HÀNH TRÌNH CHUẨN BỊ HÔN NHÂN

 

ĐÍNH HÔN

Thư Chung gửi Cộng đồng Dân Chúa của Hội đồng Giám mục Việt Nam (ngày 7/10/2016) ấn định chủ đề mục vụ cho năm Phụng vụ 2016-2017 là: “Chuẩn bị cho người trẻ bước vào đời sống hôn nhân”. Giai đoạn chuẩn bị cho hôn nhân là thời kỳ “Đính hôn”; đó là giai đoạn các đối tượng trong hôn phối tìm hiểu nhau, đối thoại để san bằng cách biệt, tiến tới hòa đồng trong cảm thức và quyết định đính ước kết đôi; ngõ hầu hôn nhân được thành sự cách tốt đẹp. Xin cùng tìm hiểu ý nghĩa và những đặc điểm của thời kỳ “Đính hôn” trong hôn ước.

I. Khái niệm về Đính hôn:

Truyền thống cưới hỏi cổ thời của Việt Nam thường phải tiến hành theo 6 bước: *1- Lễ nạp thái; *2- Lễ vấn danh; *3- Lễ nạp cát; *4- Lễ nạp tệ (hay nạp trưng);  *5- Lễ thỉnh kỳ; *6- Lễ nghinh hôn (tức lễ rước dâu hay lễ cưới). Ngày nay, lễ nghi cưới hỏi đã được đơn giản đi rất nhiều, chỉ còn 3 lễ: *1- Lễ dạm ngõ; *2- Lễ đính hôn; *3- Lễ cưới (lễ nghinh hôn). Xin giới hạn theo chủ đề bài viết: Thủ tục Đính hôn.

Lễ đính hôn là một nghi thức trong phong tục hôn nhân truyền thống của xã hội loài người. Đây là giai đoạn quan trọng trong quan hệ hôn nhân: cô gái trở thành “vợ sắp cưới” của chàng trai, và chàng trai sau khi mang lễ vật đến nhà gái là đã chính thức xin được nhận làm rể của nhà gái. Theo từ nguyên, “Đính hôn” ( 訂 婚 ) có nghĩa: Định trước việc vợ chồng (Đính: Giao ước, ký kết. Hôn: cưới vợ, lấy chồng,). Lễ đính hôn giữ một vai trò rất quan trọng, đó là sự thông báo chính thức về việc hứa gả giữa hai họ. Trong lễ này, nhà trai đem lễ vật đến nhà gái, nhà gái nhận lễ (nghĩa là công nhận sự gả con gái của mình), cô gái xem như chính thức đã có nơi có chốn, sau lễ này trở thành “vợ sắp cưới” của chàng trai, và cả 2 bắt đầu tập gọi song thân của người yêu mình là bố mẹ và xưng con.

Với Ki-tô giáo thì “đính hôn” là thời gian chuẩn bị hôn phối, mà “Chuẩn bị hôn nhân là điều rất quan trọng để lời cam kết của đôi hôn phối trở thành một hành vi tự do và có trách nhiệm, cũng như hôn ước có được nền tảng tự nhiên và siêu nhiên, vững chắc và lâu dài.” (Giáo lý HTCG, số 1632); “Trong thời gian thử thách này, họ học biết tôn trọng lẫn nhau, tập chung thủy và hy vọng được đón nhận nhau như quà tặng của Thiên Chúa. Họ sẽ dành những hành động biểu lộ tình yêu vợ chồng cho nhau sau ngày thành hôn.” (Giáo lý HTCG, số 2350). Trong bài giáo lý về “Hôn nhân gia đình” (giảng ngày 27/5/2016 tại quảng trường thánh Phê-rô), ĐTC Phan-xi-cô đã giải thích rõ ràng về vấn đề này:

“Đính hôn – chúng ta nghe bằng từ ngữ – nó có liên hệ đến sự tín thác, tin tưởng, đáng tin cậy – sự tin thác trong ơn gọi mà Thiên Chúa trao ban, bởi vì hôn nhân trước hết là sự khám phá ra ơn gọi đến từ Thiên Chúa. Chắc chắn đó là một điều tốt lành mà ngày nay người trẻ có thể chọn để lập gia đình trên nền tảng tình yêu dành cho nhau. Tuy nhiên, sự tự do ràng buộc đòi hỏi một sự nhận thức hoà hợp về quyết định, không chỉ đơn thuần là hiểu về sự hấp dẫn của cảm xúc hay một khoảnh khắc, một thời gian vắn vỏi, thoáng chốc….nó đòi hỏi cả một cuộc đời. Nói cách khác, việc đính hôn là thời gian mà trong đó đôi bạn được mời gọi tích cực yêu thương, dự phần và chia sẻ để đi vào chiều sâu. Khi họ khám phá ra nhau, đó là người nam “học biết” về người nữ, người vợ sắp cưới; và người phụ nữ “học biết” người nam, vị hôn phu của mình.”

