Kinh Thánh

Sách Ét-Ra

ÉT-RA

CHƯƠNG 1

I. HỒI HƯƠNG SAU THỜI LƯU ĐÀY. TÁI THIẾT ĐỀN THỜ.

Dân Xi-on trở về

1 Năm thứ nhất thời vua Ky-rô trị vì nước Ba-tư, để lời ĐỨC CHÚA phán qua miệng ngôn sứ Giê-rê-mi-a được hoàn toàn ứng nghiệm, ĐỨC CHÚA tác động trên tâm trí Ky-rô, vua Ba-tư. Vua thông báo cho toàn vương quốc và ra sắc chỉ như sau:2 “Ky-rô, vua Ba-tư, phán thế này: ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa trên trời, đã ban cho ta mọi vương quốc dưới đất. Chính Người đã trao cho ta trách nhiệm tái thiết cho Người một ngôi Nhà ở Giê-ru-sa-lem tại Giu-đa.3 Vậy ai trong các ngươi thuộc dân Người, thì xin Thiên Chúa của họ ở với họ, và họ hãy lên Giê-ru-sa-lem tại Giu-đa và xây Nhà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Ít-ra-en. Chính Người là Thiên Chúa ngự tại Giê-ru-sa-lem.4 Và mọi người còn lại ở bất cứ nơi nào họ đang trú ngụ, phải được dân địa phương cấp cho bạc vàng, của cải và thú vật, cũng như lễ vật tự nguyện, để dâng cúng cho Nhà Thiên Chúa ở Giê-ru-sa-lem

5 Những người đứng đầu các gia tộc của Giu-đa và Ben-gia-min, các tư tế và các thầy Lê-vi, tất cả những người được Thiên Chúa tác động trên tâm trí, trỗi dậy để đi lên xây Nhà ĐỨC CHÚA ở Giê-ru-sa-lem.6 Mọi người hàng xóm láng giềng đều mạnh tay giúp họ: bạc, vàng, của cải, thú vật, những đồ vật có giá, không kể mọi lễ vật tự nguyện.

7 Vua Ky-rô cho người đem ra ngoài những đồ vật thuộc Nhà ĐỨC CHÚA, mà vua Na-bu-cô-đô-nô-xo đã cho người đem ra khỏi Giê-ru-sa-lem và đặt trong thần miếu của nhà vua.8 Ky-rô, vua Ba-tư, đã nhờ viên thủ quỹ Mít-rơ-đát đem những đồ vật ấy ra ngoài. Viên thủ quỹ kiểm kê và giao cho ông Sết-bát-xa là thủ lãnh xứ Giu-đa.9 Đây là số các đồ vật: ba mươi chén vàng, một ngàn chén bạc, hai mươi chín con dao,10 ba mươi tô vàng, bốn trăm mười tô bạc loại thường, một ngàn đồ vật khác.11 Tổng số các đồ vật bằng vàng và bằng bạc là năm ngàn bốn trăm. Ông Sết-bát-xa mang theo tất cả các đồ vật đó, khi ông đưa những người lưu đày từ Ba-by-lon lên Giê-ru-sa-lem.

CHƯƠNG 2

Danh sách những người Xi-on hồi hương (Nkm 7:4-72)

1 Đây là những người trong miền đã từ chốn lưu đày hồi hương. Họ là những người mà Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua Ba-by-lon đã bắt đi đày sang Ba-by-lon. Họ trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, ai về thành nấy.2 Họ về cùng với các ông Dơ-rúp-ba-ven, Giê-su-a, Nơ-khe-mi-a, Xơ-ra-gia, Rơ-ê-la-gia, Moóc-đo-khai, Bin-san, Mít-pa, Bích-vai, Rơ-khum, Ba-a-na.

