi thì không phải đền trả ở luyện ngục nữa. Chỉ có những tội chưa xưng và chưa đền tội thì phải đền ở luyện ngục.

Khi ta phạm tội trọng mà không xưng thú thì ta phải vào hỏa ngục. Nếu ta xưng thú thì Chúa tha tội chết, nhưng ta phải làm việc đền tội cho sự dữ mà ta đã gây nên. Ta phải làm nhiều việc lành để xóa cái vạ do việc dữ của ta gây ra.

-Như đã nói trên, ta phạm tội ở đâu thì phải đền tội ở nơi ấy, và nơi đền tội là luyện ngục của ta. Nơi mà người ta đền tội nhiều nhất là trong nhà thờ. Trước Mình Thánh Chúa mà ta thiếu đức tin, đọc kinh lơ đễnh, chia trí. Trong nhà Dòng có một việc làm rất hay là hay đấm ngực xin Chúa tha tội. Như vậy khi chết có thể yên tâm.

H-Có câu hỏi là khi còn sống ta làm việc lành mà nhường cho các linh hồn thì khi chết ta sẽ ra sao?

Đ-Khi sống ta đền tội bằng cách làm việc lành để chỉ cho các linh hồn về trời thì đó là việc đền tội của ta rồi. Ta đã hy sinh cứu các linh hồn.

-Các sứ điệp luôn nhắc đến tầm quan trọng của chuỗi Mân Côi, nhưng không vì thế mà loại bỏ việc đi đàng Thánh Giá. Ngài lập lại lời kinh chặng thứ hai của Năm sự thương như con đã nhắc ở trên. Ngài nói bây giờ hãy chịu khó vác thánh giá đi, đừng nuông chiều xác thịt, đừng theo ý riêng. Nếu Chúa gọi mà ta còn theo ý riêng thì khốn. Ngài rất sợ làm gì theo ý riêng. Chúng ta hãy lo sống theo ơn gọi, đừng để khi chết phải ra tòa phán xét thì khốn.

-Nếu giáo xứ có ai đang hấp hối hay đau nặng thì nên cầu nguyện trước Thánh Thể cho họ 1 tiếng đồng hồ để họ được ơn ăn năn tội và đền tội trong giờ sau hết. Vì giờ chết là giây phút khủng khiếp và đáng sợ nhất.

-Những người hấp hối luôn luôn được ơn ăn năn nếu có ai kêu ba tên cực trọng: Giêsu, Maria, Giuse để cầu cho họ. Một dấu hiệu mà người hấp hối, sắp chết, bị á khẩu muốn xin ta cầu nguyện, đừng bỏ họ và hãy cứu họ. Đó là sự rơi nước mắt sống. Vậy ta nhớ cầu nguyện cho họ bằng cách kêu tên cực trọng Giêsu, Maria, Giuse cho họ.

-Riêng các tu sĩ thì sự vui tươi hiện trên nét mặt của họ vì con sắp về với Đấng mà con hy sinh suốt cuộc đời cho Ngài là Chúa Giêsu Kitô.

-Khi chúng ta dâng việc lành lên Chúa như dâng Thánh lễ, lần chuỗi Mân Côi, chúng ta không cần kêu đích danh các linh hồn, vì Chúa sẽ xét để xem các linh hồn thân nhân của ta có cần ơn không, rồi đến các linh hồn khác. Ví dụ tôi xin lễ cầu cho ông A, nhưng có thể ông ấy lên trời rồi hay ông ấy xuống hỏa ngục rồi thì Chúa sẽ ban ơn cho các linh hồn khác đang cần ơn Chúa hơn. Nếu chúng ta làm việc lành với ý chỉ đặc biệt thì Chúa sẽ xét trong sự khôn ngoan của Ngài để ban cho các linh hồn bị bỏ rơi, cần ơn Chúa nhất.

-Chúng ta hãy dâng các việc làm cho Đức Mẹ Maria để tùy Mẹ phân phát ơn lành cho những ai cần. Có khi có một vị tu sĩ đang gặp khó khăn thì Chúa và Mẹ có thể ban ơn ấy cho vị tu sĩ đang gặp khó khăn để giúp đỡ ngài.

-Ngài cắt nghĩa điều này là theo sự quan phòng của Chúa, Chúa phân phối ơn lành tuỳ theo các nhà thờ dâng Thánh lễ. Nếu các nhà thờ dâng nhiều thánh lễ thì các linh hồn ở vùng ấy được nhờ. Còn các nhà thờ khô khan thì các linh hồn mất nhờ, họ sẽ oán trách ta.

-Nếu có những giáo xứ, tu viện, cộng đoàn sốt sắng thì những người tội lỗi, và các linh hồn được hưởng nhờ ơn phước. Còn nếu các giáo xứ, tu viện hay cộng đoàn bê trễ thì ơn Chúa thiếu vắng, dân Chúa không được hưởng nhờ.

 -Chúa dùng các ơn lành của người này để cứu giúp người kia. Chẳng hạn có một vị linh mục đang gặp khó khăn thì Chúa dùng Mầu nhiệm các Thánh thông công để dùng sự đau khổ của một bà mẹ, của một thầy Dòng, hay lòng yêu mến của một trẻ thơ để ban ơn lành cho vị linh mục ấy.

-Các tu viện được chọn để cứu các linh mục, và các linh hồn. Các tu sĩ dùng sự chiêm niệm, cầu nguyện và hy sinh để đền tội thay cho những người khác. Nếu các tu viện lơ là thì dân chúng thiếu ơn. Nếu các tu viện sốt sắng, làm nhiều việc hy sinh thì dân chúng được mạnh mẽ. Các Dòng tu như máng thông ơn Chúa cho nhân loại.

Thánh lễ thì vô giá. Chúa cần sự cộng tác của loài người. Chúa dùng của lễ hèn mọn của con người để làm các phép lạ, chẳng hạn Chúa dùng hai con cá và năm chiếc bánh để làm phép lạ nuôi 4000 đàn ông, nếu kể đàn bà và con trẻ thì có thể là trên 10 ngàn người.

-Trường hợp của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu thật là đáng phục. Hôm ấy, Thánh Têrêsa mệt, yếu nhưng vẫn cố gắng đi. Y tá khuyên chị không nên đi, chị Thánh nói:

“Em hy sinh sự mệt nhọc của em để cầu nguyện cho một vị truyền giáo đang mệt mỏi mà
không có ai giúp đỡ”.

Chị Thánh Teresa đã hy sinh chịu đau khổ để cầu nguyện cho các vị truyền giáo, và chị được phong là Tiến Sĩ Hội thánh, dù chị chỉ ở trong bốn bức tường của Dòng Kín.

-Cuộc sống hy sinh lao động của các cha, các thầy là ơn trợ lực cho những ai lao động vất vả ở ngoài trần gian.

-Chúa phân phối ơn Ngài cho mỗi nhà thờ. Các cha sở chịu trách nhiệm về ơn Chúa trong lãnh vực địa phương. Nếu cộng đồng thánh thiện thì Hội Thánh được nhờ. Nếu cộng đoàn bê trễ thì cha sở chịu trách nhiệm trước mặt Chúa và mọi người. Tương tự, nếu trong một gia đình mà cha mẹ lười thì các con bị đói.

-Linh hồ