Vì tính cách quan trọng của thời kỳ đính hôn, nên xin dựa vào “Gợi ý Mục vụ 2017” của HĐGMVN để cùng học hỏi:

II. Đăc điểm của thời kỳ Đính hôn:

1- Đính hôn – thời gian của tăng trưởng: Tông huấn Gia Đình “Familiaris Consortio” (số 1) giải thích về giá trị của hôn nhân: “Vì biết rằng hôn nhân và gia đình là một trong những điều thiện hảo quý giá nhất của nhân loại, Giáo Hội muốn ngỏ lời và đem lại sự nâng đỡ cho những người đã biết được giá trị của hôn nhân cũng như gia đình và đang cố gắng sống trung thành với giá trị đó, cho những người đang sống trong ngập ngừng âu lo và đang đi tìm chân lý, cho những người đang bị ngăn cản cách bất công, không được tự do sống những dự phóng của gia đình họ. Trong khi đem lại sự nâng đỡ cho nhóm thứ nhất, ánh sáng cho nhóm thứ hai và sự trợ giúp cho nhóm người thứ ba, Hội Thánh muốn đem thân phục vụ mọi người đang bận tâm lo lắng cho số phận của hôn nhân và gia đình. Giáo Hội đặc biệt ngỏ lời với các bạn trẻ đang chuẩn bị dấn thân trên con đường hôn nhân và gia đình, ngõ hầu mở ra cho họ những chân trời mới bằng cách giúp họ khám phá ra vẻ đẹp và sự cao cả của ơn gọi sống tình yêu phục vụ cho sự sống.”

Cũng vì thế, nên cần có thời gian chuẩn bị chu đáo cho hôn nhân được diễn ra. Thời gian dành cho thời kỳ đính hôn (từ lễ đính hôn đến lễ cưới) là trong khoảng từ 6 tháng tới một năm (có thể kéo dài hơn nếu gặp những trở ngại bất khả kháng, chẳng hạn như bất ngờ cha hay mẹ đôi bên từ trần, phải “cư tang” – chịu tang, giữ tang – 3 năm). Thời gian đính hôn là một cơ hội thuận tiện, cho phép cả hai tìm hiểu lẫn nhau để xem tình yêu của mình có được đặt trên một nền tảng vững chắc hay không? Trong giai đoạn này, họ có thể có những tranh luận hoặc bất đồng ý kiến với nhau trong khi thảo luận hay nói chuyện (đối thoại). Họ có thể dò xét những sở thích của nhau, tìm hiểu những ưu khuyết điểm của nhau và giúp nhau vượt qua những tính hư nết xấu nếu có. Dần dà như thế, họ có thể hiểu rõ hơn về đối tượng của chính mình để có một cái nhìn trung thực và chuẩn xác hơn; với hy vọng sau này họ sẽ khắc phục được những khó khăn khi về chung sống với nhau trong tư cách là vợ chồng.

So với bậc cha mẹ thuở xưa, người trẻ hôm nay, có rất nhiều tự do trong việc chọn lựa cho mình một người bạn đời; nhưng điều ấy cũng kèm theo sự gia tăng về trách nhiệm cá nhân. Điều ấy, nhìn theo khía cạnh tích cực thì nó có thể diễn tả sự trưởng thành trong quyết định của chính họ. Tuy vậy, cũng gặp không ít những khó khăn khi phải đối diện và bị ảnh hưởng bởi những trào lưu tư tưởng hiện đại, coi nhẹ giá trị của đời sống gia đình và định chế hôn nhân. Có thể nói điểm then chốt cơ bản trong thời kỳ đính hôn là thời gian để cả hai bên tìm hiểu, xem xét lẫn nhau, đồng thời thể hiện sự trưởng thành trong nhận thức và nhất là trong đức tin khi tìm về ý nghĩa cao cả của “hôn nhân trong Chúa”; bởi “Đây là thời kỳ đôi bạn sống trong niềm hân hoan và với cả những khó khăn, để hiểu biết nhau sâu đậm hơn và với cả những hiểu lầm, khó hiểu về nhau. Nếu thời kỳ này được sống cách nghiêm túc và trưởng thành, đó sẽ là thời gian thuận lợi cho đôi bạn đối diện và đối thoại với nhau, cùng tiến tới trên hành trình tăng trưởng nhằm xây dựng quan hệ lứa đôi.” (Gợi ý Mục vụ 2017, số 1).

2- Đính hôn – thời gian của trách nhiệm: Mục đích của hôn nhân Ki-tô giáo là để cho hai người phối ngẫu giúp nhau trở thành những con người như Thiên Chúa đã tạo dựng và mong muốn. Thiên Chúa không những thiết lập bí tích Hôn Phối để hai người nam nữ yêu thương nhau, mà còn giúp nhau khám phá và sống bản sắc của họ trong Chúa Ki-tô. Ấy là chưa kể còn được vui hưởng một vinh dự là cộng tác với Thiên Chúa trong công trình sáng tạo của Người (“Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể  làm được nếu ta không cộng tác với Người.” – Thánh Au-gus-ti-nô).

Nói cách khác, hôn phối Ki-tô giáo là một cuộc sống chung, trong đó hai người phối ngẫu đón nhận, thực hiện ơn gọi và thể hiện trách nhiệm cộng tác vời Thiên Chúa  trong vấn đề truyền sinh (sinh đẻ và dạy dỗ con cái). “Do đó, việc thể hiện đích thực tình yêu vợ chồng cũng như toàn thể tổ chức đời sống gia đình phát sinh từ việc thể hiện ấy, đều nhằm giúp đôi vợ chồng can đảm sẵn sàng cộng tác với tình yêu của Đấng Tạo Hóa và Cứu Thế, mặc dù không loại bỏ các mục đích khác của hôn nhân. Nhờ đời sống lứa đôi, Người làm cho gia đình của Người ngày càng tiến triển và phong phú.” (Hiến chế về Mục vụ “Gaudium et Spes”, số 50).