3 con cái ông Pác-ốt: hai ngàn một trăm bảy mươi hai;4 con cái ông Sơ-phát-gia: ba trăm bảy mươi hai;5 con cái ông A-rác: bảy trăm bảy mươi lăm;6 con cái ông Pa-khát Mô-áp, tức là con cái ông Giê-su-a và ông Giô-áp: hai ngàn tám trăm mười hai;7 con cái ông Ê-lam: một ngàn hai trăm năm mươi bốn;8 con cái ông Dát-tu: chín trăm bốn mươi lăm;9 con cái ông Dắc-cai: bảy trăm sáu mươi;10 con cái ông Ba-ni: sáu trăm bốn mươi hai;11 con cái ông Bê-vai: sáu trăm hai mươi ba;12 con cái ông Át-gát: một ngàn hai trăm hai mươi hai;13 con cái ông A-đô-ni-cam: sáu trăm sáu mươi sáu;14 con cái ông Bích-vai: hai ngàn không trăm năm mươi sáu;15 con cái ông A-đin: bốn trăm năm mươi bốn;16 con cái ông A-te, tức là con cái ông Giơ-khít-ki-gia: chín mươi tám;17 con cái ông Bê-xai: ba trăm hai mươi ba;18 con cái ông Giô-ra: một trăm mười hai;19 con cái ông Kha-sum: hai trăm hai mươi ba;20 con cái ông Ghíp-ba: chín mươi lăm;21 con cái ông Bê-lem: một trăm hai mươi ba;22 người Nơ-tô-pha: năm mươi sáu;23 người A-na-thốt: một trăm hai mươi tám;24 con cái ông Át-ma-vét: bốn mươi hai;25 con cái ông Kia-giát A-rim: ông Cơ-phi-ra và ông Bơ-ê-rốt: bảy trăm bốn mươi ba;26 con cái ông Ra-ma và ông Ghe-va: sáu trăm hai mươi mốt;27 người Mích-mát: một trăm hai mươi hai;28 người Bết Ên và người Ai: hai trăm hai mươi ba;29 con cái ông Nơ-vô: năm mươi hai;30 con cái ông Mác-bít: một trăm năm mươi sáu;31 con cái ông Ê-lam khác: một ngàn hai trăm năm mươi bốn;32 con cái ông Kha-rim: ba-trăm hai mươi;33 con cái các ông Lốt, Kha-đích và Ô-nô: bảy trăm hai mươi lăm;34 con cái ông Giê-ri-khô: ba trăm bốn mươi lăm;35 con cái ông Xơ-na-a: ba ngàn sáu trăm ba mươi.

36 Các tư tế: con cái ông Giơ-đa-gia thuộc nhà ông Giê-su-a: chín trăm bảy mươi ba;37 con cái ông Im-me: một ngàn không trăm năm mươi hai;38 con cái ông Pát-khua: một ngàn hai trăm bốn mươi bảy;39 con cái ông Kha-rim: một ngàn không trăm mười bảy.

40 Các thầy Lê-vi: con cái các ông Giê-su-a và Cát-mi-ên, tức là con cái ông Hô-đáp-gia: bảy mươi bốn.

41 Các ca viên: con cái ông A-xáp: một trăm hai mươi tám.

42 Con cái những người giữ cửa: con cái ông Sa-lum, con cái ông A-te, con cái ông Tan-môn, con cái ông Ắc-cúp, con cái ông Kha-ti-ta, con cái ông Sô-vai: tất cả là một trăm ba mươi chín.

43 Những người phục vụ Đền Thờ: con cái Xi-kha, con cái Kha-xu-pha, con cái Táp-ba-ốt,44 con cái Kê-rốt, con cái Xi-a, con cái Pa-đôn,45 con cái Lơ-va-na, con cái Kha-ga-va, con cái Ắc-cúp,46 con cái Kha-gáp, con cái San-mai, con cái Kha-nan,47 con cái Ghít-đên, con cái Ga-kha, con cái Rơ-a-gia,48 con cái Rơ-xin, con cái Nơ-cô-đa, con cái Gát-dam,49 con cái Út-da, con cái Pa-xê-ác, con cái Bê-xai,50 con cái Át-na, con cái người Mơ-u-nim, con cái người Nơ-phu-xim,51 con cái Bác-búc, con cái Kha-cúp-pha, con cái Khác-khua,52 con cái Bát-lút, con cái Mơ-khi-đa, con cái Khác-sa,53 con cái Bác-cốt, con cái Xít-ra, con cái Te-mác,54 con cái Nơ-xi-ác, con cái Kha-ti-pha.

55 Con cái những người nô lệ của vua Sa-lô-môn: con cái Xô-tai, con cái Ha Xô-phe-rét, con cái Pơ-ru-đa,56 con cái Gia-la, con cái Đác-côn, con cái Ghít-đên,57 con cái Sơ-phát-gia, con cái Khát-tin, con cái Pô-khe-rét Ha Xơ-va-gim, con cái A-mi.58 Tổng số những người phục vụ Đền Thờ và con cái những người nô lệ của vua Sa-lô-môn là ba trăm chín mươi hai.