Trong thư gởi cho giáo đoàn Rô-ma, thánh Phao-lô xác quyết: “Dù sống hay chết chúng ta đều thuộc về Chúa” (Rm 14, 8). Qua hôn phối, Chúa Ki-tô ủy thác cho người tín hữu một trách nhiệm cao cả là chuẩn bị cho người phối ngẫu của mình được sống mãi với Chúa và trong Chúa. Đây chính là ý nghĩa của lời khuyên dành cho hai người phối ngẫu trong ngày thành hôn. Mỗi người phải trở thành một Chúa Ki-tô cho nhau. Thật ra, thánh hóa là mục đích của mọi bí tích, cho nên khi lãnh nhận bí tích Hôn Phối, hai người phối ngẫu được trao phó cho trách nhiệm là thánh hóa lẫn nhau. Khi kết hôn đôi bạn đă được Chúa trao cho một trách nhiệm trọng đại là giúp cho người bạn đời của mình trở thành con người như được Chúa tạo dựng và mong muốn.

Giáo lý HTCG (số 1638) đã lý giải: “Do hôn phối hữu hiệu, giữa vợ chồng phát sinh một mối dây ràng buộc vĩnh viễn và độc nhất tự bản chất. Ngoài ra, trong hôn phối Ki-tô giáo, do một bí tích riêng biệt, vợ chồng được củng cố và như thế được thánh hiến nhằm tới thiên chức và những trách nhiệm của bậc sống” (x. CIC 1134).” Chính vì thế, nên “Thời đính hôn được xem như là thời gian của trách nhiệm. Thật vậy, trong viễn cảnh của ơn gọi, đây là thời gian thuận tiện để làm sáng tỏ hơn lần đầu tiên ơn gọi cá nhân đi đến kết hôn với người bạn của mình. Đây là một quyết định tạo khoảng không gian để kiểm nghiệm sau đó hướng tới lời ưng thuận dứt khoát mà hai người sẽ tuyên bố trong ngày cử hành hôn phối. Trách nhiệm của đôi bạn đính hôn được biểu lộ qua việc xây dựng mối quan hệ của họ ngày càng bền chặt, nhưng cũng đòi hỏi phải nuôi dưỡng và củng cố mối quan hệ thời kỳ này bằng một tình yêu thanh khiết.” (“Gợi ý Mục vụ 2017”, số 2).

3- Đính hôn – thời gian của ân sủng: Nói đến ân sủng của bí tích Hôn phối, Giáo lý HTCG (số 1641-1642) đã khẳng định: “Các đôi vợ chồng Ki-tô giáo được những ơn riêng cho bậc sống của mình trong Dân Chúa” (x. LG 11). Ân sủng đặc biệt của bí tích Hôn Phối kiện toàn tình yêu vợ chồng, củng cố sự hiệp nhất bất khả phân ly của họ. Nhờ ân sủng này, “họ giúp nhau nên thánh trong đời sống hôn nhân, trong việc đón nhận và giáo dục con cái” (x. LG 11; LG 41). Quả thật “Có đôi bạn nào đẹp bằng đôi bạn Ki-tô hữu, được kết hiệp do cùng một niềm hy vọng, cùng một ước nguyện, cùng một nề nếp, cùng một công việc phục vụ. Cả hai cùng là con một Cha, cùng phục vụ một Chúa; không gì phân rẽ họ nổi, trong tinh thần cũng như trong xác thịt; ngược lại, họ là hai trong cùng một xác thịt. Ở đâu có cùng một xác thịt, cũng có cùng một tinh thần.” (Tông huấn Gia Đình “Familiaris Consortio”, số 13).

Nhờ sức mạnh thiêng liêng của bí tích Hôn Phối, các đôi vợ chồng Ki-tô giáo biểu hiện và tham dự mầu nhiệm hiệp nhất và tình yêu phong phú trong hôn ước giữa Chúa Ki-tô và Giáo Hội (Ep 5, 32); họ giúp nhau nên thánh trong đời sống hôn nhân, trong việc đón nhận và giáo dục con cái; cũng từ đó, họ được những ơn riêng cho đấng bậc mình trong Dân Chúa. Sự kết hợp ấy phát sinh ra gia đình, nơi các công dân mới của xã hội loài người được sinh ra, và nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần trong bí tích Thánh Tẩy, họ trở nên con cái Thiên Chúa, hầu Dân Chúa tồn tại mãi trong dòng lịch sử. Điều đó cho thấy chính từ nguồn cội Giao ước Tình Yêu giữa Thiên Chúa và con người trong công trình sáng tạo, bí tích Hôn Phối là một ân sủng – một đặc ân độc nhất vô song – mà Thiên Chúa đã ban tặng cho nhân loại.

Tông huấn “Familiaris Consortio” (số 3) xác quyết: “Được Thiên Chúa thiết định ngay từ hồi sáng thế, hôn nhân và gia đình tự bản chất đã nhất thiết phải được hoàn tất trong Chúa Ki-tô và cần có ân sủng của Ngài để được chữa lành khỏi vết thương tội lỗi và được đưa về “tình trạng nguyên thuỷ”, nghĩa là nhận biết trọn vẹn và thực hiện đầy đủ ý định của Thiên Chúa. Trong một giai đoạn lịch sử mà gia đình đang bị nhiều sức ép tìm cách huỷ diệt hay ít ra là muốn làm méo mó nó, Hội Thánh – vì biết rằng lợi ích của xã hội và lợi ích riêng của mình đều được liên kết mật thiết với lợi ích của gia đình – nên đã ý thức một cách mạnh mẽ và bức thiết rằng, mình có sứ mạng công bố cho mọi người biết ý định Thiên Chúa về hôn nhân và gia đình, bằng cách bảo đảm cho hôn nhân và gia đình có được sức sống tràn đầy cũng như sự thăng tiến về phương diện nhân bản cũng như Ki-tô giáo, và như thế là góp phần vào việc canh tân xã hội và canh tân Dân Thiên Chúa.”

Bí tich Hôn Phối là một ân sủng, vậy thì thời gian chuẩn bị đón nhận bí tích ấy – thời kỳ đính hôn – cũng tất nhiên là một ân sủng. Thật vậy, thời đính hôn chính là thời gian để khám phá rồi sống những điều đã được thiết định ấy. Phải chân nhận đây là thời gian của ân sủng: một ơn huệ Thiên Chúa ban cho các người trẻ, nam cũng như nữ. Với ơn ấy, các bạn trẻ có khả năng làm triển nở tình yêu của họ đến mức trưởng thành, họ học tập nhìn và sống tình yêu ấy như một sự thông dự vào tình yêu của Đức Ki-tô bằng cách học hướng đến chính lý tưởng yêu thương: Thiên Chúa là Tình Yêu.

Cũng bởi vì “Nhờ đức tin soi sáng, một lần nữa Hội Thánh biết được tất cả sự thật về điều thiện hảo quý giá là hôn nhân và gia đình, và về ý nghĩa sâu xa nhất của các thực tại ấy. Hội Thánh còn thấy được tính cách khẩn thiết phải rao giảng Phúc Âm, tức là Tin Mừng, cho tất cả mọi người, nhưng cách riêng là cho những ai được mời gọi sống đời hôn nhân và đang chuẩn bị bước vào đời sống đó, cho mọi đôi vợ chồng và cho tất cả những bậc cha mẹ trên thế giới. Hội Thánh xác tín sâu xa rằng, chỉ khi nào biết tiếp nhận Tin Mừng, người ta mới có thể chắc chắn thực hiện được trọn vẹn tất cả những gì mà con người đang hy vọng cách chính đáng nơi hôn nhân và gia đình.” (“Gợi ý Mục vụ 2017”, số 3).

III. Kết luận:

Tóm lại, “Hôn nhân là một ơn gọi (x. 1Cr 7, 7.17), là tiếng Chúa kêu gọi mỗi người theo mỗi cách. Nó được ghi khắc trong ơn gọi bẩm sinh và nền tảng của mỗi người hướng đến tình yêu. Đó là ơn gọi bởi vì ở nguồn cội của nó là một hành động vĩnh cửu tiền định cho ta nên giống hình ảnh của Chúa Giêsu: Thiên Chúa đã yêu dấu và quý mến tưởng nghĩ đến chúng ta như là hình ảnh Con của Ngài theo ơn huệ và đặc sủng tiêu biểu của đời đôi bạn. Chúa Thánh Thần hoạt động trong mầu nhiệm ơn gọi hôn nhân này làm sao để hai người được nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô theo đặc sủng tình yêu phu thê. Tất cả những điều này được dần dần tỏ lộ ra trong thời gian, cách riêng trong thời kỳ đính hôn, chúng còn được hiểu và sống như là thời gian để chứng nghiệm ơn gọi này. Toàn bộ cuộc hành trình rồi sẽ đi tới lúc hai người tuyên bố long trọng và đóng dấu ấn dứt khoát trong cử hành bí tích hôn phối và đòi hỏi phải được sống trong cuộc sống hôn nhân và gia đình mỗi ngày.” (“Gợi ý mục vụ 2017”, số 2).

Theo viễn tượng ấy, thời kỳ đính hôn là thời gian của tăng trưởng trong đức tin, cầu nguyện, tham dự vào đời sống phụng vụ của Hội Thánh. Cổ nhân đã từng dạy: “Công dục thiện kỳ sự tất tiên lợi kỳ khí” (Người thợ muốn làm ra sản phẩm tốt thì trước hết phải có công cụ thật tốt). Theo nhận xét chung, có tính cách mục vụ, thì những người trẻ sắp sửa bước vào đời sống hôn nhân, nếu họ bằng lòng chịu khó chuẩn bị cho mình một cách tỉ mỉ bằng việc tham dự học hỏi cho đến nơi, đến chốn, các lớp dự bị về hôn nhân, thì họ sẽ có nhiều điều kiện và cơ hội hơn, để xây dựng mái ấm gia đình được bền lâu, và họ sẽ sống hạnh phúc với nhau bền lâu trong ân nghĩa Chúa.

Đối với cộng đoàn Hội Thánh địa phương (Giáo xứ, Giáo hạt, Giáo phận) phải có trách nhiệm tổ chức các khóa dự bị hôn nhân cho giới trẻ và nói chung cho những cặp phối ngẫu đang chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân. Đây là điều tối cần thiết cho tất cả những ai muốn bước vào đời sống gia đình, muốn xây dựng một cuộc hôn nhân hạnh phúc (“Phải biết giáo dục thanh thiếu niên hợp thời và hợp cách về phẩm giá, phận sự và hành vi thể hiện tình yêu vợ chồng, nhất là trong chính khung cảnh gia đình. Nhờ đó, một khi đã được rèn luyện để giữ đức khiết tịnh, đến tuổi thích hợp, họ có thể tiến tới hôn nhân sau khi sống đúng đắn giai đoạn đính hôn – x. GS 49, 3” – GL/HTCG, số 2350). Ước được như vậy. Amen.

JM. Lam Thy ĐVD.

 


Tình Yêu Gia Đình

Lễ Thánh Gia


Gia đình là tổ ấm yêu thương cho từng thành viên. Trước ngưỡng cửa của đời sống hôn nhân gia đình, ai cũng muốn cho mình có được một cuộc tình êm xuôi, một gia đình hạnh phúc, trên thuận dưới hoà, con cái hiếu thảo, vợ chồng yêu thương nhau. Hôn nhân gia đình là một quyết định và là bước ngoặt lớn trong cuộc sống con người, nên người ta đặt vào đó cả niềm hy vọng và sự mong đợi lớn lao.