59 Con cái những người trở về từ Ten Me-lác, Ten Khác-sa, Cơ-rúp, Át-đan, Im-me. Họ không thể dựa vào gia tộc và dòng giống của họ để cho biết có thuộc về Ít-ra-en hay không:60 con cái Đơ-la-gia, con cái Tô-vi-gia, con cái Nơ-cô-đa: sáu trăm năm mươi hai.61 Trong số con cái các tư tế, có: con cái ông Kho-va-gia, con cái ông Hắc-cốt, con cái ông Bác-di-lai là người đã lấy một trong các con gái ông Bác-di-lai, người Ga-la-át, nên đã mang tên ông ấy.62 Những người này đã tìm kiếm tên của họ trong cuốn gia phả, nhưng không thấy, nên đã bị loại ra khỏi hàng tư tế, vì bị coi là ô uế.63 Quan tổng đốc cấm họ không được ăn của thánh, cho đến khi có một tư tế đứng lên xem thẻ xăm u-rim và tum-mim.

64 Toàn thể cộng đồng là bốn mươi hai ngàn ba trăm sáu mươi người,65 không kể tôi trai tớ gái của họ lên tới bảy ngàn ba trăm ba mươi bảy người. Họ cũng có hai trăm nam nữ ca viên.66 Họ có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm mười lăm con la,67 bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà và sáu ngàn bảy trăm hai mươi con lừa.

68 Khi về đến Nhà ĐỨC CHÚA ở Giê-ru-sa-lem, một số người đứng đầu các gia tộc dâng cúng những lễ vật tự nguyện cho Nhà Thiên Chúa, để tái thiết Nhà đó ở chỗ cũ.69 Theo khả năng, họ đã dâng vào quỹ dùng cho công trình đó sáu mươi mốt ngàn quan tiền, hai ngàn năm trăm ký bạc và một trăm bộ phẩm phục tư tế.

70 Các tư tế, các thầy Lê-vi và một phần dân chúng ở tại Giê-ru-sa-lem; còn các ca viên, những người giữ cửa, những người phục vụ Đền Thờ thì ở trong các thành của họ; mọi người Ít-ra-en khác cũng ở trong các thành của họ.

CHƯƠNG 3

Tái lập việc phụng tự

1 Đến tháng thứ bảy, lúc con cái Ít-ra-en đang ở trong thành của họ, thì dân họp nhau tại Giê-ru-sa-lem, muôn người như một.2 Ông Giê-su-a con ông Giô-xa-đắc, cùng với các tư tế, anh em của ông, và ông Dơ-rúp-ba-ven, con ông San-ti-ên, cùng với anh em của ông đứng ra xây bàn thờ Thiên Chúa Ít-ra-en, để dâng trên đó các lễ toàn thiêu, như đã chép trong Luật của ông Mô-sê, người của Thiên Chúa.3 Họ dựng lại bàn thờ vào đúng vị trí, vì họ sợ các dân trong xứ. Trên đó, họ dâng lên ĐỨC CHÚA lễ toàn thiêu ban sáng và ban chiều.4 Như lời đã chép, họ cử hành lễ Lều, dâng lễ toàn thiêu ngày này qua ngày khác theo số đã quy định cho mỗi ngày.5 Sau đó, họ dâng lễ toàn thiêu thường tiến, lễ toàn thiêu vào các ngày sóc và mọi đại lễ kính ĐỨC CHÚA, và lễ toàn thiêu của tất cả những người dâng cúng ĐỨC CHÚA lễ vật tự nguyện.6 Từ mồng một tháng bảy, họ bắt đầu dâng lễ toàn thiêu kính ĐỨC CHÚA, mặc dầu chưa đặt nền móng cho Đền Thờ của ĐỨC CHÚA.