Đời sống hôn nhân gia đình có một ơn gọi và sứ mạng cao quý trong Giáo hội và xã hội.

Chúa Giêsu đã sinh ra và lớn lên trong khung cảnh của một gia đình. Qua cuộc sống của Thánh Gia, “chúng ta hiểu cách sống trong gia đình. Nadarét nhắc chúng ta về ý nghĩa của gia đình, về sự hiệp thông tình yêu, vẻ đẹp đơn sơ và giản dị, tính thánh thiêng và bất khả xâm phạm của gia đình; Nadarét làm cho chúng ta thấy gia đình là một trường học ngọt ngào và không thể thay thế, dạy cho ta biết thế nào là chức năng tự nhiên của gia đình đối với trật tự xã hội” (ĐTC Phaolô VI, Diễn từ tại Nadarét)…Muốn có những con người tốt và những Kitô hữu thánh, gia đình phải tốt và thánh thiện; muốn đổi mới đất nước, xã hội và Hội Thánh, phải bắt đầu từ gia đình. “Gia đình là con đường của Hội Thánh” (Thánh Gioan Phaolô II, Thư gửi các gia đình, số 2).

Lễ Thánh Gia, Giáo hội mời gọi mỗi gia đình Công giáo hướng về gia đình Nadarét. Không phải lúc nào cũng màu hồng mà Tin Mừng cho thấy Thánh Gia đã trải qua những lận đận lao đao vất vả giữa bao hiểm nguy khó khăn thử thách trăm bề. Thánh Giuse khéo léo chống chèo vượt qua tất cả và cùng với Mẹ Maria – Chúa Giêsu xây dựng mái ấm hạnh phúc.

Thánh Gia là trường dạy cầu nguyện, dạy giáo lý, dạy lao động, dạy yêu thương đến hiến mình cho người khác, chuẩn bị cho Chúa Giêsu gánh vác sứ vụ Chúa Cha trao phó sau này.Chúa Giêsu đã vâng phục kỷ luật trường này, chấp nhận những vị thầy đầu tiên là cha mẹ và Người đã lớn lên chững chạc, trưởng thành, quân bình thể xác trí tuệ, tâm linh. Chúa đã sống học tập rèn luyện 30 năm để rao giảng 3 năm. Một năm Chúa Giêsu giảng đạo thì 10 năm Người ở với gia đình. Chúa ưu tiên và đề cao tầm quan trọng của gia đình biết bao.

  1. Mái ấm gia đình

Có nhà hoạ sĩ kia cứ mãi mơ ước trong đời mình sẽ vẽ được một bức tranh đẹp nhất thế giới. Nhưng anh ta không biết phải vẽ thứ gì để bức tranh sẽ có được hình ảnh, màu sắc, và nội dung sâu đậm đáng trở thành bức tranh tuyệt vời nhất trần gian.

Chàng đã tìm hỏi với một linh mục về điều gì đẹp và ý nghĩa nhất. Vị linh mục trả lời ngay: “Niềm tin. Niềm tin là số một, niềm tin sẽ nâng cao giá trị con người. Niềm tin sẽ chữa lành và biến đổi mọi sự nên tuyệt vời.”

Chàng hoạ sĩ cũng đặt câu hỏi tương tự với một cô gái đang bước lên xe hoa về nhà chồng. Cô gái trả lời: “Trên thế gian này không có gì đẹp bằng tình yêu. Tình yêu là hơi thở, là sức sống, là hạnh phúc, là tất cả. Tình yêu biến cay đắng thành ngọt ngào, đưa tiếng cười vào nơi than khóc, đổi nghèo hèn tầm thường thành phú quí cao sang. Tình yêu thật tuyệt vời.”

Cuối cùng người hoạ sĩ gặp một anh thương binh vừa trở về từ tiền phương. Anh lính đã trả lời: “Hoà bình là điều đẹp nhất trần gian. Ở đâu có chiến tranh, ở đó có đổ nát, bất hạnh, khổ đau. Ở đâu có hoà bình, ở đó có cái đẹp.”

Ba câu nói của ba con người – vị linh mục, cô gái sắp lấy chồng và anh thương binh trẻ – đã làm cho người hoạ sĩ phân vân: không biết phải làm thế nào để trên bức tranh của mình có thể diễn tả cùng một lúc niềm tin, tình yêu, và hoà bình.

Đang suy nghĩ anh về đến nhà lúc nào không hay. Mấy đứa con anh ùa ra đón bố. Anh nhận thấy niềm tin trong ánh mắt của các con. Anh cũng cảm được tình yêu trong chiếc hôn chân thành của người vợ. Niềm tin của con cái và tình yêu của người vợ làm cho tâm hồn anh ta ấm áp và an bình lạ thường. Thế rồi một ý tưởng chợt loé lên trong đầu. Anh vội ngồi xuống khởi công vẽ tranh, và sau khi hoàn thành tác phẩm đẹp nhất thế gian, anh đã đặt tên cho nó: “Mái Ấm Gia Đình”.

Mái ấm gia đình chính là hình ảnh xinh đẹp và sống động nhất mà người ta có thể vẽ được về Nước Trời hay Thiên đàng ngay trên thế gian này. Mái ấm gia đình cũng sẽ là lời chứng tá hùng hồn nhất cho sự hiện diện của Đức Giêsu giữa dương gian.

  1. Hạnh phúc gia đình

Theo Đức cha Bùi Tuần, có ba yếu tố làm nên hạnh phúc gia đình: Quy tụ gia đình; Lễ giáo gia đình và Tình nghĩa gia đình.

  • Quy tụ gia đình

Gia đình là nơi con người được “ở với nhau”. Các môn đệ đầu tiên không tìm đến với Chúa Giêsu như một vị thầy dạy học, nhưng như “Đấng ở với” (Ga 1,38). Chúa đã mời gọi các ông, trước tiên không phải là học một bài học, mà là xem chỗ Người ở và ở lại với Người (Ga 1,39). Cũng vậy các thành viên trong gia đình hiện diện cho nhau với toàn vẹn cái tôi của mình, được chấp nhận và chấp nhận người khác với toàn vẹn cái tôi ấy. Dưới ánh sáng đức tin Kitô giáo, gia đình là nơi chốn bình an cho tâm hồn mình; “Đấng Tạo Hoá đã đặt gia đình làm nguồn gốc và nền tảng cho xã hội con người nên gia đình trở thành ‘tế bào đầu tiên và sống động của xã hội’ (x.Tông huấn gia đình số 42).

Quy tụ là họp mặt, là gặp nhau, là nói chuyện với nhau, là gần gũi nhau, là chia sẻ với nhau. Quy tụ gia đình làm nên một bầu khí ấm áp thiêng liêng. Có thể nói, mọi quy tụ gia đình, dù thường ngày, dù bất thường, đều mang bầu khí đạo đức, có ánh sáng của đức tin và có hương thơm của đức ái.Quy tụ gia đình như thế sẽ có Chúa hiện diện. Nhờ có Chúa hiện diện, gia đình sẽ biết phân định điều gì là tốt cần làm, điều gì là xấu cần tránh, nhất là trong tình hình hiện nay tốt xấu lẫn lộn một cách quá phức tạp.

  • Lễ giáo gia đình

Lễ giáo là nghi lễ và giáo dục gia đình. Gia đình là một cộng đoàn, một đời sống chung của những con người. Họ có những dây liên đới với nhau. Nên cần phải có những hình thức thể hiện những dây liên đới đó. Do vậy, mà phải được giáo dục, để có được lối sống liên đới tốt đẹp, trong trật tự. Liên đới thấp nhất thuộc nhân bản của cộng đoàn là biết diễn tả sự gần gũi nhau và có trách nhiệm đối với nhau. Biết siêng năng và lương thiện làm hết sức mình, để góp phần vào việc xây dựng hạnh phúc chung gia đình, đó là nét đẹp căn bản của lễ giáo gia đình.Biết chào kính, chào thăm, chào hỏi, với nhiều bình thức, là một nghi lễ đơn sơ chứng tỏ con người có giáo dục gia đình. Biết cảm ơn, biết xin lỗi cũng là những điều lễ phép thô sơ của con người có giáo dục trong cộng đoàn. Biết kính trên nhường dưới cũng là một biểu hiện lễ phép của nền giáo dục liên đới. Biết sống chân thành và trung thành trong các liên đới gia đình cũng là một giá trị của con người có giáo dục gia đình.

“Các bạn trẻ hãy suy nghĩ kỹ càng và chọn người bạn đời dựa trên tiêu chuẩn tình yêu và các đức tính tốt. Tiền bạc, sắc dục và địa vị xã hội không làm nên hạnh phúc gia đình ; trái lại, nếu không biết sống theo các nguyên tắc đạo đức, rất nhiều khi chính những điều ấy lại trở thành nguy cơ phá hoại hạnh phúc. Cha mẹ hãy hướng dẫn cho con cái biết chọn lựa cho đúng đắn, và con cái cần lắng nghe kinh nghiệm khôn ngoan của cha mẹ. Tuy nhiên cha mẹ không có quyền ngăn cản hay ép buộc con cái theo ý mình. Tự do kết hôn là quyền cơ bản của con cái, và con cái phải chịu trách nhiệm về sự chọn lựa của mình”. (x.Thư Mục Vụ Giáng Sinh 2016, Đức Cha Giuse Nguyễn Năng)

  • Tình nghĩa gia đình

Tình nghĩa gia đình cần được vun trồng, cần được chăm sóc, cần được xây dựng với những tình tiết nhỏ. Người tình nghĩa đích thực là người biết xót thương như người Samari đó. Chúng ta chỉ có được một cách đích thực bằng tấm lòng bén nhạy và giàu tình xót thương với những tình tiết nhỏ, do trực giác đạo đức hơn là do lý luận.

  1. Tình yêu gia đình

“Hôn nhân gia đình vốn là hình ảnh tiêu biểu của tình yêu. Những áp lực của đời sống xã hội đang làm rúng động tận nền tảng của đời sống gia đình, làm biến dạng ý nghĩa chân thực của tình yêu. Không kể những đổ vỡ trong đời sống gia đình, trên thế giới ngày nay còn xuất hiện và đang lây lan những mẫu gia đình kỳ lạ, gia đình đồng tính, gia đình tạm thời, gia đình ba hoặc bốn vợ/chồng…Kitô giáo không chấp nhận những mẫu gia đình kỳ lạ ấy, không phải chỉ chúng khác lạ, nhưng vì chúng phá vỡ ý nghĩa đích thực của tình yêu”. (x. Gia đình kitô hữu trước những thách đố thời đại, Nội san chia sẻ số 76).