7 Họ cấp bạc cho thợ đá, thợ mộc, cấp thức ăn thức uống và dầu cho người Xi-đôn và Tia, để họ chở gỗ bá hương từ Li-băng, qua đường biển, về Gia-phô, theo phép Ky-rô, vua Ba-tư, đã ban.8 Vào năm thứ hai, sau khi họ về đến Nhà Thiên Chúa ở Giê-ru-sa-lem, trong tháng thứ hai, ông Dơ-rúp-ba-ven, con ông San-ti-ên, và ông Giê-su-a, con ông Giô-xa-đắc, cùng với các anh em còn lại, các tư tế, các thầy Lê-vi và tất cả những người lưu đày trở về Giê-ru-sa-lem, khởi công và giao phó cho các thầy Lê-vi từ hai mươi tuổi trở lên điều khiển công việc xây Nhà ĐỨC CHÚA.9 Ông Giê-su-a với con cái và anh em ông, ông Cát-mi-ên và con cái, con cái ông Hô-đáp-gia, con cái ông Khê-na-đát, con cái và anh em của họ, các thầy Lê-vi, cùng nhau điều khiển thợ làm việc tại Nhà Thiên Chúa.10 Khi thợ xây nhà đặt nền móng Đền Thờ của ĐỨC CHÚA, thì các tư tế, y phục chỉnh tề, tay cầm kèn, và các thầy Lê-vi, con cái ông A-xáp, tay cầm chũm choẹ, đứng ở đó mà ca tụng ĐỨC CHÚA, theo như vua Đa-vít, vua Ít-ra-en, đã quy định.11 Họ luân phiên xướng đáp mà ca tụng và cảm tạ ĐỨC CHÚA: “Vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương đối với Ít-ra-en! ” Toàn dân lớn tiếng reo hò ca tụng ĐỨC CHÚA, vì bấy giờ Nhà ĐỨC CHÚA đã có nền móng.12 Nhiều tư tế và thầy Lê-vi, nhiều người đứng đầu gia tộc nay lớn tuổi, là những người đã thấy Nhà Thiên Chúa trước kia, khóc to tiếng khi thấy người ta đặt nền móng Nhà mới này trước mắt họ; nhưng cũng có nhiều người khác cất tiếng reo hò vui sướng.13 Không ai có thể phân biệt được tiếng reo hò vui sướng với tiếng khóc của dân, vì dân lớn tiếng reo hò và tiếng họ vọng đi xa.

CHƯƠNG 4

Dưới thời vua Ky-rô, người Sa-ma-ri cản trở việc tái thiết.

1 Khi nghe tin là các người lưu đày trở về đang xây một Đền Thờ kính ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Ít-ra-en,2 thì những kẻ thù của Giu-đa và Ben-gia-min đến gặp ông Dơ-rúp-ba-ven, và những người đứng đầu các gia tộc, mà nói: “Chúng tôi muốn được cùng xây với các ông, bởi cũng như các ông, chúng tôi tìm kiếm Thiên Chúa của các ông, và dâng lễ tế kính Người, từ ngày Ê-xa-khát-đôn, vua Át-sua, đem chúng tôi lên đây.”3 Ông Dơ-rúp-ba-ven, ông Giê-su-a và những người khác, là những người đứng đầu các gia tộc Ít-ra-en, bảo họ: “Việc xây Nhà cho Thiên Chúa chúng tôi không phải là việc chung của các ông và chúng tôi, vì chỉ có chúng tôi sẽ xây cho ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Ít-ra-en, theo lệnh vua Ky-rô, vua Ba-tư, đã ban cho chúng tôi.”4 Khi đó, dân trong xứ bắt đầu làm cho dân Giu-đa bủn rủn tay chân và sợ hãi, để họ không xây cất nữa.5 Chúng mua chuộc các cố vấn, để làm hỏng ý định của dân Giu-đa trong suốt thời vua Ky-rô, vua Ba-tư, mãi cho đến triều vua Đa-ri-ô, vua Ba-tư.

Dưới thời vua Xéc-xét và vua Ác-tắc-sát-ta, người Sa-ma-ri cản trở việc tái thiết

6 Dưới triều vua Xéc-xét, vào thời đầu triều đó, chúng viết một bản cáo tội dân cư Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.