Ngày nay, trong xã hội tiêu thụ, vì bận rộn với công việc kiếm tiền, một số cha mẹ không gần gũi, không dành thời giờ cho con cái. Vì thế, chúng cảm thấy bị bỏ rơi, thiếu tình thương. Theo mức độ, con cái sẽ lâm bệnh chán nãn, buồn phiền, không thích học nữa, lỳ lợm, xấc láo, ích kỷ, vô cảm, đua đòi thiếu suy nghĩ.Một số phụ huynh chỉ mong con mình học giỏi, thành đạt, kiếm được nhiều tiền. Họ ít quan tâm đến đời sống đạo đức của con, không lo giáo dục đức tin cho con. Có cha mẹ quan niệm, lo cho con được Xưng Tội, Rước Lễ, Thêm Sức là đủ rồi; vì thế có những em sau khi Thêm Sức là bỏ nhà thờ. Sự đa dạng của vi tính và internet quá hấp dẫn lôi kéo con cái chúng ta ra khỏi thực tế và lao vào thế giới ảo, lối sống ảo. Lối sống hiện đại cũng dễ đánh mất bầu khí mái ấm. Mỗi người có một phòng riêng, một thế giới riêng nên mọi người ít quan tâm đến nhau, ít giúp đỡ nhau.

Các bậc phụ huynh xin hãy nhớ, sức mạnh của sự quy tụ các thành viên trong tình nghĩa và với lễ giáo gia phong sẽ làm thành mái ấm gia đình cao quý. Chính đức tin và tình yêu từ mái ấm sẽ làm trổ sinh hoa trái cho đời sống gia đình.Quả vậy, chính trong gia đình mà mỗi người lớn lên không những về thể lý, mà cả về tâm lý và đạo đức.

Gia đình là ngôi trường đầu tiên dạy những giá trị nhân bản. Chính từ trong gia đình mà mỗi người học được những thói quen và lối sống tốt để từ đó định hình tính tình của mình. Gia đình là nơi mỗi người tập sống mối liên hệ với người khác, tập lắng nghe và tôn trọng tha nhân, tập hy sinh quên mình để sống vì người khác, quảng đại và tha thứ. Nếu lớn lên từ trong môi trường như thế, khi bước vào đời sống xã hội, người trẻ sẽ sống vị tha, hòa hợp và bao dung nhân hậu, thay cho lối sống ích kỷ, hưởng thụ và tìm cách thống trị người khác. Từ trong gia đình, mỗi người tập sống theo lương tâm ngay thẳng, theo sự thật, công bằng, liêm khiết, tinh thần trách nhiệm, biết làm chủ bản thân và khôn ngoan chọn lựa để sống theo nguyên tắc đạo đức, chứ không gian dối lừa đảo, không nhắm mắt chạy theo đồng tiền và khoái lạc. Cũng từ trong gia đình, con cái được lớn lên trong đức tin qua sự dạy dỗ và đời sống chứng nhân của cha mẹ. Mọi người trong gia đình cùng cầu nguyện chung, cùng tìm thánh ý Chúa và nâng đỡ nhau trong những giờ phút quan trọng, đó chính là bài học đức tin sống động và hữu hiệu” (x.Thư Mục Vụ Giáng Sinh 2016, Đức Cha Giuse Nguyễn Năng).

Đức Thánh Cha Phanxicô nói : “Niềm vui của tình yêu trong đời sống của các gia đình cũng là niềm vui của Hội Thánh” (Tông huấn Niềm vui tình yêu, số 1).

Theo gương Thánh Gia, mỗi gia đình hãy nỗ lực thực thi lời mời gọi của HĐGMVN : “Ngày nay, dù phải đối diện với nhiều lo toan trong cuộc sống, xin anh chị em cố gắng duy trì và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Công Giáo”. Hạnh phúc gia đình khởi đi từ tình yêu, niềm tin và hoà bình. Gia đình sẽ là “vườn ươm” các nhân đức, là “nơi đào tạo” nhân bản và tâm linh cho con cái, để trở thành một Hội Thánh tại gia.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An


SỨ MỆNH CỦA GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO

 tintucaa0c380a218781f8aea853dad2db457fI/Thông truyền đức tin cho con cái

Tông Huấn Gia đình số 14 dạy: “Cha mẹ được mời gọi biến tình thương con cái thành dấu chỉ hữu hình cho chúng nhận ra được tình yêu của Thiên Chúa. Đó là nguồn gốc mọi tình phụ tử trên trời dưới đất (Ephêsô 3,15). Thiên chức làm cha mẹ nhắn nhủ những bậc phụ huynh có trách nhiệm thông truyền đức tin cho các thế hệ kế tiếp. Cha mẹ là những Giáo lý viên đầu tiên cho con cái. Hãy giới thiệu cho con cái biết Thiên Chúa ngay khi con còn bé bằng những lời cầu nguyện bập bẹ đơn sơ và cử chỉ đơn giản như làm dấu Thánh giá, chấp tay, cúi đầu, bằng những lời cầu nguyện ngắn gọn, những nội dung giáo lý căn bản, những câu chuyện Thánh Kinh. Nếu được cha mẹ ân cần chỉ bảo, sẽ tạo nơi con em một nền tảng giáo lý vững chắc và một đời sống thiêng liêng sâu đậm sau này. Trách nhiệm của cha mẹ không dừng lại ở đó, mà còn thể hiện qua việc hướng dẫn, nhắc nhở con em mình đi học giáo lý, tham gia hội đoàn đạo đức để được trưởng thành hơn trong đời sống đức tin.

Tình thương của cha mẹ dành cho con cái là dấu chỉ cho con cái nhận ra được tình yêu của Thiên Chúa dành cho mọi người. Cha mẹ là những người thể hiện tình yêu của Thiên Chúa. Có thể nói cha mẹ làm cho tình yêu của Thiên Chúa được “mạc khải” qua cuộc sống của mình.

Cha mẹ có trách nhiệm thông truyền đức tin cho con cái. Có nghĩa là gì? Là truyền thụ lại những điều mình tin và những điều mình cảm nghiệm về giá trị của đức tin trong đời sống cụ thể của mình. Như thế những người làm cha mẹ cần phải sống đức tin của mình một cách sâu đậm, mới có thể cảm nhận được giá trị của ơn Chúa trong cuộc đời của mình. Sống đức tin là sống theo sự hướng dẫn của đức tin. Có những điều được Chúa mời gọi có thể hiểu được một cách dễ dàng như được Chúa yêu mến, tin vào Chúa thì sẽ có được sự sống đời đời, nhưng có những điều cần phải đặt mình dưới sự hướng dẫn của Giáo hội, mới có thể hiểu được ý nghĩa sâu xa của nó. Đặc biệt là khi phải cọ xát với những lời mời gọi của Chúa và những lợi ích trước mắt như sự công bình, giá trị của tình yêu, hy sinh cho tha nhân.

Để có thể hiểu được điều Chúa muốn nơi con người, cần phải đặt mình trong toàn bộ chương trình cứu rỗi và tập sống trong cái nhìn yêu thương của Ngài. Đôi lúc cảm thấy lời mời gọi của Ngài khó thực hiện quá, nhưng khó chứ không phải là không có thể. Người ta chỉ có thể thực hiện được điều khó, khi biết rõ lý do của sự cố gắng này.

Một trong những điều mà những đôi vợ chồng trẻ Công giáo ngày nay phải đối mặt là làm sao có thể dung hòa giữa tình yêu vợ chồng và việc sinh sản con cái một cách có trách nhiệm. Nói đến tình yêu là nói đến một hành vi trao hiến hỗ tương một cách có trách nhiệm, chứ không phải đơn thuần chỉ là một đòi hỏi bản năng. Những cử chỉ âu yếm vợ chồng giúp cho đôi bạn hiểu nhau hơn, an ủi nhau nhiều hơn, nhờ thế mở ra sự hiệp thông giữa hai người, chứ không đóng kín trong sự thỏa mãn của mỗi người một cách ích kỷ.

II/Sứ mệnh tôn trọng và bảo vệ sự sống

Thánh Kinh nói với chúng ta: Thiên Chúa là Đấng hằng sống. Người chia sẻ và thông ban sự sống cho con người, vì con người được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa (St 1,27), Thiên Chúa chúc lành và nâng niu sự sống con người, ngay từ lúc vừa được hình thành trong lòng mẹ. Đến lượt mình, con người được cộng tác với Thiên Chúa để thông ban sự sống mình đã nhận. Mặc dầu, có khả năng thông truyền sự sống, nhưng con người không có quyền năng hủy hoại sự sống của mình. Đức chân phước Gioan Phaolô II đã viết: “Sự sống của con người là thánh thiêng, nó mang tính bất khả xâm phạm, được khắc ghi trong lòng người, trong lương tâm con người” (Thông điệp Tin Mừng sự sống, số 40). Vì sự sống là ân ban của Thiên Chúa, là vốn quý giá nhất của đời người, nên sự sống của con người phải được tôn trọng và bảo vệ một cách tuyệt đối. (Sách GLGHCG). Con người dù đẹp hay xấu, thông minh hay tối dạ, đều là người đã được Thiên Chúa dựng nên, yêu thương và cứu chuộc. Do đó, những can thiệp của khoa học nhằm lựa chọn giới tính, những hành vi phá thai, làm chết êm dịu… đều đi ngược với phẩm giá con người và chống lại Thiên Chúa. Những lớp giáo lý hôn nhân cần phải giúp các học viên hiểu rõ giáo huấn này. Các bậc làm cha mẹ cần phải hiểu biết để dạy con cái mình tôn trọng và bảo vệ sự sống.

III/Sứ mệnh truyền giáo của gia đình Công giáo

Chúa Giêsu trao cho Giáo hội sứ mệnh loan báo Tin Mừng, nên mỗi gia đình Công giáo phải là chứng nhân của Chúa Kitô, tỏa sáng Tin Mừng, ơn cứu chuộc, lòng yêu thương của Thiên Chúa giữa anh chị em đồng loại.

Muốn chu toàn sứ mệnh truyền giáo, các gia đình Công giáo phải làm gì?

1-.Phải sống đạo thật: Mỗi gia đình chúng ta phải là một tấm gương trong phản chiếu Tin Mừng của Chúa Kitô. Nếu làm được điều này, mỗi gia đình sẽ tạo được một sức hút lôi cuốn, có sức thuyết phục, có thể chinh phục được nhiều người khác để giới thiệu Thiên Chúa cho họ. Đưa Thiên Chúa đến gần họ và đưa họ đến gần Thiên Chúa.

2-.Phải sống cởi mở: Niềm nở đón tiếp mọi người với tình huynh đệ, đón nhận mọi người đến với mình và làm cho mọi người gặp được nơi mình một tình bạn chân thật, sẵn sàng phục vụ mọi người.

3-.Biết liên đới hòa mình với mọi người, sẵn sàng phục vụ mọi người, không loại trừ ai, theo gương Mẹ Maria, mau mắn lên đường giúp đỡ người chị họ trong lúc khó khăn.

4-.Kết nghĩa với một gia đình ngoài Công giáo: Kết thân với họ, hằng ngày cầu nguyện cho họ, năng thăm viếng họ, chia sẻ vui buồn với họ, thỉnh thoảng mời họ tham gia các việc từ thiện hay đi dự lễ Nhà thờ cầu nguyện với Đức Mẹ hay với Chúa.

LM GB. Võ Văn Ánh