7 Vào thời vua Ác-tắc-sát-ta, Bít-lam, Mít-rơ-đát, Táp-ên, và các bạn đồng liêu khác đã viết cho vua Ác-tắc-sát-ta, vua Ba-tư. Bản văn ấy được viết bằng tiếng A-ram và được phiên dịch. Nguyên văn tiếng A-ram:8 Rơ-khum, thủ hiến, và Sim-sai, thư ký, gửi lên vua Ác-tắc-sát-ta một bức thư tố cáo Giê-ru-sa-lem, với những lời lẽ như sau:9 “Rơ-khum, thủ hiến, Sim-sai, thư ký, và các bạn đồng liêu khác, các thẩm phán và khâm sai, những người Tác-pơ-lai, E-réc, By-by-lon và Su-san, nghĩa là những người Ê-lam,10 và các dân tộc khác mà vua Át-náp-pa vĩ đại và lừng danh đã bắt đi đày và cho định cư tại các thành của Sa-ma-ri và các miền khác thuộc Vùng bên kia sông Êu-phơ-rát, đồng tấu:

11 (Đây là bản sao bức thư họ gửi: )

“Tâu vua Ác-tắc-sát-ta, bầy tôi của đức vua, những người ở Vùng bên kia sông Êu-phơ-rát xin thưa:

12 xin trình để đức vua tường: từ nơi đức vua, người Do-thái đã lên chỗ chúng tôi tại Giê-ru-sa-lem, và đang tái thiết cái thành phản loạn và xấu xa ấy; chúng dựng lại tường thành và đặt lại nền móng.13 Vậy xin trình để đức vua tường: nếu thành ấy được tái thiết, tường thành được dựng lại, thì chúng sẽ không nộp cống vật, thuế má, thuế thông quá; và như vậy, cuối cùng nhà vua sẽ phải thiệt thòi.14 Vậy, vì được hưởng lộc của triều đình, chúng tôi thấy không được phép ngồi nhìn đức vua bị nhục mạ; cho nên chúng tôi đệ lên đức vua bản tường trình này,15 để người ta tra cứu sách Sử Biên Niên của tổ tiên đức vua. Trong sách Sử Biên Niên đó, đức vua sẽ tìm ra và nhận thấy rằng thành ấy là một thành phản loạn, làm thiệt hại cho nhà vua và các tỉnh; ở đó, từ thời xa xưa chúng đã làm loạn. Vì thế thành ấy đã bị tàn phá.16 Chúng tôi xin trình để đức vua tường: nếu thành ấy được tái thiết, và tường thành được dựng lại, thì điều đó sẽ làm cho đức vua chẳng còn phần đất nào nữa trong Vùng bên kia sông Êu-phơ-rát.”

17 Vua gửi thư trả lời:

“Gửi lời vấn an quan thủ hiến Rơ-khum, thư ký Sim-sai và các đồng liêu cư ngụ ở Sa-ma-ri và ở các nơi khác trong Vùng bên kia sông Êu-phơ-rát!

18 bức thư mà các ngươi đệ lên ta, đã được dịch và đọc trước mặt ta.19 Theo lệnh ta, người ta đã tra cứu và tìm ra rằng từ thời xa xưa, thành ấy đã từng nổi dậy chống các vua, và những cuộc phản loạn, những cuộc nổi dậy đã từng diễn ra ở đó.20 Ở Giê-ru-sa-lem đã có những vua hùng mạnh làm bá chủ khắp Vùng bên kia sông Êu-phơ-rát. Người ta đã nộp cho họ cống vật, thuế má, thuế thông quá.21 Vì thế, các ngươi hãy ra lệnh cấm chúng không được tái thiết thành ấy, cho đến khi có lệnh ta ban.22 Các ngươi hãy coi chừng chớ trễ nải công việc này, kẻo gây nhiều thiệt hại cho nhà vua.”

23 Như thế, sau khi bản sao sắc chỉ của vua Ác-tắc-sát-ta được đọc trước mặt quan thủ hiến Rơ-khum, viên thư ký Sim-sai và các đồng liêu, thì những người này vội vàng đi Giê-ru-sa-lem gặp người Do-thái, và dùng võ lực mà ngăn cản họ.

Xây Đền Thờ (520-515)

24 Khi đó, công việc xây Nhà Thiên Chúa ở Giê-ru-sa-lem phải ngưng lại và ngưng lại mãi cho đến năm thứ hai triều vua Đa-ri-ô, vua Ba-tư.

CHƯƠNG 5 

1 Ngôn sứ Khác-gai và ngôn sứ Da-ca-ri-a, con ông Ít-đô, phát ngôn về người Do-thái ở Giu-đa và ở Giê-ru-sa-lem, nhân danh Thiên Chúa của Ít-ra-en, là Đấng ngự trên họ.2 Bấy giờ, ông Dơ-rúp-ba-ven, con ông San-ti-ên, và ông Giê-su-a, con ông Giô-xa-đắc, đứng ra khởi sự xây Nhà Thiên Chúa ở Giê-ru-sa-lem, và có các ngôn sứ của Thiên Chúa trợ giúp các ông.3 Vào chính thời ấy, ông Tát-nai, trưởng Vùng bên kia sông Êu-phơ-rát, ông Sơ-tha Bốt-nai và các đồng liêu đến gặp họ và nói với họ như sau: “Ai cho phép các ông tái thiết Nhà này, tu bổ ngôi nhà gỗ này? “4 Bấy giờ những người ấy còn hỏi họ: “Tên của những người xây ngôi nhà này là gì? ” Nhưng Thiên Chúa của người Do-thái để mắt nhìn đến các kỳ mục của họ, nên người ta đã không đình chỉ công việc của họ, cho đến khi một bản báo cáo được đệ lên vua Đa-ri-ô, và sau đó có sắc chỉ phúc đáp về vụ này.

6 Đây là bản sao bức thư của ông Tát-nai, trưởng Vùng bên kia sông Êu-phơ-rát, ông Sơ-tha Bốt-nai và các bạn đồng liêu, các khâm sai Vùng bên kia sông Êu-phơ-rát, đã đệ lên vua Đa-ri-ô.7 Họ đã đệ lên vua một bản tường trình viết như sau: Tâu vua Đa-ri-ô, kính chúc đức vua vạn an!8 Xin trình để đức vua tường: chúng tôi đã đi tới tỉnh Giu-đa, tới Nhà của Thiên Chúa cao cả. Nhà đó được xây bằng đá đẽo, có xà gỗ gác vào tường. Công trình ấy được thực hiện cách chu đáo và tiến triển tốt đẹp nhờ tay họ.9 Bấy giờ chúng tôi đã hỏi các kỳ mục đó, chúng tôi đã nói với họ thế này: “Ai cho phép các ông tái thiết Nhà này, tu bổ nhà gỗ này? Chúng tôi cũng hỏi tên của họ để đức vua tường, và đã ghi tên những người làm đầu họ.

11 Đây là câu họ trả lời chúng tôi: “Chúng tôi là những tôi trung của Thiên Chúa, Chúa trời đất. Chúng tôi tái thiết ngôi Nhà đã được xây dựng xưa kia, cách đây lâu lắm rồi, một đại vương của Ít-ra-en đã xây lên và đã hoàn thành.12 Nhưng vì cha ông chúng tôi làm cho Thiên Chúa, Chúa các tầng trời, phải nổi cơn thịnh nộ, nên Người đã trao họ vào tay vua Na-bu-cô-đô-nô-xo, người Can-đê, vua Ba-by-lon. Vua đã phá huỷ Nhà này và đày dân sang Ba-by-lon.13 Tuy thế, năm thứ nhất đời vua Ky-rô, vua Ba-by-lon, vua Ky-rô ra lệnh tái thiết Nhà này của Thiên Chúa.14 Và hơn nữa, vua Ky-rô lấy ra khỏi đền thờ Ba-by-lon những đồ vàng đồ bạc thuộc Nhà Thiên Chúa, mà vua Na-bu-cô-đô-nô-xo đã lấy ra khỏi Đền Thờ Giê-ru-sa-lem và đưa về đền thờ Ba-by-lon. Rồi vua Ky-rô trao những đồ vật ấy cho một người tên là Sết-bát-xa mà vua đã đặt làm tổng trấn.15 Vua nói với ông: “Ông hãy lấy những đồ vật ấy, mang đi và đặt lại ở Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Nhà Thiên Chúa phải được tái thiết ở chỗ cũ.16 Bấy giờ, ông Sết-bát-xa đến đặt nền Nhà Thiên Chúa ở Giê-ru-sa-lem. Từ đó đến nay, Nhà ấy vẫn được tái thiết, nhưng chưa hoàn thành.

17 Vậy bây giờ, nếu đức vua đồng ý, xin đức vua cho người tìm kiếm trong kho tàng của đức vua, ở bên đó, tại Ba-by-lon, để xem vua Ky-rô có thực sự ban lệnh tái thiết Nhà Thiên Chúa ở Giê-ru-sa-lem hay không? Xin đức vua gửi cho chúng tôi quyết định của ngài về vấn đề này.”

Ψ

⇒  Tải xuống toàn bộ 10 chương sách Ét-Ra

 Đọc tiếp...

 

Categories: Kinh Thánh